|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 101/2025/DS-ST Ngày 26 tháng 11 năm 2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ngô Rạng Đông
- Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Cẩm Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Toản - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 617/2024/TLST- DS ngày 06 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2025/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP T5 (T6).
Trụ sở: Tòa nhà T6, số E, phố L, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.
Địa chỉ liên hệ: Lầu D, Tòa nhà C Hậu Giang, phường B, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Minh P – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thành T – Chức vụ: Phó phòng phụ trách – Phòng tổ chức XLN – Trung tâm xử lý nợ 2 – Khối xử lý nợ và thu hồi nợ T6 (Theo văn bản ủy quyền ngày 18/10/2023).
Ông Nguyễn Thành T ủy quyền lại cho: Ông Phạm Văn T1; ông Lê Nhất T2; ông Thạch Trung H; bà Lê Thị H1 và bà Trần Huyền T3 (Theo văn bản ủy quyền ngày 10/10/2024).
Cùng địa chỉ: Số H N, khu phố D D, đặc khu P, tỉnh An Giang (bà H1 có mặt tại phiên tòa).
- Bị đơn:
- Ông Lê Trần Như H2, sinh năm 1996; CCCD số: [...].
- Bà Trương Lý Phúc H3, sinh năm 1997; CCCD số: [...].
Cùng địa chỉ: Khu phố D A, đặc khu P, tỉnh An Giang (ông H2, bà H3 đều có đơn xin vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Minh T4, sinh năm 1981.
ĐKTT: Grunwalderstr 25 81547 Munchen.
Chỗ ở hiện nay: A B, phường F, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hang TMCP T5 do người đại diện ủy quyền là bà Lê Thị H1 trình bày:
Ngày 08/12/2021, Ngân hàng TMCP T5 (gọi tắt là T6) đã ký kết với ông Lê Trần Như H2 và bà Trương Lý Phúc H3 (gọi là khách hàng) đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 176/2021/HDTD/PQC/01, với nội dung:
- - Số tiền vay: 698.000.000 đồng.
- - Mục đích vay: Vay mua xe ô tô.
- - Thời hạn cho vay: 96 tháng.
- - Lãi suất: 12 tháng đầu tiên là 9%/năm; giai đoạn còn lại lãi suất thay đổi 3 tháng/lần và bằng lãi suất tiết kiệm 12 tháng của T6 tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3,5%/năm.
Quá trình thực hiện hợp đồng, khách hàng đã thanh toán tổng số tiền gốc là 167.229.160 đồng và lãi là 133.672.537 đồng. Từ kỳ trả nợ ngày 05/12/2023 đến nay, khách hàng đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với Ngân hàng tính đến thời điểm ngày 26/11/2025, số tiền còn nợ như sau:
- - Nợ gốc: 530.770.840 đồng.
- - Lãi trong hạn: 107.484.545 đồng.
- - Lãi quá hạn: 41.836.067 đồng.
Tổng nợ gốc và lãi phải trả là 680.091.452 đồng.
Biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng: Để bảo đảm cho khoản vay nêu trên, khách hàng đã thế chấp cho T6 tài sản bảo đảm theo đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 176/2021/HDTD/PQC/01 ngày 08/12/2021 đối với tài sản bảo đảm là: Xe ô tô nhãn hiệu VINFAST LUX A2.0, số khung PRXABI1RSFMV 005913, số máy 211480038VF20SRD, biển kiểm soát 68A-2013.40. Theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 68 005937, do Phòng C Công an tỉnh K cấp ngày 06/12/2021 cho ông Lê Trần Như H2.
Nay Ngân hàng yêu cầu:
- Buộc ông Lê Trần Như H2 và bà Trương Lý Phúc H3 thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng T5 tổng số tiền tạm tính đến ngày 26/11/2025 là 680.091.452 đồng (Trong đó: Nợ gốc 530.770.840 đồng; lãi trong hạn 107.484.545 đồng; lãi quá hạn 41.836.067 đồng).
- Buộc ông H2, bà H3 tiếp tục thanh toán nợ lãi, tiền phạt phát sinh theo lãi suất quá hạn, lãi suất chậm trả theo thỏa thuận tại đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 176/2021/HDTD/PQC/01 ngày 08/12/2021 phát sinh cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Việc thanh toán toàn bộ các khoản nợ nêu trên được thực hiện một lần ngay sau khi Bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Kể từ ngày bản án/quyết định có hiệu lực, ông H2, bà H3 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ trên và lãi suất phát sinh thì T6 có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền kê biên phát mãi tài sản bảo đảm của khoản vay trên để thu hồi nợ gồm: Xe ô tô nhãn hiệu VINFAST LUX A2.0 – BKS 68C – 213.40; Giấy CNĐK số 68 005937 do Phòng CSGT Công an tỉnh K cấp ngày 06/12/2021 cho ông Lê Trần Như H2.
- Trường hợp khoản tiền thu được từ việc bán/ xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ thì ông H2, bà H3 vẫn có nghĩa vụ trả nợ đối với khoản nợ còn lại tại T6.
- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Trần Như H2 trình bày:
Vào khoảng năm 2020-2021, tôi có đứng ra giúp anh Nguyễn Thanh L (HKTT ở khu phố D A, nhưng hiện nay đã bỏ đi không biết cụ thể ở đâu và tôi cũng không còn liên lạc được) để vay mua 01 chiếc xe ô tô tại Ngân hàng T6, anh L đóng được 02 năm thì không đóng nữa. Trước đó, anh L bắt tôi đi cầm chiếc xe đó với giá 200.000.000 đồng cho anh L1.
Giờ Ngân hàng kiện tôi thì tôi không có khả năng trả nợ. Tôi đề nghị mỗi tháng trả 2.000.000 đồng cho đến khi trả xong nợ
- Bị đơn bà Trương Lý Phúc H3: Không có ý kiến trình bày.
- Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Minh T4 trình bày:
Tôi không biết và cũng chưa bao giờ gặp mặt ông H2. Tôi không có cầm xe của ông H2. Nhưng hiện tại tôi đang giữ chiếc xe tô tô nhãn hiệu Vinfast, màu trắng, hiện tại biển số đã bị mất nên tôi không nhớ rõ là biển số bao nhiêu, tôi cũng không biết ai đứng tên xe này. Lý do tôi giữ xe này vì khoảng năm 2023, tôi có quen người tên Phạm Vương V, ở A, P. Ông L1 có mượn tôi số tiền 200.000.000 đồng, hứa sau 02 tuần sẽ trả, khi mượn tiền thì ông L1 chỉ nói mượn thôi chứ không có nói mục đích mượn cho ai, lúc đó chiếc xe này do ông L1 đang chạy. Tuy nhiên, quá thời hạn mà ông L1 không trả, tôi đòi nhiều lần thì ông L1 mới đem chiếc xe này đưa lại cho tôi giữ, chủ yếu để làm tin, khi nào ông L1 trả tiền thì tôi sẽ trả lại xe. Nhưng đến nay ông L1 không trả tiền nên chiếc xe hiện tại tôi vẫn đang giữ. Tôi không yêu cầu gì trong vụ án này.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện và chấp hành đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị căn cứ Điều 299, 317, 318, 319, khoản 7 Điều 323, 463, 466 và điểm b khoản a Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật Tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T5.
- - Buộc vợ chồng ông H2, bà H3 có nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP T5 tạm tính đến ngày 26/11/2025 là 680.091.452 đồng (trong đó: Nợ gốc 530.770.840 đồng; nợ lãi trong hạn 107.484.545 đòng; nợ lãi quá hạn 41.836.067 đồng) và số tiền lãi phát sinh tương ứng theo lãi suất quá hạn theo hợp đồng cho đến khi thanh toán xong nghĩa vụ.
- - Trường hợp nếu vợ chồng ông H2, bà H3 không trả được nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu VINFAST LUX A2.0, biển kiểm soát 68A – 231.40 do Công an tỉnh K cấp ngày 06/12/2021 cho ông Lê Trần Như H2 để Ngân hàng thu hồi các khoản nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền vay theo hợp đồng tín dụng nên quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn cư trú tại đặc khu P, tỉnh An Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 – An Giang.
[1.3] Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn ông H2, bà H3 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T4 đều có đơn xin vắng mặt. Căn cứ Điều 228 BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[2] Về nội dung vụ án:
Ngày 08/12/2021, Ngân hàng T6 có ký kết hợp đồng tín dụng và thế chấp xe ô tô số 176/2021/HDTD/PQC/01 với ông Lê Trần Như H2 và bà Trương Lý Phúc H3. Số tiền vay theo hợp đồng tín dụng là 698.000.000 đồng; mục đích vay để mua xe ô tô; thời hạn vay 96 tháng; lãi suất cho vay 12 tháng đầu là 9%/năm; giai đoạn còn lại lãi suất thay đổi 3 tháng/lần và bằng lãi suất tiết kiệm 12 tháng của T6 tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3,5%/năm. Mỗi kỳ trả gốc và lãi vào ngày 05 hàng tháng. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H2, bà H3 đã thanh toán được cho Ngân hàng số tiền gốc 167.229.160 đồng và tiền lãi 133.672.537 đồng.
Tài sản bảo đảm là xe ô tô nhãn hiệu VINFAST LUX A2.0, biển kiểm soát 68A – 231.40 do Công an tỉnh K cấp ngày 06/12/2021 cho ông Lê Trần Như H2.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H2, bà H3 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ kể từ kỳ thanh toán ngày 05/12/2023 cho đến nay. Do đó, Ngân hàng T6 khởi kiện yêu cầu buộc ông H2, bà H3 có nghĩa vụ thanh toán tiền vay còn nợ và lãi suất phát sinh cho đến khi thanh toán xong nợ. Trường hợp ông H2, bà H3 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Xét hợp đồng tín dụng số 176/2021/HDTD/PQC/01 ngày 08/12/2021 được ký kết giữa Ngân hàng T6 với ông Lê Trần Như H2, bà Trương Lý Phúc H3: Về hình thức được lập thành văn bản, có ký tên, đóng dấu và tuân thủ về mặt hình thức theo quy định tại Điều 119 BLDS năm 2015. Về nội dung: Hợp dồng được các bên thỏa thuận rõ số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất, phương thức trả nợ, trách nhiệm vi phạm hợp đồng cụ thể, rõ ràng theo quy định pháp luật. Việc thỏa thuận của các bên về lãi suất cho vay trong hạn, quá hạn, lãi phạt vi phạm là sự tự nguyện thỏa thuận của các bên và phù hợp với quy định tại Điều 117 BLDS năm 2015; Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng; Điều 7 và khoản 1, 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên hợp đồng phát sinh hiệu lực.
Trong quá trình vay, bên vay là ông H2, bà H3 đã trả được 167.229.160 đồng tiền gốc và 133.672.537 đồng tiền lãi. Kể từ kỳ thanh toán ngày 05/12/2023 đến nay, ông H2, bà H3 không thanh toán tiếp số tiền nợ đến hạn cho Ngân hàng nên ông H2, bà H3 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại Điều 6 của hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết. Mặc dù, Ngân hàng đã gửi các thông báo để thu hồi nợ trước hạn nhiều lần nhưng đến nay ông H2, bà H3 vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông H2, bà H3 thanh toán số tiền nợ tạm tính đến ngày 26/11/2025 là 680.091.452 đồng (trong đó nợ gốc 530.770.840 đồng; nợ lãi trong hạn 107.484.545 đồng; nợ lãi quá hạn 41.836.067 đồng) là có căn cứ chấp nhận.
[2.2] Đối với ý kiến của ông H2 yêu cầu được trả mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi trả hết nợ nhưng không được Ngân hàng đồng ý nên không có cơ sở chấp nhận.
[2.3] Xét hợp đồng thế chấp xe ô tô số 176/2021/HDTD/PQC/01 ngày 08/12/2021 giữa Ngân hàng T6 với ông H2, bà H3: Về hình thức được lập thành văn bản. Nội dung hợp đồng các bên thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện, tài sản thế chấp là của người thế chấp, các bên thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định tại các Điều 292, 293, 298, 317, 318 và 319 BLDS năm 2015 nên hợp đồng phát sinh hiệu lực. Do đó, trường hợp ông H2, bà H3 không trả được nợ cho Ngân hàng T6 thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có căn cứ chấp nhận.
[2.4] Đối với lời trình bày của ông H2 cho rằng đã cầm chiếc xe cho ông Phạm Vương L1, nhưng trên giấy tờ vẫn do ông H2 đứng tên. Tuy nhiên, tại biên bản lấy lời khai của ông L1 trình bày ông không có cầm chiếc xe ô tô của ông H2 mà có giới thiệt cho ông H2 cầm xe cho ông Trần Minh T4 (bút lục 144). Tại biên bản lấy lời khai ông T4 trình bày ông không biết và cũng không có cầm xe của ông H2, nhưng hiện tại ông đang giữ chiếc xe Vinfast, màu trắng, nhưng biển số đã mất nên ông không nhớ biển số bao nhiêu và cũng không biết ai đứng tên xe, ông T4 không có yêu cầu gì trong vụ án (bút lục 154). Như vậy, lời trình bày của các đương sự về việc cầm cố không thống nhất với nhau và cũng không có chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở xem xét.
Xét thấy, trên pháp lý và thực tế, ông H2 vẫn còn đứng tên chiếc xe là tài sản đang thế chấp của Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng yêu cầu pháp mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có cơ sở chấp nhận.
[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Về án phí:
Ngân hàng TMCP T5 khởi kiện được chấp nhận nên không phải chịu án phí, được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 13.867.594 đồng theo biên lai thu số 0006774, ngày 15/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – An Giang).
Ông Lê Trần Như H2 và bà Trương Lý Phúc H3 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải trả là 680.091.452 đồng = 20.000.000 đồng + (4% x 280.091.452 đồng) = 31.203.658 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 85, 147, 227, 266, 271, 273 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 117, 119, 292, 293, 298, 317, 318, 319, 320, 323, 357, 422, 466 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng; Điều 7, 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng T5 (T6) đối với bị đơn ông Lê Trần Như H2 và bà Trương Lý Phúc H3 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Buộc ông Lê Trần Như H2 và bà Trương Lý Phúc H3 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng T5 số tiền tạm tính đến ngày 26/11/2025 là 680.091.452 đồng (Sáu trăm tám mươi triệu không trăm chín mươi mốt nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng), (Trong đó: Nợ gốc 530.770.840 đồng; lãi trong hạn 107.484.545 đồng; lãi quá hạn 41.836.067 đồng) theo hợp đồng tín dụng số 176/2021/HDTD/PQC/01 ngày 08/12/2021.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ngày 26/11/2025, ông Lê Trần Như H2 và bà Trương Lý Phúc H3 còn phải trả lãi phát sinh trên nợ gốc theo mức lãi suất được quy định trong hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết cho đến khi ông H2, bà H3 thanh toán toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng T5.
Trường hợp ông Lê Trần Như H2 và bà Trương Lý Phúc H3 không trả nợ hoặc trả nợ không đủ thì Ngân hàng T5 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu VINFAST LUX A2.0, biển kiểm soát 68A – 231.40 do Công an tỉnh K cấp ngày 06/12/2021 cho ông Lê Trần Như H2.
Trường hợp khoản tiền thu được từ việc bán tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ thì ông H2, bà H3 vẫn có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ đối với khoản nợ còn lại cho Ngân hàng T5.
- Về án phí:
Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP T5 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 13.867.594 đồng (Mười ba triệu tám trăm sáu mươi bảy nghìn năm trăm chín mươi bốn đồng) theo biên lai thu số 0006774, ngày 15/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – An Giang).
Buộc ông Lê Trần Như H2 và bà Trương Lý Phúc H3 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 31.203.658 đồng (Ba mươi mốt triệu hai trăm lẻ ba nghìn sáu trăm năm mươi tám đồng).
- Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên toà thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Văn Bình |
Bản án số 101/2025/DS-ST ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 101/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HĐ tín dụng
