|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 101/2025/DS-PT Ngày: 10/02/2025 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Văn Uẩn.
Các Thẩm phán: 1. Bà Lê Thị Kim Nga;
2. Bà Huỳnh Thị Hồng Vân.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Chính Hào – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dung – Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 460/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 79/2024/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 536/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Văn N - Chủ hộ kinh doanh Lê Văn N.Địa chỉ: Ấp T, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy của nguyên đơn: Ông Lê Tuấn P, sinh ngày 10/06/1991. Địa chỉ: Ấp T, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
Bị đơn có yêu cầu phản tố: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1955.Địa chỉ: Ấp P, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hồ Pháp T, sinh năm: 1959. Địa chỉ: Ấp P, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
Người kháng cáo: Bị đơn, bà Nguyễn Thị M.
(Tất cả đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền, anh Lê Tuấn P trình bày:
2
Bà Nguyễn Thị M có mua vật tư nông nghiệp tại cửa hàng ông Lê Văn N nhiều lần, trong nhiều năm và có thiếu tiền vật tư nông nghiệp. Đến ngày 11/03/2018, ông Nguyễn V bà M có chốt sổ nợ, bà M có ký tên trong sổ với số tiền nợ là 69.028.000 đồng.
Sau khi chốt sổ thì ngày 11/03/2018 đến ngày 29/3/2018, bà M có mua tiếp vật tư nông nghiệp tại cửa hàng Nguyễn với số tiền 7.265.000 đồng và có trả được cho cửa hàng số tiền là 7.000.000 đồng, còn nợ lại 265.000 đồng.
Ngày 05/07/2018 – 01/08/2018 bà M có mua tiếp vật tư nông nghiệp tại cửa hàng L1 với số tiền 7.344.000 đồng, số tiền này còn nợ chưa trả.
Tổng cộng tiền nợ gốc 69.028.000 đồng + 265.000 đồng + 7.344.000 đồng = 76.637.000 đồng.
Yêu cầu tính lãi 69.028.000 đồng từ ngày 11/3/2018 đến ngày 03/8/2023, lãi 1.5%/tháng x 64.5 tháng thành tiền 66.784.000 đồng.
Yêu cầu tính lãi 265.000 đồng từ ngày 29/3/2018 cho đến ngày 03/8/2023 là 1.5% x 64 tháng thành tiền 254.000 đồng.
Yêu cầu tính lãi 7.344.000 đồng từ ngày 01/8/2018 đến ngày 03/8/2023 là 1.5% x 60 tháng thành tiền 6.609.000 đồng.
Tổng cộng lãi 03 phần là 73.647.000 đồng, tổng nợ gốc và lãi phải trả là 150.284.000 đồng.
* Bị đơn, bà Nguyễn Thị M, người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Hồ Pháp T trình bày:
Lời trình bày của ông P là người đại diện của ông Lê Văn N là không đúng, đề nghị ông P cung cấp bản gốc số mua bán để đối chiếu ngày tháng mua bán, số tiền mua bán, tiền lãi là bao nhiêu, tính từ ngày nào để làm căn cứ đối chiếu với bà Nguyễn Thị M và H kinh doanh Lê Văn N.
Ông Nguyễn Hồ Pháp T dẫn chứng một số trường hợp trong sổ mua bán ghi không đúng như (dựa vào cơ sở nào để ông Lê Văn Nguyễn T1 lãi):
- + Ngày 14 người bán có ghi ngày, nhưng không ghi tháng vào năm 2015 với số tiền là 510.000 đồng.
- + Ngày 16 tháng 01 người bán không ghi năm với số tiền 1.042.000 đồng.
- + Người bán không ghi ngày, tháng, năm số tiền là 3.780.000 đồng.
Trong sổ mua bán bà M còn giữ 12 chai Butin, 08 bịch thuốc rầy, 03 chai thuốc Tocbay người bán không ghi số tiền bao nhiêu để trừ lại cho bà M.
- + Ngày 28/11/2014, số tiền 381.000 đồng chưa trừ lại tiền cho bà M.
- + Ngày 12/12/2017, số tiền 2.180.000 đồng chưa trừ lại cho bà M.
Tổng cộng của hai khoản tiền này là 2.564.000 đồng.
Số tiền lãi:
- - Ngày 05/07/2013 là 5.522.000 đồng.
- - Ngày 11/03/2014, số tiền lãi là 1.154.000 đồng.
- - Ngày 07/5/2015, số tiền lãi là 4.574.000 đồng.
3
- - Ngày 05/07/2016, số tiền lãi là 1.247.000 đồng.
- - Ngày 28/8/2018, số tiền lãi là 2.200.000 đồng.
Tổng số lãi là 12.175.000 đồng. Bà M đề nghị tách số tiền lãi trên ra, không nhập vào số tiền gốc đã thiếu.
Bà M đã trả cho cửa hàng L1 những số tiền sau:
- + Ngày 10/10/2015, trả được 2.000.000 đồng.
- + Ngày 06/02/2015, trả 3.000.000 đồng;
- + Ngày 11/03/2014, trả 10.000.000 đồng.
- + Ngày 07/05/2015, trả 8.000.000 đồng.
- + Ngày 28/06/2016, trả 7.000.000 đồng.
- + Ngày 05/07/2017, trả 17.000.000 đồng.
- + Ngày 24/10/2018, trả 52.906.000 đồng.
Tổng số tiền đã trả 109.906.000 đồng.
Theo sổ mua bán bà M nợ số tiền gốc tại cửa hàng ông Nguyễn L 69.028.000 đồng trừ đi số thuốc gửi lại thì bà M còn nợ lại số tiền là 65.203.000 đồng. Như vậy, bà M đã trả cho ông Nguyễn S tiền 109.906.000 đồng, bà M đã trả thừa cho ông Nguyễn S tiền là 44.703.000 đồng.
Bà M không chấp nhận yêu cầu của ông N, yêu cầu bà M trả số nợ gốc và lãi là 150.284.000 đồng. Bà M yêu cầu ông Nguyễn T2 lại cho bà M số tiền bà M trả dư cho ông Nguyễn L 44.703.000 đồng. Yêu cầu ông Nguyễn Đ sổ gốc đối chiếu và tính toán lại nếu bà M còn thiếu thì sẽ đồng ý tiếp còn nếu dư thì đề nghị ông Nguyễn T2 lại cho bà M.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hồ Pháp T trình bày:
Việc mua bán phân thuốc giữa ông Lê Văn N với bà Nguyễn Thị M ông T không biết và không có liên quan trong việc mua bán này. Nên việc ông Nguyễn yêu C bà M và ông T liên đới trả số nợ gốc và lãi phải trả là 150.284.000 đồng thì ông T không đồng ý.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 79/2022/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh đã tuyên xử:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 357, 430, 440, 468 Bộ luật Dân sự 2015;
Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn N – Chủ hộ kinh doanh Lê Văn N; Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị M.
Buộc bà Nguyễn Thị M có trách nhiệm hoàn trả cho ông Lê Văn N – Chủ hộ kinh doanh Lê Văn N số tiền gốc và lãi là 113.430.261 đồng (Trong đó tiền nợ gốc là 69.028.000 đồng, tiền nợ lãi là 44.402.261 đồng).
4
2. Về nghĩa vụ chậm trả: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015
3. Bác một phần yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Văn N – Chủ hộ kinh doanh Lê Văn N với số tiền nợ gốc và lãi là 12.384.000 đồng.
4. Bác yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị M với số tiền là 44.703.000 đồng.
5. Đình chỉ yêu cầu của ông Lê Văn N đối với yêu cầu ông Nguyễn Hồ Pháp T liên đới cùng bà Nguyễn Thị M trả nợ.
6. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà Nguyễn Thị M được miễn án phí; ông Lê Văn N phải chịu 619.200 đồng tiền án phí được khấu trừ 3.830.400 đồng ông Lê Văn N được hoàn trả số tiền là 3.211.200 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0004410 ngày 24-10-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo; quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự.
Ngày 26/8/2024, bị đơn, bà Nguyễn Thị M kháng cáo không đồng ý quyết định bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu:
- Về thủ tục: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng tuân thủ đúng qui định về thủ tục tố tụng. Kháng cáo của bà Nguyễn Thị M trong hạn luật định, đúng thủ tục, Tòa án thụ lý giải quyết theo trình tự phúc thẩm là có căn cứ.
Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Ngày 11/03/2018, sau khi tính toán ông N và bà M xác định tính đến ngày 11/03/2018, bà M còn nợ ông Nguyễn N1 với số tiền là 69.028.000 đồng, bà M đã có ký tên xác định nợ, phía nguyên đơn cũng đã cung cấp cho Tòa án chứng từ này. Do đó, cấp sơ thẩm đã buộc bà M phải trả cho ông Nguyễn S tiền nợ gốc 69.028.000 đồng và tiền lãi chậm trả 44.402.261 đồng, tổng cộng 113.430.261 đồng là có cơ sở.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị M, áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị M được thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Bà Nguyễn Thị M có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Lê Văn N, người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn N là ông Lê Tuấn P, ông Hồ Pháp T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn N: Yêu cầu bà Nguyễn Thị M trả số tiền nợ vật tư nông nghiệp là:
5
[3.1] Gốc 69.028 đồng + 265.000 đồng + 7.344.000 đồng, thành tiền là 76.637.000 đồng.
[3.2] Yêu cầu tính lãi: 1. Số tiền: 69.028.000 đồng từ ngày 11/3/2018 đến ngày xét xử, lãi suất 0,83%; 2. Số tiền: 265.000 đồng từ ngày 29/3/2018 cho đến ngày xét xử, lãi suất 0,83%; 3. Số tiền: 7.344.000 đồng từ ngày 01/8/2018 đến ngày xét xử, lãi suất 0,83%.
[4] Cấp sơ thẩm xét xử, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện ông Lê Văn N đối với bà Nguyễn Thị M:
[4.1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn N – Chủ hộ kinh doanh Lê Văn N; Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị M.
[4.2] Buộc bà Nguyễn Thị M có trách nhiệm hoàn trả cho ông Lê Văn N – Chủ hộ kinh doanh Lê Văn N số tiền gốc và lãi là 113.430.261 đồng (trong đó tiền nợ gốc là 69.028.000 đồng, tiền nợ lãi là 44.402.261 đồng).
[4.3] Bác một phần yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Văn N – Chủ hộ kinh doanh Lê Văn N với số tiền nợ gốc và lãi là 12.384.000 đồng.
[4.4] Bác yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị M với số tiền là 44.703.000 đồng.
[4.5] Đình chỉ yêu cầu của ông Lê Văn N đối với yêu cầu ông Nguyễn Hồ Pháp T liên đới cùng bà Nguyễn Thị M trả nợ.
[5] Về yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị M:
[5.1] Yêu cầu cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn yêu C bà M trả số tiền còn thiếu là 150.284.000 đồng.
[5.2] Yêu cầu ông Nguyễn T2 lại cho bà M số tiền bà M trả dư cho ông Nguyễn L 44.703.000 đồng.
[6] Nguyên đơn trình bày, bà M trình bày đã mua vật tư nông nghiệp nhiều lần tại cửa hàng L2 nhiều năm và có thiếu tiền vật tư nông nghiệp từ năm 2015. Đến ngày 11/03/2018, bà M có chốt sổ nợ và có ký tên trong sổ nợ của ông Nguyễn V số tiền nợ là 69.028.000 đồng. Ngày 29/03/2018, bà M tiếp tục nợ 7.265.000 đồng, trả được 7.000.000 đồng, còn nợ lại 265.000 đồng; ngày 05/07/2018 đến ngày 01/08/2018, bà M thiếu tiếp số tiền là 7.344.000 đồng.
[7] Xét thấy, ngày 11/03/2018 ông Lê Văn N và bà Nguyễn Thị M tính toán xác định nợ. Sau khi tính toán hai bên xác định tính đến ngày 11/03/2018, bà M còn nợ ông Nguyễn N1 với số tiền là 69.028.000 đồng, bà M đã có ký tên xác định nợ, phía nguyên đơn cũng đã cung cấp cho Tòa án chứng từ này. Điều này cho thấy tại thời điểm ngày 11/03/2018 bà M còn nợ ông Lê Văn N số tiền là 69.028.000 đồng nên cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn N là có cơ sở.
[8] Theo trình bày của phía nguyên đơn, khi chốt sổ thì ngày 11/03/2018 đến ngày 29/3/2018, bà M có mua tiếp vật tư nông nghiệp tại cửa hàng ông Nguyễn V số tiền 7.265.000 đồng và có trả được cho cửa hàng số tiền là 7.000.000 đồng, còn nợ lại 265.000 đồng. Ngày 05/07/2018 đến ngày 01/08/2018, bà M có mua tiếp vật tư nông nghiệp tại cửa hàng ông Nguyễn V số tiền 7.344.000 đồng, số tiền này còn nợ chưa trả. Đối với hai phần nợ này phía nguyên đơn có cung cấp cho Tòa án bản chiết tính ghi nợ nhưng không có chữ ký xác nhận của bà M. Ông Nguyễn Hồ Pháp T là người
6
đại diện ủy quyền của bà M tại cấp sơ thẩm không chấp nhận. Phía nguyên đơn cũng không có chứng cứ gì chứng minh lời trình bày của mình là có căn cứ. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở.
[9] Đối với yêu cầu tính lãi hai phần nợ cụ thể: Yêu cầu tính lãi 265.000 đồng từ ngày 29/3/2018 cho đến ngày ngày xét xử 26/08/2024, lãi suất 0,83%, lãi là 169.215 đồng; Yêu cầu tính lãi 7.344.000 đồng từ ngày 01/8/2018 đến ngày xét xử 26/08/2024, lãi suất 0,83%, lãi là 4.439.570 đồng. Tổng cộng hai phần lãi là 4.605.785 đồng. Do hai phần nợ này không có căn cứ để chấp nhận, nên nguyên đơn yêu cầu tính lãi của hai phần nợ trên cũng không được chấp nhận. Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn trên phần nợ gốc là 7.609.000 đồng và phần nợ lãi là 4.775.000 đồng. Tổng cộng hai khoản nợ gốc và lãi là 12.384.000 đồng là có căn cứ.
[10] Phía nguyên đơn yêu cầu tính lãi 0,83% với số tiền là 69.028.000 đồng từ ngày 11/03/2018 đến ngày 26/8/2024 là 44.402.261 đồng, cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp.
[11] Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn, bà M không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu ông Nguyễn thanh T3 lại số tiền là 44.703.000 đồng bà đã trả dư. Bà M có cung cấp các chứng từ mua thuốc trừ sâu, phân bón. Phía nguyên đơn không chấp nhận. Xét thấy, trong các chứng từ bà M cung cấp nhận thấy có sự sửa chữa ngày tháng năm, số tiền trả và thời gian trả. Do đó, cấp sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà M buộc ông Nguyễn C1 trách nhiệm hoàn trả lại cho bà M số tiền trả dư 44.703.000 đồng là có cơ sở.
[12] Đối với yêu cầu ông Nguyễn yêu C ông Nguyễn Hồ Pháp T liên đới cùng với bà M hoàn trả tiền cho ông N, tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút lại yêu cầu này nên căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đình chỉ yêu cầu này của nguyên đơn là đúng.
[13] Bà M kháng cáo nhưng không có chứng cứ chứng minh, nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà M, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[14] Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
[15] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại các Điều 147, 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị M.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 79/2022/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An.
7
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Các Điều 357, 430, 440, 468 Bộ luật Dân sự 2015;
Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn N – Chủ hộ kinh doanh Lê Văn N; Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị M.
Buộc bà Nguyễn Thị M có trách nhiệm hoàn trả cho ông Lê Văn N – Chủ hộ kinh doanh Lê Văn N số tiền gốc và lãi là 113.430.261 đồng (Trong đó tiền nợ gốc là 69.028.000 đồng, tiền nợ lãi là 44.402.261 đồng).
2. Về nghĩa vụ chậm trả: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
3. Bác một phần yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Văn N – Chủ hộ kinh doanh Lê Văn N với số tiền nợ gốc và lãi là 12.384.000 đồng (mười hai triệu ba trăm tám mươi bốn nghìn đồng).
4. Bác yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị M với số tiền là 44.703.000 đồng (bốn mươi bốn triệu bảy trăm lẽ ba nghìn đồng)
5. Đình chỉ yêu cầu của ông Lê Văn N đối với yêu cầu ông Nguyễn Hồ Pháp T liên đới cùng bà Nguyễn Thị M trả nợ.
6. Về án phí:
6.1. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà Nguyễn Thị M được miễn án phí; ông Lê Văn N phải chịu 619.200 đồng (sáu trăm mười chín nghìn hai trăm đồng đồng) tiền án phí được khấu trừ 3.830.400 đồng (ba triệu tám trăm ba mươi nghìn bốn trăm đồng) ông Lê Văn N được hoàn trả số tiền là 3.211.200 đồng (ba triệu hai trăm mười một nghìn hai trăm đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0004410 ngày 24/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh.
6.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị M được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
8
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Văn Uẩn |
Bản án số 101/2025/DS-PT ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Số bản án: 101/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn N "Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản" Nguyễn Thị M
