TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 101/2025/DS-PT Ngày: 12/3/2025 “V/v Tranh chấp di sản thừa kế” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Hải
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan
Ông Nguyễn Quyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 11 và 12/3/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 573/2024/TLPT-DS ngày 30/12/2024 về việc: “Tranh chấp di sản thừa kế”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 251/2024/DS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 87/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Bùi Quang T, sinh năm 1966 (chết năm 2015).
Địa chỉ: Số H, đường L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Bùi Quang T:
- Bà Lư Ngọc M, sinh năm 1972.(có mặt)
- Bà Bùi Minh T1, sinh năm 1995.(có mặt)
- Ông Bùi Quang Đ, sinh năm 1997.(có mặt)
Cùng địa chỉ: Số H, đường L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn:
- Bà Bùi Thị L, sinh năm 1943.(có mặt)
Địa chỉ: Số B, khu V, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: Số E, đường số E, khu dân cư E, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: Số H, đường L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Đại diện theo ủy quyền của ông H, bà P: Ông Bùi Thiện C, sinh năm 1959 (Theo các văn bản ủy quyền ngày 16, 19/8/2024).
Địa chỉ: Số I, đường M, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.(có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Tôn Hồng T2, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Số B, đường số G, ấp L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang.
- Ông Tôn Hồng V, sinh năm 1967.
- Ông Tôn Hồng B, sinh năm 1969.
- Ông Tôn Thanh T3, sinh năm 1972.
Cùng địa chỉ: Số B, khu V, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ.
Ông T2, ông V, ông B, ông T3 ủy quyền cho bà T4 (Theo văn bản ủy quyền ngày 15/5/2017).
- Bà Tôn Ngọc Phương T4, sinh năm 1973.(có mặt)
Địa chỉ: Số A, khu V, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ
- Bà Tôn Thanh T5, sinh năm 1976.(có mặt)
Địa chỉ: Số I, khu V, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1964.
Địa chỉ: Số D, khu V, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.
Đại diện theo ủy quyền của ông C1: Bà Trần Thúy P1, sinh năm 1957.
Địa chỉ: Số I, đường L, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ (Theo văn bản ủy quyền ngày 23/8/2024).(có mặt)
Người kháng cáo: Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Bùi Quang T: Bà Lư Ngọc M, chị Bùi Minh T1, anh Bùi Quang Đ. Bị đơn bà Bùi Thị L, ông Bùi Thiện C, bà Bùi Kim P, ông Bùi Văn H.
NỘI DUNG VỤ KIỆN
* Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Bùi Quang T trình bày: Ông Bùi Quang T, sinh năm 1966 (chết năm 2015) có cha mẹ là cụ Bùi Văn H1, sinh năm 1919 (chết năm 1998) và cụ Trần Thị Đ1, sinh năm 1923 (chết năm 2011), trước khi chết cụ H1, cụ Đ1 không để lại di chúc. Cụ H1, cụ Đ1 có 06 người con chung gồm: bà Bùi Thị L, ông Bùi Văn H, ông Bùi Văn D, bà Bùi Kim P, ông Bùi Thiện C, ông Bùi Quang T.
Trong quá trình chung sống hai cụ có tạo lập được khối tài sản chung gồm:
- 01 căn nhà tọa lạc tại số H, đường L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
- 01 căn nhà tọa lạc tại số B, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cần Thơ (nay là khu V, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ) và quyền sử dụng đất với tổng diện tích 27.207m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000092.QSDĐ/UBH do Ủy ban nhân dân huyện C (cũ) nay là Ủy ban nhân dân quận C cấp ngày 20/9/1993 cho cụ Bùi Văn H1.
Ngày 28/11/2000, tại Ủy ban nhân dân phường A cụ Trần Thị Đ1 và 05 người con gồm: bà Bùi Thị Lông Bùi Văn Hbà Bùi Kim Pông Bùi Thiện Công Bùi Quang Tạo lập Giấy đồng ý phân chia tài sản thừa kế với nội dung như sau:
- Nhà và đất tọa lạc tại số H, đường L phân chia cho 05 người gồm: Bà Bùi Thị L, ông Bùi Văn H, bà Bùi Kim P, ông Bùi Thiện C, ông Bùi Quang T.
- Đối với quyền sử dụng đất diện tích 27.207m² thỏa thuận phân chia cho 05 người con gồm:
Bà Bùi Thị L được quản lý 01 căn nhà lợp ngói và diện tích 8.127m² thuộc các thửa 761, 760, 759, 750 (không được chuyển nhượng nhưng bà L đã chuyển cho các con của bà đứng tên sử dụng) và một phần thửa 1089 với diện tích 4.770m². Ông Bùi Văn H được hưởng một phần thửa 1089 với diện tích 4.770m². Bà Bùi Kim P được hưởng một phần thửa 1089 với diện tích 4.770m². Ông Bùi Thiện C được hưởng một phần thửa 759 với diện tích 1.700m². Ông Bùi Quang T được hưởng một phần thửa 1089 với diện tích 4.770m².
Theo Giấy đồng ý phân chia di sản thừa kế ngày 28/11/2000, xác định cụ H1 và cụ Đ1 và 05 người con (Lưỡng, H, P, C, T) thuộc hàng thừa kế là chưa phù hợp. Bởi, cụ H1 và cụ Đ1 còn có 01 người con chung tên Bùi Văn D (hiện đang định cư tại Thụy Sĩ) nhưng không có ý kiến của ông D đối với việc phân chia di sản thừa kế. Ngoài ra, đối với phần nhà đất là di sản thờ cúng do bà Bùi Thị L quản lý nhưng đã chuyển nhượng cho các con của bà L là chưa phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, ông Bùi Quang T yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề như sau:
- Phân chia di sản thừa kế theo pháp luật của cụ H1, cụ Đ1 để lại là quyền sử dụng 27.207m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho 06 người con chung gồm: Bà Bùi Thị Lông Bùi Văn Hông Bùi Văn Dbà Bùi Kim Pông Bùi Thiện Công Bùi Quang T. Giao cho ông Bùi Quang T đủ diện tích 4.770m² thuộc thửa 1089 theo Giấy đồng ý phân chia di sản thừa kế ngày 28/11/2000.
- Phân chia tài sản chung và di sản thừa kế theo pháp luật đối với nhà đất tọa lạc tại địa chỉ số H, đường L cho 06 người con chung.
- Hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp chưa đúng pháp luật, mà bà Bùi Thị L đã sử dụng đất là di sản thờ cúng gồm: 01 căn nhà lợp ngói và diện tích 8.127m² thuộc các thửa 761, 760, 759, 750 toạ lạc tại số B, khu V, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ để chuyển nhượng cho các con của bà L và phân chia di sản thừa kế theo pháp luật cho 06 người con chung của hai cụ.
* Bị đơn ông Bùi Thiện C trình bày: Cụ H1, cụ Đ1 có 06 người con chung gồm: bà Bùi Thị Lông Bùi Văn Hông Bùi Văn Dbà Bùi Kim Pông Bùi Thiện Công Bùi Quang T. Ngày 29/4/1998, cụ chết không để lại di chúc. Khi còn sống cụ H1 đã có ý định phân chia nhưng sau khi cụ mất không chia được, đến Tết năm 2000 khi ông Bùi Văn D về Việt Nam có ý kiến về việc phân chia tài sản (đất, nhà) theo di nguyện của cụ H1. Ngoài ra, ông D có yêu cầu để lại phần thừa kế của mình cho mẹ ruột và 05 anh chị em ở Việt Nam, mọi thủ tục giấy tờ không để tên ông vào.
Ngày 28/11/2000, cụ Đ1 với 05 người con gồm: Bà Bùi Thị L, ông Bùi Văn H, bà Bùi Kim P, ông Bùi Thiện C, ông Bùi Quang T đến Ủy ban nhân dân phường A làm Giấy đồng ý phân chia tài sản thừa kế (của ông Bùi Văn H1), mỗi người con được 1/5 tổng giá trị tài sản của ông H1. Đối với tài sản phần của cụ Đ1, bà quyết định chia cho bà L, ông H, bà Phước, ông C, ông T. Theo đó, tài sản của hai cụ được chia cụ thể như sau:
- Bà Bùi Thị L: 01 căn hộ nhà gạch lợp ngói, tọa lạc tại số B, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cần Thơ (cũ) nay là số B, khu V, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ. Đất hương hỏa gồm: Thửa 761 diện tích 60m²; Thửa 760 diện tích 3.522m²; Thửa 759 diện tích 5.908m² – 1.700m² = 4.208m²; Thửa 750 diện tích 337m². Tổng diện tích 8.127m² (không được quyền chuyển nhượng, sang bán, nếu có yêu cầu khác phải bàn bạc và thống nhất tất cả anh em). Ngoài ra, bà Bùi Thị L còn được chia thêm phần như các anh chị em khác là: 1/5 nhà đất tọa lạc tại số H, đường L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ và đất canh tác thửa 1089 với diện tích 4.770m².
- Ông Bùi Văn H: 1/5 nhà đất tọa lạc tại số H, đường L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ và đất canh tác thửa 1089 với diện tích 4.770m².
- Bà Bùi Kim P: 1/5 nhà đất tọa lạc tại số H, đường L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ và đất canh tác thửa 1089 với diện tích 4.770m².
- Ông Bùi Thiện C: 1/5 nhà đất tọa lạc tại số H, đường L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ và đất canh tác thửa 759 với diện tích 1.700m².
- Ông Bùi Quang T: 1/5 nhà đất tọa lạc tại số H, đường L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ và đất canh tác thửa 1089 với diện tích 4.770m².
Căn cứ vào tờ giấy phân chia việc làm thủ tục sẽ kéo dài thời gian và khó khăn nên ngày 03/3/2004, cụ Đ1 cùng với bà Bùi Thị L, ông Bùi Văn H, ông Bùi Quang T, bà Bùi Kim P, ông Bùi Thiện C đến khu vực 2 và Ủy ban nhân dân phường B lập Biên bản họp gia đình. Theo đó, 05 người con nêu trên đồng ý không nhận diện tích 27.207m² đất mà giao lại toàn bộ cho cụ Đ1. Đồng thời ngày 03/3/3004, cụ Đ1 làm đơn xin thừa kế quyền sử dụng đất.
Ngày 04/03/2004, Phòng Quản lý đô thị quận C đã chuyển toàn bộ 27.207m² từ cụ H1 qua cho cụ Đ1. Trong thời gian này, Ủy ban nhân dân quận C thu hồi đất để cấp cho T6 lái T diện tích khoảng 7.600m² nên hiện còn lại tại thửa số 1089 là 11.480m².
Sau khi được sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ Đ1 đã thực hiện thủ tục tặng cho bà Bùi Thị L diện tích đất 10.950,3m², bà Bùi Kim P diện tích 2.870m², ông Bùi Văn H diện tích 2.870m² và ông Bùi Quang T diện tích đất 2.870m².
Bà L được chia nhiều là theo ý nguyện của cụ H1, vì cụ cho rằng bà L là người quản lý, giữ gìn đất, nhà, làm lụng vất vả để lo các em học hành. Đồng thời, việc phân chia đã ổn định cho từng người, từng gia đình. Mặt khác, ông Bùi Văn D có ý kiến ngay từ ban đầu và khẳng định việc phân chia ông đã biết, không khiếu nại, không yêu cầu phân chia phần nào từ di sản thừa kế của hai cụ để lại. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Quang T thì ông không đồng ý.
* Bị đơn bà Bùi Thị L trình bày: Khi cụ H1 chết thì tất cả các con đều thống nhất từ chối nhận di sản thừa kế để cho mẹ ruột là cụ Đ1 đứng tên toàn bộ quyền sử dụng đất của cụ H1 để lại, trong đó có ông Bùi Quang T cũng từ chối nhận di sản thừa kế. Việc cụ Đ1 tặng cho các con phần diện tích đất nhiều hay ít là quyền của cụ. Vì vậy, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Người có quyền và nghĩa vụ liên quan ông Tôn Hồng B, bà Tôn Ngọc Phương T4, bà Tôn Thanh T5 trình bày: Thống nhất với trình bày của bà Bùi Thị L, khi cha mẹ tặng cho các ông bà quyền sử dụng đất là đã có sự đồng ý của bà ngoại là cụ Đ1 cũng như các thành viên khác trong gia đình (các em của mẹ). Sau khi được tặng cho các ông bà đã tiến hành tu bổ, san lấp mới được phần đất như hiện tại. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, các ông bà không đồng ý.
* Người có quyền và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C1 trình bày: Ông là con ruột của cụ Bùi Văn H1, sinh năm 1919 (chết năm 1998) và bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1924 (chết năm 2013). Theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số: 01/2022/QÐST-HNGĐ ngày 26/01/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đã xác nhận ông là con đẻ của cụ Bùi Văn H1. Sau đó, ông đã thực hiện thủ tục đăng ký bổ sung hộ tịch theo quy định của pháp luật, được Ủy ban nhân dân phường H, quận N, thành phố Cần Thơ bổ sung thông tin họ tên cha Bùi Văn H1 vào giấy khai sinh ngày 08/02/2022.
Vì vậy, ông có đơn yêu cầu độc lập phân chia di sản thừa kế của cụ Bùi Văn H1 theo pháp luật đối với các tài sản gồm:
- Nhà và đất tọa lạc tại số H, đường L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
- 01 căn nhà tọa lạc tại số B, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cần Thơ (nay là khu V, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ) và quyền sử dụng đất thuộc các thửa 761, 760, 759, 750, 1089, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000092QSDĐ/UBH do Ủy ban nhân dân huyện C (cũ) cấp ngày 20/9/1993 cho cụ Bùi Văn H1.
Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.
Tại bản án số 251/2024/DS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Quang T(Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng gồm: Bà Lư Ngọc M, bà Bùi Minh T1, ông Bùi Quang Đ) về việc phân chia di sản thừa kế của ông Bùi Văn H1, bà Trần Thị Đ1 để lại theo pháp luật là nhà và quyền sử dụng đất diện tích 27.207m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000092QSDĐ/UBH do Ủy ban nhân dân huyện C (cũ) nay là Ủy ban nhân dân quận C cấp ngày 20/9/1993 cho ông Bùi Văn H1.
- Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C1.
- Buộc bà Bùi Thị L có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn C1 số tiền 1.970.008.800 đồng (Một tỷ, chín trăm bảy mươi triệu, không trăm lẽ tám nghìn, tám trăm đồng).
- Buộc bà Bùi Kim P có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn C1 số tiền 81.795.000 đồng (T7 mươi mốt triệu, bảy trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
- Buộc ông Bùi Văn H có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn C1 số tiền 81.795.000 đồng (T7 mươi mốt triệu, bảy trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
- Buộc những người thuộc hàng thừa kế của ông Bùi Quang T có nghĩa vụ trả cho ông C1 số tiền 81.795.000 đồng (T7 mươi mốt triệu, bảy trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
- Không chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn C1 về việc yêu cầu phân chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với căn nhà số B, khu V, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về tiền án phí dân sự sơ thẩm, chi phí thẩm định và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã tuyên xử nguyên đơn bà Lư Ngọc M, chị Bùi Minh T1, anh Bùi Quang Đ. Bị đơn bà Bùi Thị L, ông Bùi Văn H, ông Bùi Thiện C, bà Bùi Kim P đã kháng cáo bản án trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Bùi Quang T, đề nghị Tòa án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm và phân chia di sản thừa kế của cụ H1, cụ Đ1 để lại cho những người thuộc hàng thừa kế theo pháp luật. Bởi lẽ, bà L chỉ đứng tên thay cho cụ Đ1 chứ cụ Đ1 cho bà L thì không thể hiện. Yêu cầu bà L và các con của bà L trả lại cho cụ Đ1 rồi đó chia thừa kế theo pháp luật. Đồng thời, hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân quận C cấp cho các con của bà Bùi Thị L do trái quy định của pháp luật.
Phía bà L và các bị đơn không đồng ý chia theo yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, không đồng ý chia thừa kế cho ông C1 bằng tiền. Đồng ý giao cho ông C1 phần đất theo kỉ phần.
Phía đại diện ủy quyền của ông C1 bà Trần Thúy P1: Đồng ý với bản án sơ thẩm đã tuyên. Yêu cầu giữ y bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Bản án sơ thẩm tuyên là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do tài sản đã được phân chia, các đương sự đã nhận tài sản và đã đứng tên quyền sử dụng đất. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn C1, buộc bị đơn bà Bùi Thị L có nghĩa vụ trả lại 1/14 giá trị quyền sử dụng đất 10.950,3m² cho ông C1 tương ứng với số tiền 1.970.008.800 đồng; Buộc bị đơn ông Bùi Thiện C, bà Bùi Kim P, ông Bùi Văn H và những người thừa kế tố tụng của ông Bùi Quang T mỗi người có nghĩa vụ trả lại 1/14 giá trị quyền sử dụng đất 2.870m² cho ông C1 tương ứng với số tiền 81.795.000 đồng.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Giữ y bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp di sản thừa kế” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn trong hạn luật định nên được xem xét. Việc ủy quyền là hợp lệ và đúng quy định.
[2] Xét nội dung vụ kiện nhận thấy:
[2.1] Xét hàng thừa kế: Cụ H1, sinh năm 1919 (chết năm 1998) và cụ Đ1, sinh năm 1923 (chết năm 2011) có 06 người con chung gồm: Bà Bùi Thị L, ông Bùi Văn H, ông Bùi Văn D, bà Bùi Kim P, ông Bùi Thiện C, ông Bùi Quang T. Ngoài ra, cụ H1 có 01 người con riêng là ông Nguyễn Văn C1. Ông Bùi Văn D hiện định cư ở nước ngoài từ chối nhận di sản.
[2.2] Xét về thời hiệu chia thừa kế: Căn cứ Điều 623 Bộ luật Dân sự thời hiệu chia thừa kế vẫn còn.
[2.3] Xét về tài sản thừa kế nhận thấy: Nguyên đơn khởi kiện đòi chia tài sản thừa kế gồm: 01 căn nhà tọa lạc tại số B, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cần Thơ (nay là khu V, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ) và quyền sử dụng đất thuộc các thửa 761, 760, 759, 750, 1089 với tổng diện tích 27.207m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000092.QSDĐ/UBH do Ủy ban nhân dân huyện C (cũ) cấp cho cụ H1 ngày 20/9/1993.
Qua xem xét hai tài sản Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Cụ H1 được Ủy ban nhân dân huyện C (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000092.QSDĐ/UBH ngày 20/9/1993 với tổng diện tích đất 28.907m², thuộc các thửa 761, 760, 759, 1089, 750, tờ bản đồ số 02.
Ngày 24/02/1998, cụ H2, cụ Đ1 ký Hợp đồng chuyển nhượng bán kết quả lao động và đầu tư (chuyển quyền sử dụng đất) với ông Bùi Thiện C một phần thửa đất nêu trên. Ông C được công nhận diện tích đất 1.700m², thửa 1425, tờ bản đồ số 02, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000603.QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Cần Thơ (cũ) cấp ngày 01/4/1998. Đến ngày 24/7/2009, được Ủy ban nhân dân quận C cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 667082 (Số vào sổ cấp GCNQSDĐ số: H00983) với diện tích 1.231m², thửa 1425, tờ bản đồ số 02. Như vậy, phần đất thuộc thửa 1425, tờ bản đồ số 02 của ông Bùi Thiện C được hai cụ tặng cho trước khi mất nên không phải di sản thừa kế. Như vậy, Theo xác nhận chỉnh lý biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho cụ H1 ngày 30/3/1998 thì diện tích còn lại là 27.207m².
Sau khi cụ H1 mất, ngày 28/11/2000 cụ Đ1 cùng với 05 người con gồm: Bà L, ông H, bà Phước, ông C, ông T đến Ủy ban nhân dân phường A, thành phố Cần Thơ (cũ) ký “Giấy đồng ý phân chia tài sản thừa kế” với nội dung thỏa thuận phân chia di sản cụ H1 để lại theo nội dung phân chia thì:
- Bà Bùi Thị L: Được hưởng 01 căn nhà gạch lợp ngói, tọa lạc tại số B, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cần Thơ. Đất hương hỏa gồm: Thửa 761 diện tích 60m²; Thửa 760 diện tích 3.522m²; Thửa 759 diện tích 5.908m² – 1.700m² = 4.208m²; Thửa 750 diện tích 337m². Tổng diện tích 8.127m² (không được quyền chuyển nhượng, sang bán, nếu có yêu cầu khác phải bàn bạc và thống nhất tất cả anh em). 1/5 nhà đất tọa lạc tại số H, đường L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ và đất canh tác thửa 1089 với diện tích 4.770m².
- Ông Bùi Văn H: hưởng 1/5 nhà đất tọa lạc tại số H, đường L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ và đất canh tác thửa 1089 với diện tích 4.770m².
- Bà Bùi Kim P: hưởng 1/5 nhà đất tọa lạc tại số H, đường L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ và đất canh tác thửa 1089 với diện tích 4.770m².
- Ông Bùi Thiện C: hưởng 1/5 nhà đất tọa lạc tại số H, đường L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ và đất canh tác thửa 759 với diện tích 1.700m².
- Ông Bùi Quang T: hưởng 1/5 nhà đất tọa lạc tại số H, đường L, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ và đất canh tác thửa 1089 với diện tích 4.770m².
Tuy nhiên, ngày 03/3/2004 bà L, ông H, bà Phước, ông C, ông T đã ký Biên bản họp gia đình với nội dung “Chúng tôi, các thành viên trong thân tộc gia đình nêu trên cùng nhau thống nhất và đồng ý không nhận chuyển quyền sử dụng đất này mà giao toàn bộ lại cho bà Trần Thị Đ1 đứng tên sử dụng và cam kết không tranh chấp từ nay, cũng như về sau...”. Sau đó, cụ Đ1 đã thực hiện thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất được Phòng Quản lý đô thị quận C chỉnh lý biến động sang tên cụ toàn bộ diện tích 27.207m² trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 04/3/2004. Cụ Đang được đứng tên quyền sử dụng đất. Sau khi được cấp quyền sử dụng đất cụ Đ1 đã thực hiện tặng cho các con như sau:
- Bà Bùi Thị L được nhận diện tích đất 10.950,3m² gồm: Thửa 760 diện tích 3.300m², thửa 759 diện tích 4.187m², thửa 750 diện tích 280m², thửa 761 diện tích 22,3m², thửa 1834 diện tích 2.870m², thửa 1835 diện tích 191m², tất cả các thửa đất đều thuộc tờ bản đồ số 02, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000010.QSDĐ do Ủy ban nhân dân quận C cấp ngày 24/3/2004.
- Bà Bùi Kim P được công nhận diện tích đất 2.870m², thuộc thửa 1831, tờ bản đồ số 02, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000013.QSDĐ do Ủy ban nhân dân quận C cấp ngày 24/3/2004.
- Ông Bùi Văn H được công nhận diện tích đất 2.870m², thuộc thửa 1832, tờ bản đồ số 02, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000012.QSDĐ do Ủy ban nhân dân quận C cấp ngày 24/3/2004.
- Ông Bùi Quang T được công nhận diện tích đất 2.870m², thuộc thửa 1833, tờ bản đồ số 02, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000011.QSDĐ do Ủy ban nhân dân quận C cấp ngày 24/3/2004. Đối với phần diện tích còn lại khoảng 7.600m², đã thu hồi để cấp cho T6 lái T.
Xét người thừa kế theo tố tụng của ông Bùi Quang T cho rằng không có ký biên bản họp và từ chối nhận di sản thừa kế cũng như không biết hồ sơ chỉnh lý sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân cụ Đ1.
Xét lời trình bày này là không có căn cứ vì: Nguyên đơn cũng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dựa trên Biên bản họp gia đình, khi cụ Đ1 đứng tên quyền sử dụng đất thì mới tách ra cho từng người con của cụ. Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Bùi Quang T cũng có kèm Biên bản họp gia đình ngày 03/3/2004, các biên bản đo đạc xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 09/3/2004, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/3/2004 đều có chữ ký của ông T và hiện tại những người thừa kế tố tụng của nguyên đơn đang giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000011.QSDĐ do Ủy ban nhân dân quận C cấp cho ông Bùi Quang T ngày 24/3/2004.
Do thực hiện theo thỏa thuận sau cùng nên “Giấy đồng ý phân chia tài sản thừa kế” ngày 28/11/2000 đã không còn giá trị pháp lý, bởi bà L, ông H, bà Phước, ông C, ông T đã từ chối nhận di sản thừa kế theo Biên bản họp gia đình ngày 03/3/2004. Vì vậy, việc cụ Đ1 tặng cho quyền sử dụng đất cho bà L, bà Phước, ông H, ông T và Ủy ban nhân dân quận C cấp 04 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000010.QSDĐ, số 000011.QSDĐ, số 000012.QSDĐ, số 000013.QSDĐ cùng ngày 24/3/2004 là phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, cũng như yêu cầu kháng cáo là không có căn cứ. Quyền sử dụng đất đã đứng tên những người được hưởng thừa kế và canh tác ổn định nên bản án sơ thẩm tuyên bác yêu cầu các nguyên đơn là có căn cứ.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn đối với phần của ông C1, tại phiên tòa phúc thẩm các nguyên đơn rút yêu cầu này. Các nguyên đơn đồng ý thanh toán lại cho ông C1 số tiền 81.795.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4] Xét Yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn C1:
Ông C1 được xác định là con đẻ và con riêng của cụ H1 dựa trên Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số: 01/2022/QÐST-HNGĐ ngày 26/01/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ. Do đó, ông C1 thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông H1, khi chết cụ H1 không để lại di chúc nên ông C1 được hưởng một phần di sản thừa kế theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651, Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ông C1 yêu cầu chia 01 phần căn nhà tọa lạc tại số B, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cần Thơ (nay là khu V, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ) và quyền sử dụng đất thuộc các thửa 761, 760, 759, 750, 1089, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000092QSDĐ/UBH do Ủy ban nhân dân huyện C (cũ) cấp ngày 20/9/1993 cho cụ H1.
Xét phần nhà: Thể hiện căn nhà số B đã được bà L xây dựng lại vào năm 2016 không phải nhà cũ của cụ H1 nên yêu cầu này là không có cơ sở.
Xét phần đất: Quyền sử dụng đất diện tích khoảng 7.600m² bị thu hồi để xây dựng T6 lái T: Các đương sự chưa cung cấp đầy đủ chứng cứ đối với yêu cầu này nên Tòa án cấp sơ thẩm tách ra chưa xem xét và giải quyết là phù hợp. Nếu có đấy đủ các chứng cứ, giấy tờ thì giải quyết thành vụ kiện khác.
Xét phần đất được xem là di sản của cụ H1 để lại thực tế với tổng diện tích 19.560,3m² đã được phân chia cho bà Bùi Thị L (10.950,3m²), bà Bùi Kim P (2.870m²), ông Bùi Văn H (2.870m²) và ông Bùi Quang T (2.870m²). Việc phân chia này là thiếu sót do ông C1 là con của cụ H1 chưa được phân chia. Do đó, ông C1 được hưởng 1 suất tương ứng là 1/14 di sản thừa kế được nhận.
Xét bà Bùi Thị L được nhận diện tích đất 10.950,3m² nhưng đã thực hiện thủ tục tặng cho các con bà L với diện tích 4.442,9m², còn lại 6.209,22m². Hội đồng xét xử nhận thấy, sau khi được tặng cho quyền sử dụng đất, các con bà L đã thực hiện chuyển mục đích, san lấp xây dựng nhà kho cho thuê nên không thể lấy giá trị hiện tại của tất cả các tài sản này để phân chia thừa kế.
Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000010.QSDĐ do Ủy ban nhân dân quận C cấp ngày 24/3/2004 thì bà L được diện tích đất 10.950,3m² gồm: 300m² đất ODT, 3.402,3m² đất CLN và 7.248m² đất 2L.
Căn cứ theo các Chứng thư thẩm định giá của Công ty TNHH Đ2 thể hiện giá trị các phần đất được xác định như sau:
- 300m² x 4.513.000 đồng/m² = 1.353.900.000 đồng.
- 3.402,3m² x 2.504.000 đồng/m² = 8.519.359.200 đồng.
- 7.248m² x 2.443.000 đồng/m² = 17.706.864.000 đồng.
Tổng giá trị là 27.580.123.200 đồng/14 = 1.970.008.800 đồng.
Bà Bùi Kim P, ông Bùi Văn H, ông Bùi Quang T mỗi người nhận được 2.870m² đất 2L, theo Chứng thư thẩm định giá của Công ty TNHH Đ2 giá trị của mỗi phần đất là 1.145.130.000 đồng/14 = 81.795.000 đồng.
Như vậy, bà Bùi Thị L có nghĩa vụ thanh toán lại cho ông Nguyễn Văn C1 số tiền 1.970.008.800 đồng, bà Bùi Kim P, ông Bùi Văn H, ông Bùi Quang T (có thừa kế theo tố tụng) mỗi người có nghĩa vụ thanh toán lại cho ông C1 số tiền 81.795.000 đồng. Bản án sơ thẩm tuyên là có căn cứ nên không chấp nhận kháng cáo của các bị đơn.
[5] Xét yêu cầu kháng cáo của các bị đơn: Phía các bị đơn đồng ý giao phần đất cho ông C1, không đồng ý trả giá trị bằng tiền, không đồng ý giá của Công ty thẩm định giá Đ đưa ra...
Hội đồng xét xử nhận thấy: Yêu cầu kháng cáo của các bị đơn là chưa phù hợp vì: Tài sản đã được phân chia và các đương sự đã đứng tên quyền sử dụng đất, đã sử dụng ổn định và theo quy định pháp luật tại Khoản 1, Điều 622 Bộ Dân sự 2015 nên ông C1 nhận suất thừa kế bằng hiện vật là phù hợp.
Đối với việc thẩm định theo giá thị trường của Công ty TNHH Đ2. Công ty dựa trên giá thị trường của khu đất tranh chấp và đưa ra mức giá sát với giá thị trường. Các bị đơn không khiếu nại hay yêu cầu Công ty nào khác thẩm định nên Hội đồng xét xử sơ thẩm căn cứ vào giá của Công ty làm cơ sở giải quyết là đúng quy định. Do đó, kháng cáo của các bị đơn là không có cơ sở chấp nhận.
[6] Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận nên các nguyên đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 11.490.000 đồng, đã nộp tạm ứng và chi xong.
Chi phí định giá tài sản ông Nguyễn Văn C1 đã nộp 75.000.000 đồng yêu cầu Công TNHH Đầu tư dịch vụ thẩm định giá Đ. Tuy nhiên, do yêu cầu thẩm định này là do ông C1 yêu cầu các nguyên đơn, các bị đơn không có ý kiến nên ông C1 phải tự chịu chi phí này. Vì vậy, điều chỉnh lại phần này của bản án sơ thẩm.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nguyên đơn phải chịu án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu không được Tòa án chấp nhận, ông Nguyễn Văn C1 là người cao tuổi nên được miễn án phí phải chịu.
[8] Án phí dân sự phúc thẩm: Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Bùi Quang T gồm: Bà Lư Ngọc M, ông Bùi Quang Đ, bà Bùi Minh T1 phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002100 ngày 10/10/2024 thành án phí tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Các đương sự đã nộp xong.
Bà Bùi Thị L, ông Bùi Văn H, bà Bùi Kim P, ông Bùi Thiện C được miễn do là người cao tuổi.
[9] Xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 650, Điều 651, khoản 1 Điều 660, Điều 662 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Bùi Quang T gồm: bà Lư Ngọc M, ông Bùi Quang Đ, bà Bùi Minh T1. Chấp nhận việc rút một phần kháng cáo của các nguyên đơn đối với ông Nguyễn Văn C1.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Bùi Thị L.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Bùi Thiện C, ông Bùi Văn H, bà Bùi Kim P.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Quang T (Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng gồm: Bà Lư Ngọc M, bà Bùi Minh T1, ông Bùi Quang Đ) về việc phân chia di sản thừa kế của cụ Bùi Văn H1, cụ Trần Thị Đ1 để lại theo pháp luật là nhà và quyền sử dụng đất diện tích 27.207m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000092QSDĐ/UBH do Ủy ban nhân dân huyện C (cũ) nay là Ủy ban nhân dân quận C cấp ngày 20/9/1993 cho cụ Bùi Văn H1.
- Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C1.
- Buộc bà Bùi Thị L có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn C1 số tiền 1.970.008.800 đồng (Một tỷ, chín trăm bảy mươi triệu, không trăm lẽ tám nghìn, tám trăm đồng).
- Buộc bà Bùi Kim P có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn C1 số tiền 81.795.000 đồng (T7 mươi mốt triệu, bảy trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
- Buộc ông Bùi Văn H có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn C1 số tiền 81.795.000 đồng (T7 mươi mốt triệu, bảy trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
- Buộc những người thuộc hàng thừa kế của ông Bùi Quang T có nghĩa vụ trả cho ông C1 số tiền 81.795.000 đồng (T7 mươi mốt triệu, bảy trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
- Không chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn C1 về việc yêu cầu phân chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với căn nhà số B, khu V, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn phải chịu 11.490.000 đồng (Mười một triệu, bốn trăm chín mươi nghìn đồng), đã nộp tạm ứng và chi xong.
- Điều chỉnh chi phí thẩm định giá tài sản: Ông Nguyễn Văn C1 phải chịu 75.000.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu đồng) chi phí thẩm định tài sản. Ông C1 đã chi xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Những người thừa kế của ông Bùi Quang T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), khấu trừ tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số: 003795 ngày 30/9/2015, nên bà Lư Ngọc M, ông Bùi Quang Đ, bà Bùi Minh T1 được nhận lại 17.700.000 đồng (Mười bảy triệu, bảy trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C1 được nhận lại 14.250.000 đồng (Mười bốn triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0001899 ngày 04/4/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ông Bùi Quang T gồm: Bà Lư Ngọc M, ông Bùi Quang Đ, bà Bùi Minh T1 phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002100 ngày 10/10/2024 thành án phí tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Các đương sự đã nộp xong.
Bà Bùi Thị L, ông Bùi Văn H, bà Bùi Kim P, ông Bùi Thiện C được miễn do là người cao tuổi.
Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hải |
Thành viên Hội đồng xét xử | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
Nguyễn Thị Tuyết Loan - Nguyễn Quyến | Nguyễn Văn Hải |
Các Thẩm phán | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
Võ Bích Hải - Phan Thị Tuyết Mai | Nguyễn Văn Hải |
13
14
Bản án số 101/2025/DS-PT ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp di sản thừa kế
- Số bản án: 101/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Di sản thừa kế
