Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2024/HS-ST

Ngày: 23-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Huy Hoàng.

Bà Dương Thị Tố Như.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bắc - Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 95/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Hùng D, sinh năm: 1998 tại Lâm Đồng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và tạm trú: Không; nơi ở hiện tại: Số A Đ, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 05/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Phan Minh T, sinh năm 1979, trú tại xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng và con bà Vũ Thị Thanh H, sinh năm 1980, trú tại: Số A Đ, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 16/3/2017 bị Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000đ về hành vi gây rối trật tự công cộng. Nộp phạt xong vào ngày 16/3/2017.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2024 đến ngày 16/02/2024 thay đổi sang biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Bùi Phương N, sinh năm: 1993; nơi công tác: Công an phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
  2. Ông Vũ Thanh L, sinh năm: 1985; nơi cư trú: nơi công tác: Công an phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

Người làm chứng:

  1. Anh Phạm Quang T1, sinh năm: 1996; nơi cư trú: Số E N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

2

  1. Ông Hoàng Minh H1, sinh năm: 1981; nơi cư trú: Số B P, phường I, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
  2. Ông Phạm Đình T2, sinh năm: 1976; nơi cư trú: Số A N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
  3. Bà Đỗ Thị Bích L1, sinh năm: 1981; nơi cư trú: Số E H, tổ A, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 15/02/2024, Trương Hùng D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave X, biển số 38L1-0565 màu đỏ chở Phạm Quang T1 đến nhà chị Đỗ Thị Bích L1 tại địa chỉ số E H, phường L, thành phố B để rủ anh Đỗ Hoàng L2, tên thường gọi là “Kun” đi nhậu. Lúc này, nhà chị L1 đang ăn uống tại khu vực hiên bên trái trước cửa nhà, DT1 đi vào nhà để gặp anh L2 nhưng anh Hoàng Minh H1 (anh rể của L2) không cho gặp và yêu cầu D, T1 đi về. D điều khiển xe mô tô của mình đến nhà anh Nguyễn Đức L3 tại địa chỉ số E H, phường L, thành phố B ngồi uống rượu cùng nhóm bạn của anh L3. Phạm Quang T1 thì tiếp tục chửi bới gây ồn ào tại nhà chị L1. Thấy vậy, chị L1 gọi điện thoại đến Công an phường L trình báo sự việc mất trật tự tại khu dân cư. Nhận được tin báo, đồng chí Trần Hòa L4 - Chức vụ trưởng Công an phường L đã chỉ đạo đồng chí Bùi Phương N và đồng chí Vũ Thanh L là cán bộ Công an phường L được phân công trong ca trực đến để giải quyết vụ việc. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày đồng chí N và đồng chí Lâm mặc trang phục đúng điều lệ Công an nhân dân và đi xe mô tô công vụ của đơn vị đến hiện trường khu vực trước nhà số E H, phường L, thành phố B để thi hành nhiệm vụ. Khi đến nơi thấy Trương Hùng D điều khiển xe mô tô biển số 38L1-05665 gắn bô độ chế nổ to, trong trạng thái không tỉnh táo, biểu hiện say rượu bia, chạy từ hướng bên kia đường đến trước nhà số E H, vừa chạy vừa nẹt bô to. Thấy vậy đồng chí N và đồng chí L hô to: Công an đây, cho kiểm tra giấy tờ, đồng thời nhắc nhở D không nẹt bô ồn ào gây mất trật tự, sau đó D dừng xe lại, tắt máy, bước xuống xe mô tô chửi đồng chí N rồi dùng tay xô đẩy nắm cổ áo đồng chí N kéo giựt về phía D làm đồng chí Nam chúi người về phía D. Thấy vậy đồng chí L cùng đồng chí N hỗ trợ khống chế D thì Phạm Quang T1 chạy đến nắm tay kéo đồng chí L ra mục đích giải vây cho D, lúc này ông Phạm Đình T2, trú tại: tổ H, phường L, thành phố B có mặt ở hiện trường đến giúp đồng chí L cùng khống chế T1. Cùng lúc này D dùng tay giựt đứt 01 cúc áo quân phục Công an nhân dân của đồng chí ND nói to “mày bỏ ra tao với mày sô lô” đồng chí N tiếp tục vật lộn với D để khống chế D, D dùng chân đạp về phía người đồng chí N, lúc này có anh Hoàng Minh H1 trong nhà gần đó đi ra phụ giúp giữ chân D nhưng cũng bị D dùng chân đạp nên anh H1 buông tay ra. Đồng chí N gọi điện thoại về Công an phường L báo cáo tình hình cho đồng chí Trần Hòa L4 - Trưởng Công an phường L yêu cầu tăng cường lực lượng. Một lúc sau đồng chí Trần Hòa L4 và 02 đồng chí tổ bảo vệ dân phố đến khống chế Trương Hùng DPhạm Quang T1 đưa về trụ sở Công an phường làm việc.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, gắn máy số 000620 của xe mô tô biển số 38L1-0565 mang tên Phan Đăng T3, địa chỉ xóm F, xã Đ, thị xã H, Hà Tĩnh; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveX,

2

biển số 38L1-0565, màu đỏ, số khung RRHWCHIRH7A 114875, số máy: VTHHH 152FMH 114875; 01 áo khoác màu xanh, có lô gô Bộ C - Công ty A, sản xuất năm 2012; 01 khuy áo, màu vàng, có ký hiệu CA.

Cáo trạng số: 96/QĐ-VKSBL ngày 26/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố Trương Hùng D về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • Bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, thừa nhận cáo trạng truy tố như vậy là đúng, khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố đã nêu. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
  • Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trương Hùng D phạm tội “Chống người thi hành công vụ”. Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trương Hùng D từ 09 đến 12 tháng tù.

Về vật chứng: Giao lại cho Cơ quan điều tra Công an thành phố B 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, gắn máy số 000620 mang tên Phan Đăng T3 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveX, biển số 38L1-0565, màu đỏ, số khung RRHWCHIRH7A 114875, số máy: VTHHH 152FMH 114875 để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.

Trả lại cho đồng chí Bùi Phương N 01 áo khoác màu xanh, có lô gô Bộ C - Công ty A, sản xuất năm 2012; 01 khuy áo, màu vàng, có ký hiệu CA.

Về dân sự: Đồng chí Bùi Phương NVũ Thanh L không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, do vậy đề nghị không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận:

Vào tối ngày ngày 15/02/2024, sau khi nhận được trình báo sự việc mất trật tự tại khu dân cư Đ, phường L, thành phố B của bà Nguyễn Thị Bích L5 thì đồng chí Trần Hòa L4 (trưởng Công an phường L) đã chỉ đạo các đồng chí Bùi Phương NVũ Thanh L là cán bộ Công an phường L được phân công trong ca trực đến để giải quyết vụ việc. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày đồng chí N và đồng chí Lâm mặc trang phục đúng điều lệ Công an nhân dân và đi xe mô tô công vụ của đơn vị đến hiện

3

trường khu vực trước nhà số E H, phường L, thành phố B để thi hành nhiệm vụ. Khi đến nơi thấy Trương Hùng D điều khiển xe mô tô biển số 38L1 - 05665 gắn bô độ chế nổ to, trong trạng thái không tỉnh táo, biểu hiện say rượu bia, chạy từ hướng bên kia đường đến trước nhà số E H, vừa chạy vừa nẹt bô to. Thấy vậy đồng chí N và đồng chí L hô to “Công an đây, cho kiểm tra giấy tờ” đồng thời nhắc nhở D không nẹt bô ồn ào gây mất trật tự, sau đó D dừng xe lại, tắt máy, bước xuống xe mô tô chửi đồng chí N rồi dùng tay xô đẩy nắm cổ áo đồng chí N kéo giựt về phía D làm đồng chí Nam chúi người về phía D. Thấy vậy đồng chí L cùng đồng chí N hỗ trợ khống chế D thì Phạm Quang T1 chạy đến nắm tay kéo đồng chí L ra mục đích giải vây cho D, lúc này ông Phạm Đình T2, trú tại: tổ H, phường L, thành phố B có mặt ở hiện trường đến giúp đồng chí L cùng khống chế T1. Cùng lúc này D dùng tay giựt đứt 01 cúc áo quân phục Công an nhân dân của đồng chí ND nói to “mày bỏ ra tao với mày sô lô” đồng chí N tiếp tục vật lộn với D để khống chế D, D dùng chân đạp về phía người đồng chí N, lúc này có anh Hoàng Minh H1 trong nhà gần đó đi ra phụ giúp giữ chân D nhưng cũng bị D dùng chân đạp nên anh H1 buông tay ra. Đồng chí N gọi điện thoại về Công an phường L báo cáo tình hình cho đồng chí Trần Hòa L4 yêu cầu tăng cường lực lượng. Một lúc sau đồng chí Trần Hòa L4 và 02 đồng chí tổ bảo vệ dân phố đến khống chế Trương Hùng DPhạm Quang T1 đưa về trụ sở Công an phường làm việc.

Trong khi bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ đồng chí Bùi Phương N và đồng chí Vũ Thanh L là cán bộ Công an phường L đến làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự nhưng bị cáo vẫn cố ý chống đối, cản trở.

Vì vậy, hành vi của bị cáo Trương Hùng D đã phạm vào tội “Chống người thi hành công vụ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

  • Về Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
  • Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt: Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây bất bình trong dư luận xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn, bình thường của Cơ quan nhà nước trong lĩnh vực quản lý trật tự an ninh xã hội, vi phạm pháp luật hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, bị cáo nhận thức rõ và biết được rằng đây là lực lượng Công an đi làm nhiệm giữ gìn an ninh trật tự nhưng với thái độ coi thường pháp luật, bị cáo chẳng những không chấp hành mệnh lệnh hành chính mà bị cáo còn có thái độ chống đối, cản trở các đồng chí Công an làm nhiệm vụ. Mặt khác bị cáo có nhân thân xấu (Ngày 16/3/2017 bị Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000đ về hành vi gây rối trật tự công cộng) nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội; hiện nay không có nơi đăng ký thường trú và tạm trú. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm và nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian

4

mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm hiện nay.

[5] Về vật chứng:

  • Đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, gắn máy số 000620 của xe mô tô biển số 38L1 - 0565 mang tên Phan Đăng T3, địa chỉ xóm F, xã Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveX, biển số 38L1-0565, màu đỏ, số khung RRHWCHIRH7A 114875, số máy: VTHHH 152FMH 114875. Do chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên cần giao lại cho Cơ quan điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.
  • Đối với 01 áo khoác màu xanh, có lô gô Bộ C - Công ty A, sản xuất năm 2012; 01 khuy áo, màu vàng, có ký hiệu CA. Xét thấy dây là trang phục mà bị đồng chí Bùi Phương N mặc khi thực hiện nhiệm vụ công vụ vì vậy cần trả lại cho đồng chí N.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là các đồng chí Bùi Phương NVũ Thanh L không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, do vậy không xem xét đến.

[7] Về các vấn đề khác:

  • Đối với Phạm Quan T4 có hành vi ngăn cản đồng chí Vũ Thanh L thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ đồng chí Bùi Phương N khống chế Trương Hùng D. Tuy nhiên, T4 không chứng kiến việc D có hành vi chống đối lực lượng Công an đang thi hành công vụ, T4D không có sự bàn bạc trước nên T4 không đồng phạm với Trương Hùng D. Hành vi của Phạm Quang T1 chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự nên không xem xét trách nhiệm hình sự trong vụ án này là đúng quy định.
  • Đối với hành vi Phạm Quang T1 khai đã mua ma túy cùng sử dụng với Trương Hùng D tại nhà của người tên B gần nhà thờ T5 vào sáng ngày 15/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tách hành vi này của Phạm Quang T1 để tiếp tục điều tra xử lý theo là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Ý kiến, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trương Hùng D phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trương Hùng D 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ vào thời gian tạm giữ 01 ngày (ngày 15/02/2024).

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Trả lại cho đồng chí Bùi Phương N:

5

  • + 01 (một) áo khoác màu xanh, có lô gô Bộ C - Công ty A, sản xuất năm 2012.
  • + 01 (một) khuy áo, màu vàng, có ký hiệu CA.

Giao lại cho Cơ quan điều tra Công an thành phố B: 01 (một) 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave x, biển số 38L1-0565, màu đỏ, số khung RRHWCHIRH7A 114875, số máy: VTHHH 152FMH 114875 để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/6/2024, tại Chi cục Thi hành án thành phố Bảo Lộc)

  • Giao lại cho Cơ quan điều tra Công an thành phố B: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, gắn máy số 000620 của xe mô tô biển số 38L1-0565 mang tên Phan Đăng T3, địa chỉ xóm F, xã Đ, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh để tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Trương Hùng D phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.

Nơi nhận:

  • Tòa án ND tỉnh Lâm Đồng;
  • VKSND TP. Bảo Lộc;
  • Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • Công an TP. Bảo Lộc;
  • Chi cục THA dân sự TP. Bảo Lộc;
  • Bị cáo;
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ninh Khắc Phong

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG về chống người thi hành công vụ

  • Số bản án: 101/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Chống người thi hành công vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Hùng D phạm tội "Chống người thi hành công vụ"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger