Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 101/2024/HS-ST

Ngày: 16/4/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Thanh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Phan Minh Tuấn;

Ông Đoàn Văn Minh

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thuỳ Dung- Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Trần Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-HS ngày 03/4/2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn N, sinh năm 1997; Hộ khẩu thường trú: TDP Y, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1977; Con bà: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1978. Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con cả; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án; tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 21/11/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trạm giam số 1 – Công an thành phố H.

2. Tạ Văn T2, sinh năm 1999; Hộ khẩu thường trú: TDP B, phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Tạ Văn T3, sinh năm 1971; Con bà: Nguyễn Thị T4, sinh năm 1972. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con út; Vợ; con: Chưa có.

Tiền án; tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 08/01/2021, Công an phường Đ, Thành phố P, tỉnh Vĩnh phúc xử phạt hành chính về hành vi “ Đánh bạc”.

Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 21/11/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trạm giam số 1 – Công an thành phố H.

3. Hoàng Thị Kiều D, sinh năm 1999; Hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ở hiện nay: Số 1, ngõ A X, phường D, quận C, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn L, sinh năm 1976; Con bà: Long Thị T5, sinh năm 1980. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con cả; Chồng; con: Chưa có.

Tiền án; tiền sự: không.

Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 21/11/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trạm giam số 1 – Công an thành phố H.

Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Võ Quang T6, sinh 1994. HKTT và nơi ở: Số B, ngõ D N, phường T, quận T, TP Hà Nội (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Văn N1, sinh 1975. Địa chỉ: SỐ A LK A, KĐTM M, phường M, quận H, Hà Nội (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Mạnh T7, Nguyễn Văn N và Tạ Văn T2 quen biết nhau từ năm 2021 do từng làm việc cùng nhau, còn Hoàng Thị Kiều D quen biết và này sinh quan hệ yêu đương với T7 từ năm 2022. Từ khoảng tháng 09/2023, T7 thuê N, T2 và D cùng T7 đi đến các cửa hàng mua bán điện thoại di động như Điện máy xanh, FPT, Thế giới di động, Viettel Store...rồi sử dụng thông tin thẻ tín dụng của người khác để thanh toán tiền mua điện thoại di động mới, sau đó giao lại cho T7 để T7 mang đi bán cho người khác lấy tiền. T7 thoả thuận trả cho N và T2 tiền công là 500.000 đồng/ngày, còn D thì T7 sẽ chi trả tiền sinh hoạt. Do không có việc làm và cần tiền chỉ tiêu cá nhân nên N, T2 và D đồng ý. N và T2 được T7 cho tham gia vào nhóm T8 có tên “Dứt” gồm nhiều thành viên. Hàng ngày, trên nhóm sẽ có một tài khoản (không xác định được nhân thân người sử dụng) gửi thông tin thẻ tín dụng đã chiếm đoạt được từ người khác gồm: hình ảnh mặt thẻ, số mã thẻ, tên chủ thẻ, hạn mức tiền có trong thẻ vào trong đoạn chát nhóm. Sau đó, T7 sẽ sử dụng dụng những thông tin này nhập vào ứng dụng Samsung Pay cài đặt trên điện thoại Samsung Galaxy S8 màu hồng và S S8 màu đen do T7 quản lý rồi chỉ đạo D tìm kiếm các cửa hàng mua bán điện thoại để mua điện thoại. T7 sẽ chỉ đạo người vào mua điện thoại, số lượng và loại điện thoại cần mua. Trước khi vào cửa hàng, T7 đều báo số tiền có thể chi tiêu của từng thẻ, đưa cho T2 tiền mặt để thanh toán tiền còn thiếu khi mua điện thoại và đưa cho N chiếc điện thoại Samsung Galaxy S8 màu hồng hoặc màu đen đã được Tân cài sẵn thông tin thẻ tín dụng vào ứng dụng Samsung Pay để thanh toán. Để tránh bị cơ quan chức năng hoặc hệ thống cửa hàng phát hiện thì T7 chỉ đạo người vào mua cung cấp tên và số điện thoại của người khác đề cửa hàng xuất hoá đơn mua hàng. Trong khi thanh toán, nếu máy Pos báo lỗi thẻ không giao dịch được thì phải thông báo ngay cho T7 để T7 nhập mã khác hoặc dùng thanh toán. Các điện thoại mua được thì T2 hoặc N đều đưa lại cho T7 để T7 mang đi bán. Sau khi hoàn thành công việc thì N và T2 sẽ được T7 trả lương 500.000 đồng/ngày, còn D sẽ được T7 chi trả tiền sinh hoạt và chi tiêu cá nhân. Bằng cách thức, thủ đoạn như đã nêu trên, nhóm của T7, N, T2 và D đã sử dụng thông tin tài khoản, thẻ tín dụng của người khác do các đối tượng khác (chưa xác định được nhân thân) chiếm đoạt được cung cấp trong nhóm T8 “Dứt” để thanh toán mua điện thoại di động tại nhiều cửa hàng mua bán điện thoại di động. Cơ quan điều tra đã điều tra, làm rõ được 01 vụ do các bị cáo thực hiện, cụ thể như sau:

- Ngày 07/11/2023, Ngô Mạnh T7 chỉ đạo Nguyễn Văn N và Tạ Văn T2 đến Gara Bình Xuyên C tại xã Đ, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc thuê xe ô tô nhãn hiệu Kia Cerato, màu đen BKS: 15A-526.65 của anh Nguyễn Văn Đ (Sinh năm: 1986; HKTT: Tự Lập, M, Hà Nội) làm phương tiện để cả nhóm di chuyển. Sau đó, N điều khiển xe ô tô chở T2 đến đón D và T7 tại thành phố V, Phú Thọ. Sau khi gặp nhau, cả nhóm cùng bàn bạc và thống nhất sẽ đến các cửa hàng thuộc hệ thống Thế giới di động trên địa bàn thành phố V rồi sử dụng thông tin thẻ tín dụng của người khác do các đối tượng khác trong nhóm T8 “Dứt” chiếm đoạt được cung cấp để mua điện thoại di động. T7 giao nhiệm vụ cho từng người như sau: T7 là người điều khiển xe, D ngồi ghế phụ để tìm kiếm địa chỉ các cửa hàng và hướng dẫn T7 đường đi, T2 và N sẽ là người trực tiếp vào cửa hàng để giao dịch. Theo chỉ dẫn của D, T7 điều khiển xe đến cửa hàng Điện máy xanh địa chỉ E N, phường N, thành phố V, Phú Thọ rồi đưa chiếc điện thoại Samsung Galaxy S8 màu đen đã cài đặt sẵn các thông tin tài khoản thẻ tín dụng trong ứng dụng Samsung Pay để N thanh toán tiền mua 01 điện thoại Iphone 15 Pro Max, dung lượng 256GB, màu đen titanium và 01 điện thoại Iphone 11, dung lượng 64Gb, màu trắng với tổng giá trị là 45.085.000 đồng và đưa cho T2 2.000.000 đồng để T2 thanh toán thêm vào số tiền còn thiếu khi mua điện thoại. Trước khi đưa điện thoại cho N, T7 đã nhập sẵn thông tin thanh toán qua thẻ tín dụng số 5189660150324559 ngân hàng V của anh Võ Quang T6 (Sinh năm: 1994; Nơi thường trú: Thanh Xuân N, T, Hà Nội) với hạn mức thẻ là 43.300.000 đồng. Thông tin thẻ này do các đối tượng khác trong nhóm T8 “Dứt” chiếm đoạt được thông qua việc giả làm nhân viên ngân hàng L1 và đề nghị anh T6 cung cấp hình ảnh thẻ tín dụng, căn cước công dân và mã bảo mật để nâng hạn mức thẻ. Sau khi anh Tó cung cấp các thông tin theo yêu cầu thì các đối tượng sẽ gửi vào đoạn chat nhóm T8 “Dứt” để nhóm của T7 sử dụng thông tin thẻ tín dụng này thanh toán tiền mua điện thoại mà không có sự cho phép của anh T6.

Khoảng 12 giờ cùng ngày, N và T2 sau khi vào cửa hàng đã thanh toán tiền mua 02 chiếc điện thoại theo chỉ đạo của T7 với tổng giá trị là 45.085.000 đồng bằng cách thanh toán 43.300.000 đồng bằng thẻ tín dụng 5189660150324559 ngân hàng V của anh Võ Quang T6 qua ứng dụng Samsung Pay và thanh toán trực tiếp 1.785.000 đồng tiền mặt. Quá trình mua hàng, N không dùng tên thật mà lấy tên “H” và số điện thoại 0879.898.xxx (lưu trong danh bạ là “A Hải C”) đăng ký mua hàng. Sau đó, N và T2 mang số điện thoại vừa mua được cùng hoá đơn mua hàng giao lại cho T7 như đã thoả thuận.

Số tiền mà Ngô Mạnh T7, Nguyễn Văn N, Tạ Văn T2 và Hoàng Thị Kiều D đã chiếm đoạt của anh Võ Quang T6 là 43.300.000 đồng.

Bằng cách thức và thủ đoạn nêu trên, Ngô Mạnh T7, Nguyễn Văn N, Tạ Văn T2 và Hoàng Thị Thúy D1 đã sử dụng thông tin thẻ tín dụng của nhiều bị hại khác (chưa xác định được thông tin, lai lịch) để thực hiện việc mua điện thoại di động ở nhiều cửa hàng khác nhau. Cụ thể:

- Ngày 11/9/2023, T7 chỉ đạo D1 một mình đi mua điện thoại, D1 đồng ý sau đó được T7 đưa cho một điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S8 màu hồng đã cài đặt sẵn thẻ tín dụng để thanh toán trên ứng dụng Samsung Pay, T7 nói hạn mức của thẻ có thể dùng là 20.100.000 đồng. Khoảng 17 giờ cùng ngày, D1 đến cửa hàng F tại địa chỉ F T, phường T, Cầu G, Hà Nội để mua một chiếc điện thoại Iphone 14 Pro Max, màu tím, dung lượng 128Gb với giá 26.090.000 đồng. D1 sử dụng ứng dụng Samsung Pay, nhập mật khẩu 6688 của ứng dụng để thanh toán 20.100.000 đồng qua chiếc máy POS. Số tiền 5.990.000 đồng còn thiếu, D1 dùng tài khoản số 19035150126011 ngân hàng T14 của D1 chuyển khoản thanh toán cho cửa hàng, D1 dùng số điện thoại cá nhân là 0382.547.xxx đăng ký mua hàng. Sau khi mua được điện thoại thì D1 về đưa cho T7 (D1 khai không rõ T7 đã bán lại cho ai). Đối với số tiền 5.990.000 đồng đã bỏ ra, D1 được T7 trả lại bằng tiền mặt.

- Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 07/11/2023, sau khi rời cửa hàng Điện máy xanh địa chỉ E N, phường N, thành phố V, Phú Thọ, nhóm của T7 tiếp tục đi đến cửa hàng T15 số B H, TP V, tỉnh Phú Thọ. T2 và N trực tiếp vào cửa hàng để giao dịch. N trực tiếp cầm điện thoại Samsung do T7 đưa, sử dụng ứng dụng Samsung Pay để thanh toán từ hai thẻ tín dụng đã chiếm đoạt được (T2 và N không rõ chủ thẻ là ai, không nhớ số thẻ và ngân hàng phát hành thẻ) mua 02 điện thoại Iphone 14 Pro Max, màu tím, dung lượng 128Gb, lần lượt có số Serial SFXC22CXQ61 và SL7H97XY6KQ với tổng giá trị là 54.180.000 đồng. N sử dụng một thẻ thanh toán 30.000.000 đồng và 01 thẻ thanh toán 19.900.000 đồng. Số tiền còn thiếu 4.280.000 đồng được T2 dùng tiền mặt để thanh toán. N sử dụng số điện thoại 0983.411.xxx (N khai đây là số điện thoại N tự nghĩ ra), lấy tên người mua là T9 để đăng ký mua hàng.

- Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 07/11/2023, nhóm của T7 tiếp tục đi đến cửa hàng Đ1 H, TP V, tỉnh Phú Thọ: T2 và N trực tiếp vào cửa hàng để giao dịch mua 01 điện thoại Iphone 14 Pro Max, màu tím, dung lượng 256Gb và 01 sạc Tye C 20W nhãn hiệu Apple, màu trắng, tổng giá trị là 30.255.000 đồng. N trực tiếp cầm điện thoại Samsung do T7 đưa, sử dụng ứng dụng Samsung Pay để thanh toán 30.000.000 đồng từ một thẻ tín dụng đã chiếm đoạt được (T2 và N không rõ chủ thẻ là ai, không nhớ số thẻ và ngân hàng phát hành thẻ), số tiền còn thiếu 255.000 đồng được T2 dùng tiền mặt thanh toán cho cửa hàng. N sử dụng số điện thoại "0879.898.xxx", lấy tên là “H” để đăng ký mua điện thoại.

Sau đó, T7 liên hệ với Bùi Văn N1 (Sinh năm: 1975; Nơi thường trú: M, H, Hà Nội) để hỏi bán điện thoại. Khoảng 20 giờ ngày 07/11/2023, T7 cùng N, T2 và D1 cùng đi đến nhà của Bùi Văn N1 tại số A LK11A, KĐT M, M, H, Hà Nội để bán các chiếc điện thoại đã mua được. Tại đây, T7 là người trực tiếp giao dịch mua bán với N1, còn N, T2, D1 không tham gia. Khi mua bán máy, T7 đều nói là các điện thoại được mua tại cửa hàng chính hãng, có hóa đơn mua bán hàng nên N1 tin tưởng mà mua. Sau khi thỏa thuận và kiểm tra máy, N1 đồng ý mua các điện thoại mà T7 mang đến với giá cụ thể như sau:

  • - 03 điện thoại Iphone 14 Pro Max 256GB với giá 27.000.000 đồng/01 chiếc.
  • - 01 điện thoại Iphone 14 Pro Max 256GB (đã kích hoạt, chưa sử dụng) với giá 26.500.000 đồng.
  • - 01 điện thoại Iphone 15 Pro Max 256GB với giá 31.960.000 đồng (đã kích hoạt, chưa sử dụng).
  • - 03 điện thoại Iphone 14 Pro Max 128GB với giá 24.600.000 đồng/01 chiếc.
  • - 02 điện thoại Iphone 11 64GB với giá 9.400.000 đồng/01 chiếc.
  • - 01 điện thoại Iphone 11 128GB với giá 10.800.000 đồng.
  • - 02 điện thoại Iphone 13 128GB với giá 14.800.000 đồng/01 chiếc.

Số điện thoại này bao gồm cả các điện thoại do N và T2 trực tiếp mua trong ngày 07/11/2023 và các điện thoại do T7 đã có sẵn trước đó (N, T2 và D1 khai nhận không biết nguồn gốc của số điện thoại này). Tổng số tiền N1 mua 13 chiếc điện thoại trên là 272.460.000 đồng. Để thanh toán tiền, N1 sử dụng tài khoản cá nhân số 1039566688 tại ngân hàng V1 chuyển 41.490.000 đồng đến tài khoản số 1608868686 mang tên Ngo Manh T10 tại ngân hàng A1. Do không đủ tiền trong tài khoản cá nhân, N1 nhờ cháu họ là Lê Ngọc T11 (Sinh năm: 1993; Trú tại: A H, tổ F khu E, phường T, TP U, Quảng Ninh) dùng tài khoản cá nhân số 0969199098 tại ngân hàng M chuyển khoản số tiền 230.970.000 đồng vào tài khoản số 0300123128888 tại ngân hàng M mang tên Ngo Manh T10. Sau khi T7 về, N1 kiểm tra trong túi đựng điện thoại còn có 01 sạc nhãn hiệu Iphone màu trắng mới, nghĩ T7 để quên nên N1 cất đi và sẽ trả lại cho T7 khi gặp lại. Ngay sau đó, N1 đã bán các điện thoại trên cho nhiều người khác nhau qua mạng xã hội (không xác định được nhân thân, lai lịch).

Ngày 19/11/2023, anh Võ Quang T6 đến Công an quận N trình báo việc bị chiếm đoạt tài sản như sau: Khoảng 10 giờ 10 phút ngày 07/11/2023, khi anh T6 đang ở Khu đô thị V, N, Hà Nội thì anh Tó nhận được cuộc gọi từ thuê bao 0911292682 tự xưng là nhân viên chăm sóc khách hàng ngân hàng V2 có thể hỗ trợ anh T6 nâng hạn mức thẻ tín dụng đang sử dụng lên 100.000.000 đồng. Do anh T6 đang sử dụng 01 thẻ tín dụng số 5189660150324559 ngân hàng V2 nên không nghi ngờ. Sau đó, anh T6 trao đổi với người sử dụng tài khoản zalo “Tuấn H1" thì được người này gửi cho địa chỉ: http:/vpbhanmucthevisa.com hướng dẫn T6 truy cập, đăng ký nâng hạn mức thẻ tín dụng. Khi truy cập, anh Tó đã nhập các thông tin: Hình chụp hai mặt thẻ tín dụng (bao gồm mã số bảo mật thẻ), hình ảnh chụp căn cước công dân và thông tin cá nhân của anh T6. Tiếp đó, trang web chuyển sang giao diện khác yêu cầu nhập mã Code sẽ hoàn tất thủ tục đăng ký nâng hạn mức thẻ tín dụng. Khoảng 11 giờ 51 phút ngày 07/11/2023, anh T6 nhận được tin nhắn từ tổng đài V2 cung cấp mã xác thực "753398”. Sau khi nhập mã do V2 cung cấp vào mục mã Code thì đến 12 giờ 12 phút cùng ngày, anh T6 nhận được thông báo là tài khoản thẻ đã thanh toán 43.300.000 đồng tại cửa hàng Đ1. Sau đó, anh T6 liên hệ với hệ thống Điện máy xanh thì được biết thẻ tín dụng của anh T6 đã được sử dụng để thanh toán mua 01 điện thoại động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max màu đen Titanium và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng tại cửa hàng Đ1 tại địa chỉ E N, phường N, TP., Phú Thọ.

Ngày 21/11/2023, do nhận thức được hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật, Nguyễn Văn N, Tạ Văn T2 và Hoàng Thị Kiều D đã đến Công an quận N đầu thú khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

* Vật chứng thu giữ:

  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen, IMEI 356545106466307 gắn 01 sim.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Aris, màu xanh, IMEI 355173111096497 gắn 01 sim.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, IMEI 352872331799797 gắn 01 sim.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, Imei 356728116573599 gắn 01 sim.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S8, màu hồng.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S8, màu đen.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, I 356786287430148 nguyên hộp.
  • - 01 sạc điện thoại nhãn hiệu Apple, serial FNT3194D9PFPLX2AF nguyên hộp.
  • - 03 hóa đơn mua bán tại Cửa hàng Đ1 số A H. TP V, tỉnh Phú Thọ, cửa hàng T15 số B H, TP V, tỉnh Phú Thọ và cửa hàng Đ1 địa chỉ E N, phường N, TP V, Phú Thọ ngày 7/11/2023.

Đối với thẻ tín dụng bị chiếm đoạt được nhóm T7 sử dụng tại F tại địa chỉ F T, phường T, Cầu G, Hà Nội, cơ quan điều tra xác định số thẻ tín dụng Master C đã được D sử dụng là 515532******9746, Cơ quan CSĐT đã có văn bản yêu cầu Công ty CP D3 (là đơn vị nhận thanh toán trung gian máy POS của cửa hàng) và Công ty CP B cung cấp thông tin chi tiết về số thẻ đã thanh toán để xác định người bị hại. Kết quả, hai đơn vị đều xác nhận đã có phát sinh giao dịch đối với số thẻ trên tuy nhiên không có thông tin chi tiết của thẻ đã thanh toán.

Đối với các thẻ tín dụng bị chiếm đoạt đã được nhóm T7 sử dụng để thanh toán tại cửa hàng T15 số B H, TP V, tỉnh Phú Thọ và cửa hàng Đ1, TP V, tỉnh Phú Thọ, Cơ quan điều tra đã có văn bản yêu cầu Công ty CP T16 cung cấp thông tin, kết quả trả lời như sau:

  • + Số thẻ 52039967...8034 thanh toán số tiền 19.900.000 đồng tại cửa hàng T15 di động B H, TP V, tỉnh Phú Thọ lúc 13 giờ 35 phút ngày 07/11/2023.
  • + Số thẻ 52039967....9381 thanh toán số tiền 30.000.000 đồng tại cửa hàng T15 di động B H, TP V, tỉnh Phú Thọ lúc 13 giờ 34 phút ngày 07/11/2023.
  • + Số thẻ 52039967....8648 thanh toán 30.000.000 đồng tại cửa hàng Đ1 số A H, TP V, tỉnh Phú Thọ lúc 14 giờ 27 phút ngày 07/11/2023.

Số tài khoản của công ty Cổ phần T16 nhận các số tiền trên là số 0441000615156 tại ngân hàng V1. Công ty Cổ phần T16 xác nhận các giao dịch trên được thực hiện thông qua ứng dụng Samsung Pay, số thẻ thanh toán của khách hàng đã bị mã hóa, không chính xác so với số thẻ thực tế giao dịch. Cơ quan điều tra đã có văn bản yêu cầu ngân hàng V1 cung cấp sao kê giao dịch của tài khoản 0441000615156 của Công ty Cổ phần T16 để phục vụ việc xác minh, xác định người bị hại nhưng đến nay chưa có kết quả trả lời.

Đối với các vụ do T7, N, T2 và D sử dụng thẻ tín dụng bị chiếm đoạt để giao dịch mua hàng tại cửa hàng F địa chỉ FT, phường T, quận C, TP Hà Nội ngày 11/9/2023; Tại cửa hàng T15 số B H, TP V, tỉnh Phú Thọ và cửa hàng Đ1, TP V, tỉnh Phú Thọ, do cơ quan điều tra chưa xác định được người bị hại là chủ sở hữu nên đã ra Quyết định tách hành vi, tài liệu liên quan đối với các hành vi trên để tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ sau.

Đối với tài khoản số 1608868686 mang tên Ngô Mạnh T7 tại ngân hàng A1 và tài khoản số 0300123128888 mang tên Ngô Mạnh T7 tại ngân hàng M, quá trình điều tra xác định chủ 02 tài khoản trên là bị cáo Ngô Mạnh T7.

Đối với Thân Đức A (Sinh năm: 2002; Nơi thường trú: N, Hoàng T12, H, Bắc Giang) - người từng được Ngô Mạnh T7 thuê làm nhân viên, tại cơ quan điều tra, Thân Đức A khai: đầu tháng 09/2023, Thân Đức A được T7 thuê làm nhiệm vụ chở T7 đến các cửa hàng điện thoại để T7 vào trực tiếp mua điện thoại với tiền công 500.000 đồng/ngày. Đức A đi cùng T7 khoảng 04 lần nhưng không vào cửa hàng. Sau khi được T7 cho tham gia nhóm T8 “Dứt”, Đức A nhận thức được việc làm của T7 có thể là hành vi vi phạm pháp luật nên đã chủ động rời nhóm T8, không tham gia thực hiện hành vi phạm tội cùng T7. Do đó, chưa đủ căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với Thân Đức A.

Đối với Bùi Văn N1 - người mua các chiếc điện thoại của T7, tại cơ quan điều tra, N1 khai: các chiếc điện thoại T7 bán cho N1 đều có hóa đơn mua bán rõ ràng, bản thân N1 mua lại với giá đúng với mức giá thị trường và bán lại cho người khác để hưởng chênh lệch. Khi bán, T7 nói với N1 đây là các điện thoại T7 có được nhờ mua có mã giảm giá nên N1 không biết nguồn gốc của các điện thoại đã mua của T7 là do phạm tội mà có. Do đó, chưa đủ căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với Bùi Văn N1.

Đối với chị Lê Ngọc T11, quá trình điều tra xác định Bùi Văn N1 chỉ nhờ chị T11 chuyển khoản tiền mua điện thoại cho Ngô Mạnh T7, chị T11 không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của Ngô Mạnh T7 nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với anh Nguyễn Văn Đ - chủ xe ô tô mà N thuê lái, quá trình điều tra xác định khi thuê xe, N nói với anh Đ để phục vụ nhu cầu đi lại, anh Đ không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của N. Do đó, cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với bị cáo Ngô Mạnh T7, quá trình điều tra xác định T7 vắng mặt tại địa phương. Ngày 15/02/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã số 956A đối với Ngô Mạnh T7.

Đối với số thuê bao 0983411938 - số điện thoại N cung cấp cho cửa hàng Thế giới di động địa chỉ tại số B H, TP V, tỉnh Phú Thọ và số thuê bao 0382547351 - số điện thoại D đăng ký mua hàng tại cửa hàng F tại địa chỉ F T, phường T, Cầu G, Hà Nội, Cơ quan điều tra đã gửi yêu cầu cung cấp chứng cứ, đồ vật, tài liệu, dữ liệu điện tử đến Tập đoàn C1 nhưng đến nay chưa nhận được kết quả trả lời.

Đối với số thuê bao 0911292682 - số đối tượng chưa xác định sử dụng để liên hệ với anh Võ Quang T6, Cơ quan điều tra đã gửi yêu cầu cung cấp chứng cứ, đồ vật, tài liệu, dữ liệu điện tử đến Ban khai thác mạng - Tổng công ty H3 nhưng đến nay chưa nhận được kết quả trả lời.

Đối với số thuê bao 0879898229 - số N cung cấp cho cửa hàng Điện máy xanh số 1606A H, TP V, tỉnh Phú Thọ, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh xác định chủ thuê bao là Dương Văn H2 (Sinh năm: 1991; Nơi thường trú: thôn C, xã C, P, Vĩnh Phúc). Tại cơ quan điều tra, H2 khai hiện đang sử dụng số thuê bao 0879898229 từ năm 2018 đến nay, không quen biết với Nguyễn Văn N, Tạ Văn T2, Hoàng Thị Kiều D2 và Ngô Mạn T13, không sử dụng số điện thoại trên để đặt mua hàng tại cửa hàng Thế giới di động hoặc Điện máy xanh. Do đó, cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý với Dương Văn H2.

Đối với các chiếc điện thoại mà nhóm của Ngô Mạnh T7 đã sử dụng thẻ tín dụng để mua hàng, cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm vật nhưng đến nay chưa thu giữ được vật chứng.

Xác minh tại Trung tâm 11 - Bộ T17 về trang web http://vpbhanmucthevisa.comxác định chủ thể đăng ký tên miền là Lương Bình N2, địa chỉ tại TDP D, TT P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định ủy thác điều tra đến cơ quan có thẩm quyền nhưng đến nay chưa nhận được kết quả trả lời.

Ngày 16/02/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình sự số 961 về hành vi của bị cáo Ngô Mạnh T7 sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của anh Võ Quang T6 và Quyết định tách hành vi tài liệu liên quan đến hành vi, tài liệu của Ngô Mạnh T7, Nguyễn Văn N, Tạ Văn T2 và Hoàng Thị Kiều D khi sử dụng thẻ tín dụng đã chiếm đoạt được để giao dịch tại cửa hàng F địa chỉ F T, phường T, quận C, TP Hà Nội ngày 11/9/2023; giao dịch tại cửa hàng T15 số BH, TP V, tỉnh Phú Thọ và giao dịch tại cửa hàng Đ1 số A H, TP V, tỉnh Phú Thọ; hành vi của Thân Đức A khi đi cùng Ngô Mạnh T7 để mua các điện thoại bằng thẻ tín dụng đã chiếm đoạt được tại thời điểm đầu tháng 09/2023; hành vi mua bán điện thoại của Bùi Văn N1 với Ngô Mạnh T7 trong ngày 07/11/2023; tài liệu liên quan đối với chủ thuê bao "0983411938" là số điện thoại N cung cấp cho cửa hàng T15 di động số B H, TP V, tỉnh Phú Thọ; Chủ thuê bao số “0911292682” là số đối tượng chưa xác định sử dụng để liên hệ với anh Võ Quang T6; kết quả ủy thác ghi lời khai Lương Bình N2, địa chỉ tại TDP D, TT P, huyện B, tỉnh Lào Cai - người đăng ký tên miền https://vpbhanmucthevisa.comNgày 16/02/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tạm đình vụ án hình sự đối với bị cáo số 959, Quyết định tạm đình chỉ bị cáo số 960 đối với Ngô Mạnh T7.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Anh T6 đã nhận đủ tiền bồi thường và không có yêu cầu gì về dân sự nên HĐXX không xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Sung quỹ nhà nước:

  • - 01 điện thoại Iphone 11, màu đen, IMEI 356545106466307, gắn 01 sim. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và tình trạng bên trong của máy.
  • - 01 điện thoại Iphone 12 Pro Max, màu xanh, I, gắn 01 sim. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và tình trạng bên trong của máy.
  • - 01 điện thoại Vsmart Aris, màu xanh, IMEI 355173111096497, gắn 01 sim. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và tình trạng bên trong của máy - cho Tạ Văn T2.
  • - 01 điện thoại Iphone 14 Pro Max, màu tím, IMEI 352872331799797, gắn 01 sim. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và tình trạng bên trong của máy, máy bị hỏng màn.
  • - 01 điện thoại Samsung Galaxy S8, màu hồng. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và tình trạng bên trong của máy, máy bị hỏng màn.
  • - 01 điện thoại Samsung Galaxy S8, màu đen. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và tình trạng bên trong của máy, máy bị hỏng màn.
  • - 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, Imei 356786287430148 còn nguyên trong hộp.
  • - 01 sạc điện thoại nhãn hiệu Apple, serial FNT3194D9PFPLX2AF còn nguyên trong hộp.

[8] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N, Tạ Văn T2 và Hoàng Thị Kiều D về tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

  • + Áp dụng điểm a, khoản 2, Điều 290; điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:
  • Xử phạt: Bị cáo Tạ Văn T2 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.
  • Giao bị cáo cho UBND phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
  • + Áp dụng điểm a, khoản 2, Điều 290; điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:
  • Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.
  • Giao bị cáo cho UBND phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
  • + Áp dụng điểm a, khoản 2, Điều 290; điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:
  • Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thị Kiều D 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.
  • Giao bị cáo cho UBND xã H, huyện B, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo Nguyễn Văn N, Tạ Văn T2 và Hoàng Thị Kiều D đang bị tạm giam, nếu các bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm khác.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành án phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về dân sự:

Bị hại đã được bồi thường và không có yêu cầu gì về dân sự nên HĐXX không xem xét.

3. Xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

4. Sung quỹ nhà nước:

  • - 01 điện thoại Iphone 11, màu đen, IMEI 356545106466307, gắn 01 sim. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và tình trạng bên trong của máy.
  • - 01 điện thoại Iphone 12 Pro Max, màu xanh, I, gắn 01 sim. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và tình trạng bên trong của máy.
  • - 01 điện thoại Vsmart Aris, màu xanh, IMEI 355173111096497, gắn 01 sim. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và tình trạng bên trong của máy - cho Tạ Văn T2.
  • - 01 điện thoại Iphone 14 Pro Max, màu tím, IMEI 352872331799797, gắn 01 sim. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và tình trạng bên trong của máy, máy bị hỏng màn.
  • - 01 điện thoại Samsung Galaxy S8, màu hồng. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và tình trạng bên trong của máy, máy bị hỏng màn.
  • - 01 điện thoại Samsung Galaxy S8, màu đen. Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng và tình trạng bên trong của máy, máy bị hỏng màn.
  • - 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, Imei 356786287430148 còn nguyên trong hộp.
  • - 01 sạc điện thoại nhãn hiệu Apple, serial FNT3194D9PFPLX2AF còn nguyên trong hộp.

4. Về án phí:

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Nguyễn Văn N, Tạ Văn T2 và Hoàng Thị Kiều D, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Các bị cáo, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo những phần liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • -Các bị cáo; bị hại; người có
  • quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm;
  • VKSND TP Hà Nội;
  • - TAND TPHN;
  • - Công an quận Nam Từ Liêm;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự
  • quận Nam Từ Liêm;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Phan Thị Kim Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 101/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Nguyễn Văn N, Tạ Văn T2 và Hoàng Thị Kiều D về tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” ( Điều 290 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger