Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:101/2024/HS-ST

Ngày: 06-9-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Lịnh

Thẩm phán: Ông Phan Văn Thuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Quang Bình

Ông Lê Minh Luân

Ông Trần Trương Hiển

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lý Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Danh C, sinh ngày 01/01/1974 tại huyện V, tỉnh Kiên Giang. Nơi thường trú: ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Khmer; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh N (chết), bà Thị S (chết); có vợ là Thị T, sinh năm 1974 và 01 người con, sinh năm 1997; tiền án: không, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 10/10/2023 đến nay (Có mặt tại phiên tòa).
  2. Họ và tên: Danh Căng, sinh ngày 01/01/1979 tại huyện V, tỉnh Kiên Giang. Nơi thường trú: ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Khmer; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh U (chết), bà Thị Đ (chết); có vợ là Thái Thị S1, sinh năm 1980 (đã ly hôn) và 02 người con, sinh năm 2004 và năm 2005; tiền án: không, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam: Không (Có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Danh C: Luật sư Đường Minh Q - Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh K (có mặt).

- Bị hại:

  1. Danh Căng, sinh ngày 01/01/1979 (Có mặt)
  2. Cư trú: ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.

  3. Danh Chiến, sinh ngày 01/01/1974 (Có mặt)
  4. Cư trú: ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.

- Người làm chứng:

  1. Bà Thị M sinh năm 1983 (vắng mặt).
  2. Địa chỉ: ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.

  3. Bà Thị T, sinh năm 1974 (có mặt).
  4. Địa chỉ: ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.

  5. Chị Thị Diễm H, sinh năm 2009 (vắng mặt).
  6. Địa chỉ: ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.

  7. Ông Danh Minh Đ1, sinh năm 1998 (vắng mặt).
  8. Địa chỉ: ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.

  9. Bà Thị p, sinh năm 1984 (vắng mặt)
  10. Địa chỉ: ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.

  11. Ông Danh L, sinh năm 1990 (có mặt)
  12. Địa chỉ: ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Danh Chiến; Danh Diệp; D; T là anh em ruột và có nhà ở cạnh nhau tại ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang. Buổi chiều ngày 10/8/2023, khi đang uống rượu tại nhà Danh D cùng Thị M1 và một số người khác, Danh C chửi và la Thị M2 về việc có quan hệ với D1 Căng người ở cùng xóm. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, có người điện cho Danh C1 cho biết Danh C chửi Thị Mười về vụ việc trên, Danh C1 bực tức nên đi bộ đến tìm Danh C để hỏi chuyện, khi đi có lấy cây dao yếm ở nhà mang theo.

Khoảng 21 giờ 00 cùng ngày, D1 Căng đến vị trí lộ trước nhà của Thị M2 dấu cây dao yếm vào bụi mía rồi đứng ngoài lộ kêu C ra với lời lẽ thách thức đánh nhau. Lúc đó, Danh C cũng trong tình trạng đã uống rượu và đang nằm ngủ trong nhà, nghe tiếng Danh Căng bên ngoài đến gây sự với mình nên C lấy 01 cây dao Thái Lan cán màu vàng, dài 21,5cm, mũi nhọn bỏ vào túi quần và chạy ra phía sau nhà của Danh D (phía ngoài cập vách nhà) và lấy thêm 01 (một) khúc gỗ (dài 113cm, có đầu vuông, kích cở 3.5cm x 3.5 cm) và 01 (một) khúc kim loại (dài 76,5cm, đường kính 3,5cm) cầm trên tay chạy qua phía nhà của thị M2 đánh Danh C1. Thấy vậy, Danh C1 đi vào trong khu vực nhà bếp của Thị Mười thấy cây dao yếm trên vách nhà nên lấy cầm trên tay phải. Khi Danh C chạy đến cửa nhà T thì Thị T (vợ C) đứng bên ngoài ngăn cản và giật lấy khúc gỗ trên tay của C, còn lại khúc kim loại Danh C cầm xông vào nhà đánh D1 Căng trúng vùng ngực trái, được Danh L, Thị P can ngăn và giật lấy khúc kim loại trên tay của C vứt bỏ ra ngoài cửa. Lúc này, Danh C1 cầm dao yếm xông vào chém vào người C, C lấy cây dao ngắn (loại dao thái lan) từ trong túi quần (đã chuẩn bị sẵn từ nhà) tiếp tục xông tới ẩu đả với C1. Căng dùng dao yếm chém C 02 nhát trúng ở mũi, môi và ngực; C cầm dao trên tay trái đâm lại C1 02 nhát trúng vùng ngực và bụng. Căng bị đâm gây thương tích đã ngã quỵ xuống tại chỗ và bất tỉnh. Sau đó, C và C1 được mọi người đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện V, riêng C1 bị thương tích nặng nên được chuyển lên Bệnh viện Đa khoa tỉnh K để cấp cứu và điều trị đến ngày 21/8/2023 ra viện.

Kết quả trưng cầu giám định:

* Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 732/KLTTCT- PY ngày 22/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh K đối với Danh C1 kết luận như sau:

  1. Các kết quả chính:
    • Vết thương vùng ngực trái (liên sườn II-III), thấu vào khoang màng phổi tràn khí màng phổi trái, đã được phẫu thuật dẫn lưu khoang màng phổi trái. Hiện còn dải xơ hóa phổi - dày dính màng phổi nơi vết thương.
    • Vết thương vùng bụng (thượng vị), gây (đứt) mũi xương ức, xuyên gan hạ phân thùy II-III, thủng mạc nối nhỏ, đã được phẫu thuật điều trị.
    • Chấn thương trực trái, gãy xương sườn VII, VIII bên trái, xương không di lệch đã cal xương.
  2. Kết luận:
    1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Danh C1 tại thời điểm giám định là 48% (Bốn mươi tám phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
    2. Vật gây thương tích:
      • Thương tích vùng ngực trái (liên sườn II-III) và vùng bụng (thượng vị) do vật sắc nhọn gây nên.
      • Chấn thương ngực trái gãy xương sườn VII, VIII bên trái do vật tày gây nên.
    3. Về chức năng bộ phận cơ thể: Các thương tích hiện không gây hạn chế chức năng bộ phận cơ thể.

* Tại bản Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 903/KLTTCT-PY ngày 28/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh K đối với Danh C2 luận như sau:

Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định ở:

  • Vùng ngực trái, khoang liên sườn II-III là: 10,59% (Mười phẩy năm mươi chín phần trăm).
  • Vết thương vùng bụng (thượng vị) là 38,96% (Ba mươi tám phẩy chín mươi sáu phần trăm).
  • Vùng ngực trái là: 3,96% (Ba phẩy chín mươi sáu phần trăm).
    • + Gãy xương sườn VII là: 02% (Hai phần trăm).
    • + Gãy xương sườn VIII là: 02% (Hai phần trăm).

* Tại bản Kết luận giám định vật gây thương tích số: 733/KLVGTT-PY ngày 22/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh K đối với Danh C1 kết luận như sau:

  1. Các kết quả chính:
    • Mẫu vật (cây dao) gửi giám định là dạng vật sắc nhọn.
    • Thương tích ở vùng ngực trái (liên sườn II-III) và vùng bụng (thượng vị) của Danh C1 do vật sắc nhọn gây nên.
    • Thương tích gãy xương sườn số VII, VIII bên trái của Danh C1 do vật tày gây nên.
  2. Kết luận:

    Căn cứ kết quả giám định vật gây thương tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến, xác định:

    • Mẫu vật (Cây dao) gửi giám định có thể gây được thương tích ở vùng ngực trái (liên sườn II-III) và vùng bụng (thượng vị) của Danh C1.
    • Mẫu vật (Cây dao) gửi giám định không gây được thương tích gãy xương sườn số VII, VIII bên trái của Danh C1.

* Tại bản Kết luận giám định bổ sung vật gây thương tích số: 902/KL.VGTT-PY ngày 28/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh K đối với Danh C2 luận như sau:

  1. Các kết quả chính:
    • Mẫu vật (đoạn ống kim loại) gửi giám định là dạng vật tày.
    • Chấn thương ngực trái gãy xương sườn VII, VIII bên trái do vật tày gây nên.
  2. Kết luận:

    Căn cứ kết quả giám định vật gây thương tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến, xác định: Mẫu vật (đoạn ống kim loại) gửi giám định có thể gây được thương tích vùng ngực trái gãy xương sườn VII, VIII bên trái của Danh C1.

* Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 691/KI. TTCT- PY ngày 11/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh K đối với Danh C kết luận như sau:

  1. Kết quả chính:
    • Sẹo phần mềm vùng mũi bên phải, môi trên và vùng ngực.
    • Vùng môi dưới hiện không có thương tích.
  2. Kết luận:
    1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Danh C tại thời điểm giám định là: 08% (T1 phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
    2. Vật gây thương tích:
      • Thương tích vùng mũi bên phải, môi trên và vùng ngực do vật có cạnh sắc gây nên.
      • Hiện tại vùng môi dưới không có thương tích nên không có cơ sở kết luận vật gây thương tích.

* Tại bản Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 901/KLTTCT-PY ngày 28/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh K đối với Danh C3 luận như sau:

Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giảm định ở:

  • Vùng mũi bên phải là: 03% (Ba phần trăm).
  • Vùng môi trên là: 03% (Ba phần trăm).
  • Vùng ngực là: 02% (Hai phần trăm).
  • Vùng môi dưới là: 00% (Không phần trăm).

* Tại bản Kết luận giám định vật gây thương tích số: 692/KLVGTT-PY ngày 11/9/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh K đối với Danh C, sinh năm 1974. Địa chỉ: ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang như sau:

  1. Các kết quả chính:
    • Mẫu vật (cây dao) gửi giám định là dạng vật có cạnh sắc.
    • Thương tích vùng mũi bên phải, môi trên và vùng ngực do vật có cạnh sắc gây nên.
    • Hiện tại vùng môi dưới không có thương tích nên không có cơ sở kết luận vật gây thương tích.
  2. Kết luận:

    Căn cứ kết quả giám định vật gây thương tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến, xác định: Mẫu vật (cây dao) gửi giám định có thể gây được thương tích ở vùng mũi bên phải, môi trên và vùng ngực của Danh C.

Vật chứng đã thu giữ gồm:

  • + 01 (một) cây dao ngắn dài 21,5 cm cán bằng nhựa dài 10.5cm, màu vàng, có lổ rỗng ở đầu cán, lưỡi dao bằng kim loại dài 11cm, sắc bén, mũi nhọn, nơi rộng nhất 02cm.
  • + 01 (một) cây dao yếm dài 35cm, cán dao bằng kim loại dài 10cm, hình tròn, lưỡi dao dài 25cm, bằng kim loại bén, mũi dao bầu, một bề sống, một bề lưỡi, dao đã qua sử dụng.
  • + 01 (một) ống kim loại dài 76,5cm, đường kính 3,5cm, tân ống nhiều vị trí và 01 đầu bị móp, biến dạng.

Phần trách nhiệm dân sự:

Trong giai đoạn điều tra, Danh Căng có ý kiến yêu cầu Danh C bồi thường thiệt hại tổng cộng 63.567.666đ; Ngược lại, Danh C có ý kiến yêu cầu Danh Căng bồi thường thiệt hại tổng cộng 15.477.000đ. Gia đình Danh C đã bồi thường cho D1 Căng được 5.000.000đ, đồng thời Danh Căng thống nhất cấn trừ 15.477.000₫ phải bồi thường cho Danh C, nên Danh C còn phải bồi thường cho D1 Căng 43.090.666₫.

Tại bản Cáo trạng số: 81/CT - VKSTKG-P2 ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân tỉnh Kiên Giang đã truy tố Danh C về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự; truy tố Danh C1 về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • - Danh Chiến có ý kiến và có đơn rút lại yêu cầu xử lý hình sự đối với Danh C1; đồng ý chịu trách nhiệm tiếp tục bồi thường cho Danh C1 43.090.666₫.
  • - Danh Căng có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Danh C; yêu cầu Danh C bồi thường thiệt hại tổng cộng 63.567.666đ, đã nhận được 5.000.000đ và thống nhất cấn trừ 15.477.000đ bản thân phải bồi thường cho Danh C, nên Danh C còn phải bồi thường là 43.090.666₫.
  • - Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến đề nghị:
    • + Căn cứ Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự, đình chỉ vụ án về tội cố ý gây thương tích đối với bị cáo Danh C1, do bị hại Danh C rút đơn yêu cầu xử lý đối với Danh C1.
    • + Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 15 và Điều 57 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Danh C từ 12 đến 13 năm tù.
    • + Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 585, 590 Bộ luật dân sự, ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa Danh C và Danh C1 như trên.
  • + Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây dao ngắn dài 21,5 cm cán bằng nhựa dài 10.5cm, màu vàng, có lỗ rỗng ở đầu cán, lưỡi dao bằng kim loại dài 11cm, sắc bén, mũi nhọn, nơi rộng nhất 02cm; 01 (một) cây dao yếm dài 35cm, cán dao bằng kim loại dài 10cm, hình tròn, lưỡi dao dài 25cm, bằng kim loại bén, mũi dao bầu, một bề sống, một bề lưỡi, dao đã qua sử dụng và 01 (một) ống kim loại dài 76,5cm, đường kính 3,5cm, thân ống nhiều vị trí và 01 đầu bị móp, biến dạng.
  • - Người bào chữa cho bị cáo Danh C có ý kiến đề nghị áp dụng cho bị cáo Danh C các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b (vì đã tự nguyện bồi thường tổng cộng 20.477.000đ); điểm e (bị kích động tinh thần do hành vi trái pháp luật của bị hại gây ra); điểm s (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự, xử bị cáo C mức án nhẹ nhất có thể, nhẹ hơn mức đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi bị truy tố của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo Danh C, Danh C1 khai nhận đã thực hiện hành vi như truy tố của Viện kiểm sát. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định,... Từ đó có căn cứ để kết luật hành vi bị cáo Danh C thực hiện có đủ yếu tố cấu thành tội giết người quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo Danh C1 thực hiện có đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát.

[3] Tại phiên tòa, Danh C với tư cách là bị hại từ hành vi cố ý gây thương tích của bị cáo Danh C1, có ý kiến và có đơn rút lại yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo Danh C1.

Xét thấy, Danh C1 bị khởi tố, truy tố và đưa ra xét xử về tội cố ý gây thương tích theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là theo yêu cầu của bị hại Danh C, nhưng tại phiên tòa bị hại Danh C có ý kiến và có đơn rút lại yêu cầu xử lý hình sự đối với Danh C1. Việc rút yêu cầu của bị hại Danh C là tự nguyện, nên căn cứ vào Điều 55 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử đình chỉ vụ án về tội cố ý gây thương tích đối với Danh C1.

[4] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo Danh C:

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì những việc không đáng đã cố ý dùng hung khí nguy hiểm xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng người khác, thể hiện sự xem thường, bất chấp kỹ cương pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã trực tiếp đưa tiền và thỏa thuận trừ cấn nghĩa vụ với bị hại D1 Căng bồi thường được 20.477.000đ, chiếm một phần đáng kể trên tổng số tiền bị cáo chịu trách nhiệm bồi thường mà hai bên thỏa thuận; bị hại yêu cầu giảm hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đồng thời bị cáo phạm tội chưa đạt nên được áp dụng Điều 57 Bộ luật hình sự khi quyết định mức hình phạt, và cũng thấy rằng có thể áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử bị cáo hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

Về ý kiến của người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự (bị kích động tinh thần do hành vi trái pháp luật của bị hại gây ra) là không có cơ sở để chấp nhận. Bởi lẽ, mặc dù trước đó Danh C1 đến kiếm bị cáo để gây sự nhưng đã được mọi người cang ngăn và Danh C1 đã bỏ đi nơi khác, sự việc đã chấm dứt, bị cáo lại chủ động cầm hung khí đi tìm Danh C1 và mặc dù được người thân trong gia đình can ngăn nhưng bị cáo vẫn quyết liệt thực hiện cho bằng được hành vi phạm tội là thể hiện sự hung hăng côn đồ của bản thân chứ không phải bị kích đồng về tinh thần do hành vi trái pháp luật của Danh C1 gây ra đối với bị cáo.

Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và một phần ý kiến đề nghị của người bào chữa cho bị cáo, quyết định xử phạt bị cáo một mức hình phạt tù tương xứng tính chất, mức độ phạm tội để cải tạo giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm răn đe cảnh tỉnh chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa giữa bị cáo Danh C và bị hại Danh C1 đã thỏa thuận thống nhất việc bồi thường thiệt hại như nêu trên. Thấy rằng, đây là sự tự nguyện của hai bên và không trái pháp luật nên ghi nhận.

[6] Về biện pháp tư pháp: Đối với các vật chứng đã thu giữ gồm dao, đoạn kim loại là công cụ bị cáo dùng làm hung khí thực hiện hành vi phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[7] Về án phí, căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án:

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Danh C phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Danh C1 không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Danh C phải chịu 2.154.533đ (số tiền còn phải tiếp tục bồi thường 43.090.666đ x 5% = 2.154.533đ)

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Đình chỉ vụ án đối với bị cáo Danh C1 bị truy tố về tội cố ý gây thương tích.

  2. Tuyên bố bị cáo Danh C phạm tội “Giết người”.
  3. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 15, Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

    Xử phạt bị cáo Danh C 08 (T1) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị tạm giam (ngày 10/10/2023).

  4. Về trách nhiệm dân sự, căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 585, 590 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Danh C phải tiếp tục bồi thường cho bị hại D1 Căng 43.090.666₫ (Bốn mươi ba triệu không trăm chín mươi nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bị hại D1 Căng nếu bị cáo Danh C không bồi thường hoặc bồi thường không đủ số tiền nêu trên thì hàng tháng bị cáo Danh C còn phải trả tiền lãi cho bị hại D1 Căng theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  5. Về biện pháp tư pháp, căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:
    • - 01 (một) cây dao ngắn dài 21,5 cm cán bằng nhựa dài 10.5cm, màu vàng, có lỗ rỗng ở đầu cán, lưỡi dao bằng kim loại dài 11cm, sắc bén, mũi nhọn, nơi rộng nhất 02cm.
    • - 01 (một) cây dao yếm dài 35cm, cán dao bằng kim loại dài 10cm, hình tròn, lưỡi dao dài 25cm, bằng kim loại bén, mũi dao bầu, một bề sống, một bề lưỡi, dao đã qua sử dụng.
    • - 01 (một) ống kim loại dài 76,5cm, đường kính 3,5cm, tân ống nhiều vị trí và 01 đầu bị móp, biến dạng.

    (Hiện Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Kiên Giang đang quản lý theo Quyết định chuyển giao vật chứng số 49/QĐ-VKSTKG-P2 ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang và Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa đại diện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang lập ngày 09/7/2024).

  6. Về án phí, căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Danh C phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 2.154.533đ (Hai triệu một trăm năm mươi bốn nghìn năm trăm ba mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  7. Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 06/9/2024).

T2 hợp phần dân sự của bản án đượcthi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hánh án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Vụ giám đốc kiểm tra 1 (1);
  • - VKSND Cấp cao tại tp. HCM (1);
  • - TAND Cấp cao tại tp. HCM (1);
  • - VKSND tỉnh KG (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh KG (1);
  • - THADS tỉnh KG (1)
  • - CQĐT CA tỉnh KG (1);
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh KG (1);
  • - Trại tạm giam CA tỉnh KG;
  • - Bị cáo (2);
  • - Bị hại (2);
  • - Luật sư (1);
  • - Tổ hành chính tư pháp (1);
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu tòa hình sự (5).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Võ Văn Lịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về hình sự sơ thẩm (giết người)

  • Số bản án: 101/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Giết người)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Danh Chiến dùng dao chém bị hại niều nhát gây thương tích 48%, bị truy tố về tội giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger