|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 101/2024/HNGĐ-ST Ngày: 03 - 12 - 2024. V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Danh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Oanh và Ông Đặng Văn Hai.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Châu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 392/2024/TLST-HNGĐ, ngày 22 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn (không công nhận quan hệ vợ chồng) và nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 21 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị T - sinh năm: 1978.
Địa chỉ: A, ấp Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc T1 - sinh năm: 1981.
Địa chỉ (ĐKHKTT): 326/3, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ (nơi ở hiện tại): 133C/3, ấp Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Nguyên đơn và bị đơn cùng có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng tại tòa án; nguyên đơn là bà Huỳnh Thị T trình bày:
- Về hôn nhân: Bà T và ông T1 tự quen biết và tìm hiểu nhau thì được gia đình hai bên tác hợp, tổ chức đám cưới vào năm 2004, không đăng ký kết hôn, do bận đi làm ăn và không am hiểu pháp luật. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc; sau đó xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình, quan điểm sống không phù hợp, vợ chồng không có tiếng nói chung, không thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau; cuộc sống vợ chồng thường xuyên cự cãi, gây gổ; tuy ở chung nhà nhưng mạnh ai nấy sống, không còn tình cảm và quan tâm lẫn nhau. Nay bà T yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng với ông Nguyễn Ngọc T1.
- Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình chung sống có 02 con chung tên Huỳnh Minh N - sinh ngày: 03/3/2015 và Huỳnh Minh K - sinh ngày: 19/4/2019; hiện 02 con chung đang sống với bà T và ông T1. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được quyền nuôi 02 con chung; bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi 02 con chung sau ly hôn.
- Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà T xác định là không có tài sản chung, không có nợ chung; không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về chia tài sản chung và nợ chung.
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn là ông Nguyễn Ngọc T1 trình bày:
- Về hôn nhân: Ông T1 thống nhất theo lời trình bày của bà T về thời gian chung sống, có tổ chức đám cưới, không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung trong gia đình, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, không ai quan tâm đến ai. Nay ông T1 nhận thấy không còn tình cảm với bà T, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, vợ chồng không thể hàn gắn được nên ông T1 đồng ý ly hôn bà T.
- Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Có có 02 con chung tên Huỳnh Minh N - sinh ngày: 03/3/2015 và Huỳnh Minh K - sinh ngày: 19/4/2019; hiện 02 con chung đang sống với ông T1 và bà T. Khi ly hôn, ông T1 đồng ý giao 02 con chung cho bà T nuôi dưỡng; ông T1 không cấp dưỡng nuôi 02 con chung sau ly hôn.
- Về chia tài sản chung và nợ chung: Ông T1 xác định là không có tài sản chung, không có nợ chung; không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về chia tài sản chung và nợ chung.
Quá trình tham gia tố tụng tại tòa án, con của bà T và ông T1 là cháu Huỳnh Minh N trình bày: Khi cha mẹ ly hôn thì cháu N có nguyện vọng được sống chung với mẹ là bà Huỳnh Thị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là bà Huỳnh Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Ngọc T1 là loại vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Quá trình tham gia tố tụng: Nguyên đơn là bà Huỳnh Thị T và bị đơn là ông Nguyễn Ngọc T1 cùng có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy trường hợp vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu của bà Huỳnh Thị T về việc yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với ông Nguyễn Ngọc T1; Hội đồng xét xử nhận thấy: Bà T và ông T1 chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2014, trên cơ sở tự nguyện nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.
Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý...”.
Đồng thời, tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“1. N1, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...”.
Hội đồng xét xử xét thấy: Lẽ ra trong quá trình chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2014 đến nay, bà T và ông T1 phải có nghĩa vụ đăng ký kết hôn để được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp, nhưng bà T và ông T1 đã không tuân thủ việc kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T1 không có giá trị về mặt pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Hơn nữa, trong quá trình chung sống như vợ chồng; giữa bà T và ông T1 đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên gây gổ, cự cãi với nhau, cuộc sống gia đình không có hạnh phúc, không thể hàn gắn; vợ chồng không có sự thương yêu, quan tâm lẫn nhau. Tuy sống chung nhà nhưng mạnh ai nấy sống.
Quá trình tham gia tố tụng tại tòa án; cả bà T và ông T1 cùng xác định là không còn tình cảm với nhau, cuộc sống hôn nhân giữa bà T với ông T1 không có hạnh phúc, không thể hàn gắn, không thể tiếp tục chung sống, bà T và ông T1 đều có nguyện vọng được ly hôn. Tuy nhiên, do bà T và ông T1 không có đăng ký kết hôn đúng theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không thể công nhận sự thuận tình ly hôn cho các đương sự.
Tại khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này...”.
Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình; Hội đồng xét xử không công nhận bà T và ông T1 là vợ chồng.
- Về nuôi con chung: Khi ly hôn, bà T có yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung tên Huỳnh Minh N - sinh ngày: 03/3/2015 và Huỳnh Minh K - sinh ngày: 19/4/2019; hiện 02 con chung đang sống với bà T và ông T1. Về phía ông T1 cũng đồng ý giao 02 con chung cho bà T được quyền nuôi dưỡng 02 con chung sau khi ly hôn.
Hội đồng xét xử xét thấy; sự thỏa thuận về việc nuôi con chung sau ly hôn giữa bà T và ông T1 là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nguyện vọng của cháu N và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của 02 cháu nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Ông T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom 02 con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Tại khoản 1, khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, ....
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi 02 con chung sau ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về chia tài sản chung và nợ chung: Do các bên đương sự bà T và ông T1 cùng xác định là không có, không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị T phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các Điều 9, Điều 14, Điều 53, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên Xử:
- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Huỳnh Thị T và ông Nguyễn Ngọc T1.
- Về nuôi con chung: Bà Huỳnh Thị T được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con chung tên Huỳnh Minh N - sinh ngày: 03/3/2015 và Huỳnh Minh K - sinh ngày: 19/4/2019; hiện 02 con chung đang sống với bà T và ông T1.
- - Ông Nguyễn Ngọc T1 có trách nhiệm giao 02 con chung tên Huỳnh Minh N - sinh ngày: 03/3/2015 và Huỳnh Minh K - sinh ngày: 19/4/2019 cho bà Huỳnh Thị T trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng.
- - Ông Nguyễn Ngọc T1 có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom 02 con chung, không ai được cản trở.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về chia tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bà Huỳnh Thị T nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn). Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, bà T đã nộp ngày 22/10/2024 theo biên lai thu số: 0014115 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung được khấu trừ toàn bộ án phí phải nộp.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bà Huỳnh Thị T và ông Nguyễn Ngọc T1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo luật định./.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN (ký tên, ghi rõ họ tên)(ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Duy O - Đặng Văn Hai |
Trần Quốc Danh TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh ĐT;
- - VKSND huyện Lai Vung;
- - Chi cục THADS huyện Lai Vung;
- - Các đương sự;
- - Lưu Hồ sơ, Văn phòng.
Bản án số 101/2024/HNGĐ-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 101/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
