|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 101/2024/DS-PT
Ngày: 16/9/2024
“V/v tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hồng Vân
Các Thẩm phán: Ông Trần Quốc Sơn
Bà Trần Thị Thuý Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 24/2024/TLPT-DS ngày 03 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 45/2024/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 161/2024/QĐ-PT ngày 16 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1960; Nơi ĐKNKTT: Số A, ngách B, đường T, phường T, quận Đ, Thành phố Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: Thôn K, phường N, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1970; Địa chỉ: Số nhà F, đường Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Vương Duy Á, sinh năm: 1971; Trú tại: Tổ dân phố V, phường M, quận B, Thành phố Hà Nội; Hiện đang chấp hành án tại Trại giam S1, Cục C - Bộ
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1955; Địa chỉ: Xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi công tác: Văn phòng L; Địa chỉ: số A, đường K, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
C1. Địa chỉ: Xã C, huyện B, thành phố Hà Nội. Có đơn xin xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1977; Trú tại: số nhà F, đường Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Căn cứ vào đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T1 trình bày:
Do có mối quan hệ quen biết nhau nên từ năm 2009 đến 2020 ông Nguyễn Văn T có cho ông Nguyễn Văn Q vay tiền nhiều lần, quá trình vay và trả cụ thể như sau:
Ngày 01/8/2009 ông Nguyễn Văn T cho Nguyễn Văn Q vay số tiền 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu đồng) tiền mặt và 15.000 UDS; Ngày 30/6/2010 ông Nguyễn Văn T cho Nguyễn Văn Q vay số tiền 1.400.000.000 đồng (Một tỷ, bốn trăm triệu đồng) và 20.000 USD; Ngày 17/5/2010 ông Nguyễn Văn T cho ông ông Nguyễn Văn Q vay số tiền 700.000.000 đồng tiền mặt và 15.000 USD.
Ngày 06/6/2012 ông Nguyễn Văn Q viết giấy ghi nhận nợ tiền gốc 2.000.000.000 đồng (Đã quy đổi UDS ra tiền Việt Nam đồng) và tiền lãi còn 765.000.000 đồng, đã trả được 20.000.000 đồng.
Đến ngày 30/8/2012, ông Nguyễn Văn Q và ông Nguyễn Văn T viết giấy chốt nợ với nội dung ông Q còn nợ ông thể số tiền 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng) tiền gốc và lãi suất là 1.065.000.000 đồng.
Ngày 06/10/2012 ông Nguyễn Văn Q trả cho ông Nguyễn Văn T số tiền gốc 50.000.000 đồng và hẹn đến 08/10/2012 trả 50.000.000 đồng và đến ngày 18/10/2012 trả 50.000.000 đồng. Tuy nhiên ông Q đã không thực hiện theo cam kết mà tiếp tục khất nợ cụ thể:
- Ngày 11/10/2012 và ngày 19/10/2012 ông Nguyễn Văn Q viết giấy hẹn đến ngày 29/10/2012 trả cho ông T 50.000.000 đồng.
- Ngày 03/11/2012, ông Nguyễn Văn Q viết giấy hẹn trả 400.000.000 đồng chậm nhất vào ngày 30/12/2012.
- Ngày 29/12/2012, ông Nguyễn Văn Q viết giấy chốt nợ ông T tiền gốc là 2.000.000.000 đồng, tiền lãi là 1.305.000.000 đồng và hẹn đến ngày 15/01/2013 trả tiền nợ gốc 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng.
- Ngày 12/3/2013, ông Q viết giấy ghi nhận nợ tiền vay gốc ông T là 2.000.000.000 đồng và tổng tiền nợ lãi là 1.485.000.000 đồng.
Ngày 10/01/2014, ông Nguyễn Văn Q viết giấy hẹn ông T đến ngày 25 tháng 12 âm lịch sẽ trả cho ông T 50.000.000 đồng và đến ngày 10/4/2014 trả tiếp 300.000.000 đồng.
Tuy nhiên, sau rất nhiều lần viết giấy cam kết và thỏa thuận trả tiền nợ gốc và lãi nhưng ông Q vẫn không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình. Tính đến thời điểm chốt nợ ngày 12/3/2013 cho đến khi nộp đơn khởi kiện ông Q mới trả được cho ông T 1.000.000.000 đồng (trong đó trả tiền mặt là 760.000.000 đồng và chuyển khoản 240.000.000 đồng).Việc trả bằng tiền mặt có giấy biên nhận do anh Q lưu giữ; chuyển khoản qua V số tiền 240.000.000 đồng (có bảng sang kê đã gửi cho Tòa án). Số tiền còn lại ông Q không thanh toán như đã thỏa thuận mặc dù ông T đã nhiều lần liên hệ yêu cầu ông Q trả nợ nhưng ông Q vẫn không trả.
Do đó, đến ngày 06/01/2020 ông T đi cùng ông Vương Duy Á đến nhà ông Q. Tại đây, ông Q và ông T cùng thống nhất chốt nợ bằng giấy thỏa thuận và chốt nợ ngày đề 06/01/2020 mà ông Q cung cấp bản gốc giấy này cho cho Tòa án là đúng. Tại giấy này thể hiện ông Q còn nợ ông T số tiền 2.000.000.000 (Hai tỷ) đồng tiền gốc và chưa đề cập đến tiền lãi. Sau đó, ông T đã đưa bản gốc giấy chốt nợ này cho ông Vương Duy Á để ông Á thu hồi nợ từ ông Q cho ông T, khoảng một tuần sau ông T làm văn bản ủy quyền cho ông Á thu hồi nợ từ ông Q. Sau khoảng hai tháng ông Á không thu hồi nợ mà có dấu hiệu gian dối do đó ông T đã thôi việc ủy quyền với ông Á đồng thời thông báo với ông Q bằng đường bưu điện và trực tiếp đến nhà ông Q báo cho ông Q là không thanh toán tiền nợ của ông T cho cho ông Á và ông T liên hệ với ông Á để lấy lại bản gốc giấy chốt nợ đề ngày 06/01/2020 nhưng ông Á không đưa.
Việc ông Q và ông Á trình bày ông T gán nghĩa vụ trả nợ từ ông T trả cho ông Á số tiền 400.000.000 đồng sang ông Q trả cho ông Á số tiền 400.000.000 đồng là hoàn toàn không đúng. Giữa ông T và ông Á không có phát sinh bất kỳ giao dịch nào.
Ngoài việc ủy quyền cho ông Vương Duy Á ông T không ủy quyền cho bất kỳ ai thu nợ từ ông Q. Ông Q khai đã trả cho một người tên D (Không rõ lai lịch, địa chỉ số tiền 1.600.000.000 đồng và thu hồi giấy gốc thỏa thuận chốt nợ đề ngày 06/01/2020 là hoàn toàn không đúng. Nếu ông Q cho rằng đã trả số tiền 1.600.000.000 đồng thì trả cho ai và trả bằng hình thức nào, tài liệu nào chứng minh ông Q đã trả số tiền 1.600.000.000 đồng.
Việc ông Q không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đã gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông T nên nay ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn Q phải có nghĩa vụ trả tiền gốc 2.000.000.000 đồng theo giấy thỏa thuận chốt nợ ngày 06/01/2020 và tiền lãi từ năm 2010 theo giấy vay
tiền đề ngày 30/6/2010 cho đến thời điểm nộp đơn khởi kiện là 11 năm. Giấy vay tiền đề ngày 30/6/2010 có thỏa thuận lãi suất là 100.000.000 đồng/1 tháng. Tuy nhiên, mức lãi suất này là quá cáo và không phù hợp với quy định của pháp luật nên nay yêu cầu tính lãi 20%/1 năm theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ Luật dân sự 2015 là: 2.000.000.000 đồng x 11 (năm) x 20% = 4.400.000.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả là 6.400.000.000 đồng (Sáu tỷ, bốn trăm triệu đồng). Trong đó gốc 2.000.000.000 đồng và tiền lãi 4.400.000.000 đồng.
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày: Ông T hoàn toàn nhất trí với phần trình bày và yêu cầu của người đại diện ủy quyền. Ngoài ra nguyên đơn không có yêu cầu gì thêm.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn Q trình bày: Ông Q thừa nhận do có mối quan hệ quen biết nên vào năm 2009 ông có vay tiền của ông Nguyễn Văn T như ông T trình bày là đúng. Trong quá trình vay, thanh toán tiền gốc, tiền lãi đều có viết giấy, tất cả các giấy tờ liên quan đến việc vay và thanh toán do ông T lưu giữ. Do hai bên có nhiều giấy thể hiện việc vay mượn và thanh toán nên vào ngày 06/01/2020 ông T đi cùng một người nữa (Là ông Vương Duy Á) đến nhà ông tại phường Đ, thành phố V. Sau khi làm việc ông và ông Thể thống N1 lập giấy chốt đề ngày 06/01/2020 với nội dung tất cả các khoản tiền gốc, lãi mà ông đã vay ông T từ năm 2009 cho đến ngày 06/01/2020 là 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) và không có phát sinh gì thêm, tất cả các giấy vay nợ cũ không có giá trị thanh toán đối với ông Q, có người làm chứng là ông Vương Duy Á cùng ký.
Cũng tại thời điểm đó, ông T gán nghĩa vụ trả nợ từ ông T có nghĩa vụ trả cho ông Vương Duy Á số tiền 400.000.000 đồng sang ông Q có nghĩa vụ trả cho ông Á số tiền 400.000.000 đồng. Việc này có thỏa thuận ba bên được ông Á ghi vào sổ của ông Á. Sau đó ông Á cho ông Q trả dần số tiền 400.000.000 đồng hiện nay ông Q còn nợ ông Á khoảng hơn 100.000.000 đồng, (Ông Q không nhớ chính xác vì số nợ này do ông Á ghi và theo dõi, mọi giấy tờ ông Á giữ. Đối với số tiền này khi nào ông Á yêu cầu thì ông S có trách nhiệm trả cho ông Á. Sau đó ông T có cho một số người nữa đến nhà ông đòi nợ nhiều lần nhưng do chưa có nên ông chưa trả. Đến cuối năm 2020 có một người tên D (Không nhớ họ tên địa chỉ), ông D đi cùng một người nữa đến nhà ông đưa giấy chốt gốc đề ngày 06/01/2020 và Giấy chứng minh nhân dân của ông D yêu cầu ông trả tiền cho ông T. Thời điểm đó do mẹ ông đang ốm nặng nhà có rất nhiều người đến thăm, để tránh phiền phức nên vợ ông là bà Nguyễn Thị N đã trả số tiền 1.600.000.000 (Một tỷ, sáu trăm triệu đồng) cho người tên D và thu hồi giấy gốc đề ngày 06/01/2020. Vì trong giấy thỏa
thuận có nội dung “...khi có giấy này, viết ngày hôm nay anh Q mới thanh toán, ông T có thể ủy quyền cho người khác nhưng phải cầm giấy gốc đi và kèm theo chứng minh thư gốc”, do đó việc ông trả tiền cho ông D là đúng nội dung thỏa thuận. Khi trả không yêu cầu ông D viết giấy vì ông theo ông trong giao dịch vay mượn tiền giữa cá nhân với nhau khi trả hết nợ thì thu hồi giấy gốc, việc ông thu hồi giấy gốc và đã cung cấp cho Tòa án đó chính là tài liệu, chứng cứ chứng minh ông đã thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho ông T.
Nguyên đơn yêu cầu ông trả tiền lãi từ năm 2010 đến thời điểm nộp đơn khởi kiện với số tiền 4.400.000.000 đồng là không có căn cứ, tại giấy chốt nợ đề ngày 06/01/2020 đã thỏa thuận chốt lại là tổng số tiền ông Q nợ ông T là 2.000.000.000 đồng. Thời điểm đó ông đã yêu cầu ông T đưa các giấy vay và trả nợ giữa ông và ông T, ông T nói không mang theo lúc nào về Hà Nội sẽ hủy, do đó trong giấy thỏa thuận ngày 06/01/2020 đã ghi rất rõ “... hai bên đã thống nhất và xác nhận công nợ như trên là đúng không có phát sinh gì thêm, tất cả các giấy cũ không có giá trị thanh toán đối với ông Q” .... Vì vậy, đối với các giấy vay nợ, khất nợ giữa ông và ông T lập trước ngày 06/01/2020 đều không có giá trị. Ông thể dùng chính các giấy tờ trước đó để khởi kiện là không có căn cứ. Nay ông T yêu cầu trả tiền gốc và lãi ông không chấp nhận.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà có biết việc ông Nguyễn Văn Q (Chồng bà) vay tiền ông Nguyễn Văn T nhưng cụ thể vay bao nhiêu và thỏa thuận như thế nào bà không biết. Đến ngày 06/01/2020 ông T đi cùng ông Vương Duy Á đến nhà bà, sau đó ông Q và ông Thể thống N1 chốt nợ số tiền ông Q còn nợ ông T là 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng). Lúc đó bà có tham gia, chứng kiến, bà yêu cầu ông T đưa cho các giấy vay và trả nợ trước đây giữ ông Q và ông T nhưng ông T nói các giấy đó đang để ở Hà Nội không mang theo nên bà yêu cầu viết thêm nội dung “... tất cả giấy tờ ghi trước ngày 06/01/2020 không có giá trị ……”;
Sau đó ông T có ủy quyền cho ông Vương Duy Á để thu hồi nợ nhưng bản chất là gán nợ từ việc ông T có nghĩa vụ trả cho ông Á số tiền 400.000.000 đồng sang ông Q trả cho ông Á số tiền 400.000.000 đồng. Sau ông Á, ông T còn ủy quyền cho nhiều người khác nữa đến nhà bà để đòi nợ. Đến cuối năm 2020 ông T ủy quyền cho một người tên D (Bà không nhớ họ tên, địa chỉ) đến nhà đòi nợ nhiều lần. Khi ông D đến đòi nợ đi xe ô tô và xe còn căng biển công ty đòi nợ thuê, tại thời điểm đó mẹ chồng bà đang ốm nặng và rất nhiều người đến thăm hỏi, để tránh phiền phức cho gia đình cũng như việc làm ăn, kinh doanh của bà, nên bà đã lấy tiền riêng đứng ra trả nợ thay cho ông Q số tiền 1.600.000.000 đồng (Một tỷ, sáu trăm triệu đồng). Khi trả không yêu cầu ông D viết giấy nhận tiền vì ông D đưa
cho bà giấy chốt nợ gốc đề ngày 06/01/2020, bà nhận thức rằng khi trả tiền chỉ cần thu hồi được giấy nợ gốc là xong. Ngoài khoản tiền trả cho ông T bà còn trả hộ cho ông Q một số khoản nợ và mỗi lần trả bà đều thu hồi giấy nợ gốc để sau này nếu bà và ông Q ly hôn thì ông Q phải có trách nhiệm trả cho bà.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vương Duy Á tại biên bản lấy lời khai ngày 14/8/2024 trình bày:
Ông Vương Duy Á, ông Nguyễn Văn Q, ông Nguyễn Văn T có quan hệ quen biết nhau, việc ông T, ông Q và ông Á thống nhất chuyển nghĩa vụ 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng) ông T nợ ông Á sang ông Q phải có nghĩa vụ trả nợ cho ông Á sang ông Q chỉ là thoả thuận bằng miệng, không được lập thành văn bản. Tuy nhiên, ông Á không có chứng cứ chứng minh ông T vay ông Á 400.000.000 đồng, còn chứng cứ ông Q trả nợ cho ông Á 400.000.000 đồng là ông Q nhớ chứ ông Á chỉ nhớ ông Q nợ ông Á hơn 100 triệu đồng.
Bản án sơ thẩm số 45/2023/DS-ST ngày 28/9/2023, của Tòa án nhân thành phố Vinh đã quyết định:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đòi ông Nguyễn Văn Q trả số tiền 6.400.000.000 (Sáu tỷ, bốn trăm triệu đồng). Trong đó tiền gốc 2.000.000.000 đồng và tiền lãi 4.400.000.000 đồng
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 05/10/2023, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T kháng cáo, với nội dung không đồng ý toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Vinh. Yêu cầu huỷ bản án sơ thẩm, buộc ông Nguyễn Văn Q phải trả số tiền 6.400.000.000 (Sáu tỷ, bốn trăm triệu đồng). Trong đó tiền gốc 2.000.000.000 đồng và tiền lãi 4.400.000.000 đồng.
Tại phiên toà, nguyên đơn và người đại diện của nguyên đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Bị đơn không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng: Trong quá trình thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán được phân công đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng trình tự, thủ tục phiên tòa. Người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn T, sửa một phần bản án sơ thẩm buộc ông Nguyễn Văn Q trả cho ông T số tiền 400.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về việc vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vương Duy Á có đơn đề nghị vắng mặt và bà Nguyễn Thị N đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Vương Duy Á và bà Nguyễn Thị N.
[2] Xét nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Văn T1, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Về nội dung đưa người tên D vào tham gia với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, không xác định được họ tên và địa chỉ của người tên D nên không có căn cứ để xem xét yêu cầu này.
[2.2] Về nội dung yêu cầu ông Nguyễn Văn Q thanh toán cho ông Nguyễn Văn T số tiền 6.400.000.000 (Sáu tỷ, bốn trăm triệu đồng). Trong đó tiền gốc 2.000.000.000 đồng và tiền lãi 4.400.000.000 đồng. Hội đồng xét xử thấy rằng:
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn người đại diện của nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến năm 2020 ông Nguyễn Văn Q và ông Nguyễn Văn T có phát sinh nhiều giao dịch vay và thanh toán tiền với nhau. Đến ngày 06/01/2020, ông T và ông Q đã thống nhất chốt nợ bằng giấy thỏa thuận đề ngày 06/01/2020 với nội dung thống nhất ông Q còn nợ ông T số tiền 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) và các giấy vay nợ trước đó không còn giá trị, giấy xác nhận nợ do ông T quản lý. Điều đó khẳng đến thời điểm ngày 06/01/2020, ông Nguyễn Văn Q còn nợ ông Nguyễn Văn T số tiền 2.000.000.000 đồng như giấy chốt nợ đề ngày 06/01/2020 mà bị đơn cung cấp bản gốc cho Tòa án là đúng.
Nguyên đơn cho rằng là sau khi viết giấy chốt nợ ngày 06/01/2020 ông Q chưa trả tiền cho ông T. Ông Q có được giấy gốc chốt nợ ngày 06/01/2020 do ông Á đưa. Vì ông T có ủy quyền cho ông Vương Duy Á và đưa bản gốc giấy chốt nợ đề ngày 06/01/2020 cho ông Á để ông Á thu nợ từ ông Q. Sau đó, ông Á không thực hiện nội dung ủy quyền nên ông T đã chấm dứt ủy quyền với ông Á và yêu cầu ông Á trả lại bản gốc thỏa thuận đề ngày 06/01/2020 nhưng ông Á không trả.
Ngoài việc ủy quyền cho ông Á thu hồi nợ ông T không ủy quyền cho ai khác thu hồi nợ từ ông Q.
Ông Á trình bày ông có nhận uỷ quyền nhưng không ký vào bất cứ giấy tờ gì và cũng không nhận giấy tờ gì từ ông T nên ông không biết nội dung.
Bị đơn cho rằng đối với số tiền 2.000.000.000 đồng theo giấy chốt nợ ngày 06/01/2020, ông T đã gán nợ cho ông Á số tiền 400.000.000 đồng còn số tiền 1.600.000.000 ông Q đã trả cho người tên D và đã thu hồi giấy gốc.
Căn cứ vào nội dung ông T và ông Q thống nhất thoả thuận tại giấy chốt nợ thể hiện ông T có thể uỷ quyền cho người khác nhưng phải cầm giấy gốc đi và kèm theo chứng minh thư gốc mà không có nội dung khi đi đòi nợ phải có giấy uỷ quyền của ông T cho người đến thu nợ.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sau khi thống nhất xác nhận nợ thì giấy xác nhận nợ do ông T quản lý nhưng khi khởi kiện ông T không cung cấp giấy xác nhận nợ ngày 06/01/2020 để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện. Ông Q cho rằng đã trả hết nợ cho ông T và xuất trình bản gốc giấy xác nhận nợ 06/01/2020 để chứng minh cho lời khai của mình. Do đó, việc Toà án cấp sơ thẩm xác định ông Q đã trả đủ số nợ cho ông T là có căn cứ. Tuy nhiên, theo như ông Q đã trình bày trong tổng số 2.000.000.000 đồng tiền nợ gốc ông Q đã trả cho ông T 1.600.000.000 đồng, 400.000.000 đồng ông trả cho ông Á vì trước đó ông T có nợ ông Á số tiền 400.000.000 đồng và giữa ông T, ông Q và ông Á đã thoả thuận chuyển số nợ này cho ông Q trả cho ông Á thay ông T bằng hình thức chuyển khoản và trả tiền mặt.
Ông T không thừa nhận việc ông nợ ông Á số tiền 400.000.000 đồng, nên không có việc chuyển nghĩa vụ trả nợ như ông Q và ông Á khai. Ông Á không cung cấp được giấy vay nợ; ông Q không cung cấp được giấy trả tiền hoặc sao kê của ngân hàng thể hiện việc ông Q đã trả nợ cho ông Á thay ông T, đồng thời cả ông Á, ông Q không cung cấp được căn cứ có sự thoả thuận chuyển nghĩa vụ trả nợ từ ông T sang ông Q. Do đó, việc Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận việc ông Q đã thực hiện nghĩa vụ thay cho ông T số tiền 400.000.000 đồng là không có căn cứ, ảnh hưởng đến quyền lợi của ông T, cần chấp nhận một phần kháng cáo của ông T, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng buộc ông Q phải trả cho ông T số tiền 400.000.000 đồng.
[2.3] Đối với yêu cầu tính lãi: Nguyên đơn cho rằng theo giấy chốt nợ đề ngày 06/01/2020, các bên chỉ mới chốt nợ gốc chưa tính lãi nên nay nguyên đơn yêu cầu tính lãi từ thời điểm năm 2010 đến thời điểm nộp đơn khởi kiện là 11 năm với mức lãi suất 20% là 4.400.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại giấy gốc chốt nợ ngày 06/01/2020 có nội dung ...“Nay hai bên đã thống nhất và xác nhận công nợ như
trên là đúng không có phát sinh gì thêm, tất cả các giấy tờ cũ không có giá trị thanh toán đối với anh Q..” Nay nguyên đơn kháng cáo yêu cầu tính lãi từ năm 2010 đến thời điểm nộp đơn khởi kiện là không có căn cứ. Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận nội dung kháng cáo này, cần giữ nguyên như bản án sơ thẩm đã tuyên là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về án phí: Kháng cáo của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Do sửa bản án sơ thẩm về thực hiện nghĩa vụ trả nợ, nên ông Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 400.000.000 đồng phải trả cho ông Thể T2 quy định.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Văn T; sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm theo hướng buộc ông Nguyễn Văn Q phải trả cho ông Nguyễn Văn T số tiền 400.000.000 đồng.
- Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Trong trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 148, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 275, Điều 463, 465, 466 và 469 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T.
Buộc ông Nguyễn Văn Q phải trả cho ông Nguyễn Văn T số tiền 400.000.000 (Bốn trăm triệu) đồng.
điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí: Ông Nguyễn Văn Q phải chịu 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Ông Nguyễn Văn T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Hồng Vân |
Bản án số 101/2024/DS-PT ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 101/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: “V/v tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”
