TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. |
Bản án số: 101/2023/DS-PT
Ngày: 27/10/2023.
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quốc Thành.
Các Thẩm phán: Bà Lê Thu Hương.
Bà Lê Thị Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thanh Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 82/2023/TLPT-DS ngày 14 tháng 9 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do bản án sơ thẩm số 16/2023/DS-ST ngày 31/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa bị kháng Nghị, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2023/QĐ-PT ngày 12 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Số nhà F, đường H, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt, có giấy uỷ quyền).
- Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Tùng L1, sinh năm 1996. (Theo giấy ủy quyền ngày 25/4/2023 - Có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh L: Luật sư Trần Thị N - Công ty L3 (Có mặt).
Cùng địa chỉ: Lô A - KĐT Đ, đường D, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
* Bị đơn: Anh Lê Hữu A, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).
Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Văn L và người đại diện theo ủy quyền cho anh L trình bày:
Trên cơ sở có mối quan hệ quen biết nên ngày 05/12/2022 anh có cho anh Lê Hữu A vay số tiền là 1.200.000.000đ (Một tỷ, hai trăm triệu đồng), việc vay nợ trên được hai bên lập và ký vào giấy vay tiền cùng ngày với các nội dung thỏa thuận vay và trả cụ thể: Số tiền vay: 1.200.000.000đ (Một tỷ, hai trăm triệu đồng). Lãi suất 0%. Thời hạn vay 03 tháng với các kỳ anh Lê Hữu A phải trả nợ như sau:
- Ngày 05/01/2023, phải trả 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng).
- Ngày 05/02/2023 phải trả 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng).
- Ngày 05/03/2023 phải trả 700.000.000₫ (Bảy trăm triệu đồng).
Đến kỳ hạn trả nợ lần đầu, anh Lê Hữu A không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã thỏa thuận, để tạo điều kiện cho anh A có thêm thời gian để thu xếp trả nợ, ngày 11/01/2023 anh L và anh A lập và ký vào “Biên bản làm việc” với nội dung anh L đồng ý cho anh A trả số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng) của đợt 1 (vào ngày 05/01/2023) được trả vào đợt 02 là ngày 05/02/2023, tổng số tiền anh A phải trả cho anh L vào ngày 05/02/2023 là 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng). Mặc dù đã tạo điều kiện để anh A có thời gian thu sếp trả nợ, nhưng anh A vẫn chây ỳ, khất nợ nhiều lần, không thực hiện đúng như cam kết. Kể từ thời điểm vay nợ đến nay, anh A chưa trả được cho anh L khoản tiền nào, vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Vì vậy anh L yêu cầu Tòa án buộc anh Lê Hữu A phải trả một lần cho anh số tiền 1.200.000.000đ (Một tỷ, hai trăm triệu đồng), anh không yêu cầu tính lãi suất.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh Lê Hữu A trình bày:
Việc anh vay anh L số tiền 1.200.000.000đ (Một tỷ, hai trăm triệu đồng), không tính lãi suất, khi vay 02 bên ký kết vào “Giấy vay nợ” như anh L trình bày là hoàn toàn đúng. Do hiện nay anh đang gặp khó khăn về kinh tế nên chưa có khả năng để trả nợ một lần cho anh L, anh đề nghị được trả nợ dần khoản tiền trên thành nhiều đợt, mỗi quý trả 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng) cho đến khi trả xong khoản nợ.
Tại cấp sơ thẩm, các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh L đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng vay tài sản được ký kết giữa anh Nguyễn Văn L và anh Lê Hữu A có hiệu lực pháp luật. Đề nghị Tòa án buộc anh Lê Hữu A phải có trách nhiệm trả nợ một lần cho anh Nguyễn Văn L số tiền gốc 1.200.000.000đ (Một tỷ, hai trăm triệu đồng), không yêu cầu tính lãi suất. Kể từ ngày anh L có đơn yêu cầu, nếu anh A không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì anh A phải chịu lãi suất theo quy định của pháp luật.
Bản án Dân sự sơ thẩm số 16/2023/DS-ST ngày 31/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã áp dụng: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Điều 271; Điều
273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS); Điều 117; Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự (BLDS); Khoản 2; Khoản 4 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, điểm d, tiểu mục 1.3, mục 1 phần II, danh mục án phí ban hành kèm theo Nghị quyết. Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Nguyễn Văn L. Buộc anh Lê Hữu A phải có trách nhiệm trả cho anh Nguyễn Văn L số tiền gốc 1.200.000.000đ (Một tỷ hai trăm nghìn đồng), không tính lãi suất. Ngoài ra Bản án còn quyết định về lãi xuất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi xử sơ thẩm, các đương sự không kháng cáo. Ngày 10/8/2023, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện T, tỉnh Thanh Hóa kháng nghị một phần Bản án số 16/2023/DS-ST ngày 31/7/2023 của TAND huyện Triệu Sơn: Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa sửa Bản án sơ thẩm phần án phí, buộc bị đơn là anh Lê Hữu A phải chịu án phí dân sự có giá ngạch là 48.000.000₫ (Bốn tám triệu đồng).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà có quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX) đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và phiên tòa phúc thẩm. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng cũng đã thực hiện đúng theo quy định của BLTTDS. Về nội dung: Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-TS ngày 10/8/2023 của VKSND huyện Triệu Sơn và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 BLTTDS. Sửa Bản án sơ thẩm số 16/2023/DS-ST ngày 31/7/2023 của TAND huyện Triệu Sơn theo hướng chấp nhận Kháng nghị của VKSND huyện Triệu Sơn, tuyên buộc bị đơn Lê Hữu A phải chịu án phí dân sự có giá ngạch là 48.000.000đ (Bốn tám triệu đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến tranh luận của các đương sự và quan điểm của Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án, HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng và quan hệ pháp luật: Anh Nguyễn Văn L cho anh Lê Hữu A vay số tiền 1.200.000.000đ (Một tỷ, hai trăm triệu đồng), không yêu cầu lãi suất và thoả thuận trả thành ba lần trong thời hạn ba tháng. Anh Lê Hữu A thừa nhận có vay số tiền 1.200.000.000đ (Một tỷ, hai trăm triệu đồng) của anh L. Đến hạn trả nợ, anh A không trả cho anh L như thoả thuận, anh L đã đòi nhiều lần nhưng anh A không trả nên đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó có đủ căn cứ để xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
[2] Xét tính hợp pháp của Kháng nghị: Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/8/2023 VKSND huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-TS theo đúng quy định tại Điều 278; Điều 279 và Điều 280 BLTTDS nên Kháng nghị là hợp pháp, đúng quy định của pháp luật được thụ lý, xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm
[3] Xét nội dung Kháng nghị của Viện kiểm sát:
[3.1] HĐXX nhận thấy cấp sơ thẩm nhận định: Căn cứ vào “Giấy vay tiền” viết ngày 05/12/2022 và “Biên bản làm việc” ngày 11/01/2023 thì thấy giao dịch dân sự giữa hai bên có hiệu lực pháp luật theo quy định tại Điều 117 của BLDS. Đến thời hạn trả nợ, anh A không trả tiền cho anh L theo thỏa thuận, đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Vì vậy HĐXX đã buộc anh Lê Hữu A phải trả cho anh Nguyễn Văn L số tiền 1.200.000.000đ (Một tỷ hai trăm triệu đồng) là đúng quy định của pháp luật. Anh L không yêu cầu tính lãi suất nên không xem xét.
[3.2] Tại phần quyết định của bản án, HĐXX đã tuyên buộc bị đơn là anh Lê Hữu A phải trả cho anh Nguyễn Văn L số tiền 1.200.000.000đ (Một tỷ, hai trăm triệu đồng). Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 26, điểm d tiểu mục 1.3, mục 1 phần II, danh mục án phí dân sự ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bị đơn phải chịu sẽ là: 36.000.000đ + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 800.000.000₫ (Cụ thể là 400.000.000₫ x 3% = 12.000.000đ). Tổng là 48.000.000đ (Bốn tám triệu đồng).
[3.3] Tuy nhiên trong phần quyết định tuyên về án phí của Bản án sơ thẩm HĐXX đã tuyên buộc anh Lê Hữu A phải chịu 42.000.000₫ (Bốn hai triệu đồng) án phí dân sự có giá ngạch là không đúng quy định của pháp luật, gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước. Cần phải sửa một phần Bản án sơ thẩm số 16/2023/DS-ST ngày 31/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa về án phí dân sự có giá ngạch.
[4] Từ phân tích và nhận định trên, HĐXX nhận thấy Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá cũng như quan điểm của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá tại phiên toà phù hợp với nhận định của HĐXX và có căn cứ pháp luật nên cần chấp nhận.
[5] Về án phí phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 308; Điều 309; Khoản 3 Điều 26, Điều 37; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 117; Điều 357; Điều 463; Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Khoản 2 Điều 26; Điểm d tiểu mục 1.3, mục 1 phần II, danh mục án phí dân sự ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Sửa phần Bản án Dân sự sơ thẩm số 16/2023/DS-ST ngày 31/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa về án phí dân sự có giá ngạch.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn L. Buộc anh Lê Hữu A phải có trách nhiệm trả cho anh L số tiền nợ gốc là 1.200.000.000đ (Một tỷ hai trăm triệu đồng), không tính lãi suất.
Về án phí sơ thẩm có giá ngạch: Buộc anh Lê Hữu A phải chịu án phí dân sự có giá ngạch là 48.000.000₫ (Bốn tám triệu đồng).
Trả lại cho anh Nguyễn Văn L số tiền tạm ứng án phí 18.600.000₫ (Mười tám triệu, sáu trăm nghìn đồng) anh L đã nộp theo Biên lai thu số AA/2021/0016969 ngày 10/4/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Án phí phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, anh Nguyễn Văn L có đơn yêu cầu và được Cơ quan Thi hành án ra quyết định thi hành án, nếu anh Lê Hữu A không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì hàng tháng phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lê Quốc Thành. |
Bản án số 101/2023/DS-PT ngày 27/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 101/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/10/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn L - Lê Hữu A "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
