|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 101/2021/DS-PT Ngày 09 - 6 - 2021 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiên
Các Thẩm phán: Ông Trần Bá Kha, Ông Trần Bình Đảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Xương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Cao Bình Cao - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 04 và ngày 09 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 197/2020/TLPT-DS ngày 18 tháng 11 năm 2020 về Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 30/2020/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 226/2020/QĐ-PT ngày 09 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Đặng Thị B, sinh năm 1950; địa chỉ: khu phố N, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có mặt ngày 04/9/2021).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Võ Thanh T – Văn phòng Luật sư Võ Thanh T thuộc Đoàn Luật sư thành phố Cần Thơ; địa chỉ: khu dân cư H, quận C, thành phố Cần Thơ (có mặt). - - Bị đơn:
- Ông Trần Hải S, sinh năm 1964 (vắng mặt).
- Bà Trần Thị Bích H, sinh năm 1973.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Hạnh: Ông Nguyễn Trọng T, sinh năm 1956; địa chỉ: Khu phố T, phường A, thành phố P, Kiên Giang (có mặt). - - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- NLQ, sinh năm 1946 (có đơn xin vắng mặt). Địa chỉ: Khu phố N, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
- NLQ2. Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Quang H1- Chức vụ: Chủ tịch UBND thành phố P (có đơn xin vắng mặt). Địa chỉ: Khu phố 2, phường Dương Đông, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
- NLQ3, NLQ4, NLQ5, NLQ6, NLQ7 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- NLQ8 (có mặt). Cùng địa chỉ: phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
- - Người kháng cáo: Bà Đặng Thị B – nguyên đơn.
Nguyên đơn bà Đặng Thị B trình bày:
Năm 1990, bà có thỏa thuận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị L1 một thửa đất vườn và cây ăn trái với diện tích 600m2 tại khu phố H, xã A, huyện P (nay là khu phố N, phường A, thành phố P), tỉnh Kiên Giang, giá chuyển nhượng là 400.000 đồng. Bà đã trả số tiền cho bà L1 thành 02 lần. Việc chuyển nhượng có xác nhận của UBND xã A ngày 30/8/1990. Do bà L1 đã già yếu nên bà cho bà L1 được sinh sống trên thửa đất đến lúc qua đời.
Khoảng năm 1991, có ông Trần Hải S là bộ đội mới xuất ngũ xin ở nhờ. Bà đồng ý cho ông S cất tạm căn nhà ở phía sau bếp nhà của bà L1 để ở. Sau đó, do hoàn cảnh gia đình bà gặp nhiều sự cố nên bà lên Sài Gòn sinh sống. Đến năm 2009 bà L1 mới chết. Khi bà về yêu cầu ông S và vợ là bà H giao trả đất thì ông S không đồng ý.
Nay bà yêu cầu Tòa án: Buộc ông Trần Hải S và bà Trần Thị Bích H trả lại thửa đất diện tích 533,6m2; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 812447 cấp cho ông S, bà H ngày 16/3/2011; Hủy giấy sang nhượng đất nhà đề ngày 13/6/1992 giữa bà L1 với ông S; Công nhận quyền sử dụng đất cho bà đối với phần đất 533,6m2.
Bị đơn ông Trần Hải S, bà Trần Thị Bích H trình bày:
Ông S cho rằng năm 1992 bà L1 có chuyển nhượng lại cho ông một phần đất. Đến năm 2001 bà L1 tiếp tục chuyển nhượng phần đất còn lại. Hai bên làm “Giấy sang nhượng đất nhà” ngày 13/6/1992 với giá 50.000.000 đồng (thực tế là 500.000.000 đồng). Ông đã trả đủ tiền và lo chi phí mai táng cho bà L1. Ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng quy định. Ông không đồng ý với yêu cầu của bà B.
[1] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử theo quy định.
[2] Về nội dung: Xét nguồn gốc đất là của bà L1. Bà B cho rằng bà nhận chuyển nhượng năm 1990 nhưng không có chứng cứ chứng minh việc giao nhận tiền và đất rõ ràng. Ngược lại, ông S có chứng cứ về việc nhận chuyển nhượng, có biên bản bàn giao nhà đất, có sự chứng kiến của tổ trưởng tổ tự quản và đại diện Ban hành giáo. Ông S cũng đã thực hiện nghĩa vụ chăm sóc bà L1 đến cuối đời và lo mai táng theo thỏa thuận.
[3] Kết quả giám định chữ ký cho thấy chữ ký của bà L1 trên các tài liệu do bà B cung cấp và tài liệu do ông S cung cấp có sự mâu thuẫn, tuy nhiên các chứng cứ khách quan khác ủng hộ việc chuyển nhượng cho ông S là có thật và hợp pháp. Việc cấp giấy chứng nhận cho ông S là đúng trình tự thủ tục.
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 173, 174, 175, 176, 198 Bộ luật dân sự năm 1995; Luật đất đai.
1. Không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Đặng Thị B. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 30/2020/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Kiên Giang.
2. Về án phí: Bà Đặng Thị B được miễn nộp tiền án phí do là người cao tuổi.
3. Về chi phí tố tụng khác: Bà Đặng Thị B phải chịu chi phí giám định và định giá.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Kiên Giang; - TAND thành phố P; - THA dân sự thành phố P; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhiên |
Bản án số 101/2021/DS-PT ngày 09/06/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang về tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 101/2021/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà B khởi kiện quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với ông S
