TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1009/2024/DS-PT Ngày: 11/12/2024 V/v Tranh chấp đòi nhà cho ở nhờ. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đỗ Giang
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tiến Dũng
Bà Nguyễn Thị Thoa
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Thủy là Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Duy Dũng là Kiểm sát viên.
Trong các ngày 28 tháng 11 và ngày 11 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 795/2024/TLPT-DS, ngày 16 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp Đòi nhà cho ở nhờ”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 595/2024/DS-ST, ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5615/2024/QĐ-PT, ngày 22 tháng 10 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 17206/2024/QĐ-PT, ngày ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Tiến T. Sinh năm 1979.
Địa chỉ: D đường P, phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
Bị đơn: 1. Ông Nguyễn Thành L. Sinh năm 1976.
2. Bà Lê Mỹ L1. Sinh năm 1982.
Địa chỉ: A đường B, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Mỹ L1:
Bà Nguyễn Thạch Thùy T1. Sinh năm 1982.
Địa chỉ: D đường D, phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Hợp đồng ủy quyền số công chứng 19650, quyển số 11/2024 TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 19/11/2024 lập tại Phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh). (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trần Lê Ni. Sinh năm 1984.
Địa chỉ: D đường P, phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
2. Ông Lê Hồng C. Sinh năm 1949.
Địa chỉ: G đường E, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
3. Bà Nguyễn Thị L2. Sinh năm 1954.
Địa chỉ: D đường P, phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
4. Trẻ Nguyễn Lê Minh N. Sinh năm 2009.
5. Trẻ Nguyễn Lê Như Ý. Sinh năm 2010.
6. Trẻ Nguyễn Lê Phước T2. Sinh năm 2019.
Cùng cư trú tại: số B đường T, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp cho các trẻ Nguyễn Lê Minh N, Nguyễn Lê Như Ý, Nguyễn Lê Phước T2:
Ông Nguyễn Thành L. Sinh năm 1976.
Bà Lê Mỹ L1. Sinh năm 1982.
Cư trú: 2 đường T, tổ F, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
Người kháng cáo: Bà Lê Mỹ L1 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nguyên đơn ông Lê Tiến T trình bày:
Vào năm 2017, ông Lê Tiến T và vợ là bà Trần Lê N1 có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với diện tích là 1.977,2m²; thuộc Thửa đất số 581, tờ bản đồ số 21, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM553970, số vào sổ cấp GCNQSDĐ H00348/20, ngày 25/4/2008 do Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Trần Thị Ngọc D, cập nhật sang tên ông Lê Tiến T vào ngày 12/01/2017; Quyền sử dụng đất tọa lạc tại số B đường T, tổ F, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Số tiền dùng để mua đất là tiền của vợ chồng ông đi vay.
Tháng 6/2017, vợ chồng ông chuyển mục đích sử dụng đất 1.780,7m² sang đất thổ cư. Tháng 7/2020, vợ chồng ông được cấp phép xây dựng căn nhà trên đất. Tháng 11/2020 vợ chồng ông cho gia đình em gái ruột của ông là bà Lê Mỹ L1 và em rể là ông Nguyễn Thành L cùng 03 (ba) người con của bà L1, ông L về Thửa đất số 581 sinh sống vì thời điểm này bà L1, ông L đang ở trọ tại tỉnh Tây Ninh, công việc không ổn định. Từ đó đến nay vợ chồng ông không thu bất cứ chi phí nào mặc dù số tiền mua đất xây nhà vợ chồng ông phải vay mượn để mua và trả lãi trong suốt 04 (bốn) năm nay.
Đến đầu tháng 7/2022, vợ chồng ông thấy bà L1, ông L đã vượt qua khó khăn, thường xuyên đóng cửa nhà đi chơi, đổi xe mới nên vợ chồng ông đề nghị bà L1, ông L ký hợp đồng thuê nhà, số tiền thuê cho bà L1, ông L tự đề nghị với vợ chồng ông. Nhưng bà L1, ông L nhiều lần chửi bới, đe dọa khi vợ chồng ông yêu cầu ký hợp đồng thuê, thậm chí khi Ngân hàng đến thẩm định tài sản để cho vay thì bị bà L1, ông L cản trở.
Bố mẹ ông là ông Lê Hồng C và bà Nguyễn Thị L2 nhiều lần khuyên giải bà L1, ông L trả lại nhà, đất cho vợ chồng ông, bố mẹ đồng ý hỗ trợ một số tiền phù hợp để bà L1, ông L chuyển đi, trả tiền thuê ở chỗ mới để thuận tiện cho ba người con của bà L1, ông L học hành và bà L1, ông L tiếp tục buôn bán nhưng cả hai cố ý không trả.
Tháng 5/2023 vợ chồng ông đã đề nghị chính quyền địa phương hòa giải nhưng bà L1, ông L đều vắng mặt 02 (hai) lần. Việc bà L1, ông L không trả nhà đất thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông T đã xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của vợ chồng ông, đồng thời bố mẹ ông cũng đã có ý kiến thống nhất với yêu cầu của vợ chồng ông. Do đó, vợ chồng ông Lê Tiến T đã nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị buộc bà Lê Mỹ L1, ông Nguyễn Thành L cùng 03 (ba) trẻ là Nguyễn Lê Minh N, Nguyễn Lê Như Ý, Nguyễn Lê Phước T2 phải thu dọn đồ đạc, di dời khỏi căn nhà có diện tích 139,9m² để trả lại nhà cho vợ chồng ông Lê Tiến T.
Khi bà L1 và ông L về ở thì đã có sẵn căn nhà, mái che tole và sân xi măng do vợ chồng ông T xây dựng. Bà L1 và ông L làm thêm phòng tiền chế và xây nối thêm trước căn nhà phần vách tole có diện tích 103,6m² để buôn bán vật dụng điện nước, hiện là Cửa hàng điện nước T. Việc tự xây sửa thêm bà L1 và ông L không thông báo cho vợ chồng ông biết và cũng không báo cho chính quyền địa phương, do đó vợ chồng ông không đồng ý bồi hoàn các công trình xây dựng thêm này. Bà L1 và ông L cứ tháo dỡ mang đi, đồng thời những vật dụng điện nước để giao trả lại nhà trống cho vợ chồng ông. Do bà L1 và ông L không hợp tác kiểm đếm những vật dụng này nên tất cả những vật dụng này bà L1 và ông L phải tự di dời đi hết.
Tại phiên tòa, ông T yêu cầu bà L1 và ông L phải có nghĩa vụ hoàn trả chi phí tố tụng xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá và chi phí đo đạc tổng cộng là 16.300.000 đồng.
Theo bị đơn bà Lê Mỹ L1 trình bày:
Bà là em gái ruột của ông Lê Tiến T, vào khoảng tháng 7/2020, cha của bà là ông Lê Hồng C có gọi gia đình vợ chồng bà và 03 (ba) người con về ở cùng tại địa chỉ số G, Đường số E, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, để chờ xây nhà trên Thửa đất số 581 nay là số 02 đường T, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Lúc vợ chồng bà và các con về ở cùng, cha của bà (ông C) có nói phần đất ở số B đường T, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh là đất của cha, bà chỉ nghe cha nói vậy chứ bà không biết ai đứng tên, do giữa bà và chị dâu là bà Trần Lê N1 có mâu thuẫn nhiều năm. Nếu lúc đầu bà biết thửa đất số 581 do anh trai bà (ông Lê Tiến T) đứng tên thì vợ chồng bà cùng các con đã không về sống. Khi xây nhà cha bà là người trả tiền mua vật liệu xây dựng. Sau khi xây dựng nhà xong thì vợ chồng bà cùng các con mới dọn về, hiện vợ chồng bà cùng 03 (ba) người con là Nguyễn Lê Minh N, sinh năm 2009; Nguyễn Lê Như Ý, sinh năm 2010 và Nguyễn Lê Phước T2, sinh năm 2019 đang sinh sống tại căn nhà số B đường T.
Do cha bà là người kêu bà về ở, nên khi bà xây sửa thêm phòng tiền chế, sân để xe và cửa hàng để buôn bán vật dụng điện nước Trí Phát, bà chỉ báo cho cha bà biết chứ không báo cho ông T và bà N1. Bà đồng ý là khuôn viên đất xung quanh căn nhà do ông T đứng tên là của ông T, còn căn nhà số B đường T vợ chồng bà vẫn đồng ý trả nhà đất, với điều kiện ông T phải giải quyết cổ phần của chồng bà là ông Nguyễn Thành L trong Công ty TNHH T3 có trụ sở ở Quận H do ông T làm Giám đốc. Các vật dụng điện nước đang buôn bán tại cửa hàng gồm rất nhiều thứ nên bà không thể kiểm đếm. Nếu ông T giải quyết cổ phần của chồng bà trong Công ty TNHH T3 thì vợ chồng bà sẽ di dời và mang hết các vật dụng này đi trả lại nhà đất cho ông T.
Theo ông Lê Hồng C và bà Nguyễn Thị L2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Căn nhà và đất số 02 đường T, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sở hữu của vợ chồng con trai ông bà là Lê Tiến T và Trần Lê Ni . Ông bà đề nghị Tòa xét xử buộc vợ chồng con gái ông bà là Lê Mỹ L1 và Nguyễn Thành L phải trả lại căn nhà đất trên cho ông T và bà N1. Vợ chồng bà L1 và ông L có ý chiếm đoạt và đã hành hung vợ chồng ông T và bà N1. Ông bà đã nhiều lần khuyên can, nhưng vợ chồng bà L1 và ông L không nghe, không chịu trả nhà đất cho vợ chồng ông T và bà N1.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn ông Lê Tiến T yêu cầu bà Lê Mỹ L1 và ông Nguyễn Thành L trả lại căn nhà và đất có diện tích 139,9m² và các công trình bà L1, ông L xây dựng thêm trên quyền sử dụng đất có diện tích 1.977,2m² thuộc thửa đất số 581, tờ bản đồ số 21 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 553970, số vào sổ cấp GCNQSDĐ H00348/20, ngày 25/4/2008 do Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Trần Thị Ngọc D, cập nhật sang tên ông Lê Tiến T vào ngày 12/01/2017.
Các đương sự đều thống nhất căn nhà số B đường T, tổ F, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 139,9m² thuộc quyền sở hữu của ông Lê Tiến T và bà Trần Lê N1, căn nhà tọa lạc trên quyền sử dụng đất có diện tích 1.977,2m² thuộc Thửa đất số 581, tờ bản đồ số 21, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 553970, số vào sổ cấp GCNQSDĐ H00348/20, ngày 25/4/2008 do Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Trần Thị Ngọc D, cập nhật sang tên ông Lê Tiến T vào ngày 12/01/2017.
Bị đơn bà Lê Mỹ L1 xác định vợ chồng bà và các con vẫn đồng ý trả nhà cho ông T và bà N1, nhưng với điều kiện ông T phải giải quyết cổ phần của chồng bà (ông Nguyễn Thành L) trong Công ty TNHH T3 có trụ sở ở Quận H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng nội dung quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết như sau: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Tiến T về việc yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Thành L và bà Lê Mỹ L1 phải trả lại căn nhà số B đường T, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 595/2024/DS-ST, ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm c Khoản 1 Điều 39, Điều 58, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 179, Điều 189, Điều 192 và Khoản 10 Điều 12 của Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Tiến T.
Buộc bị đơn là bà Lê Mỹ L1, ông Nguyễn Thành L và các con là Nguyễn Lê Minh N, Nguyễn Lê Như Ý và Nguyễn Lê Phước T2 (có người đại diện hợp pháp là bà Lê Mỹ L1 và ông Nguyễn Thành L) phải tháo dỡ 02 vách tole xây nối thêm trước căn nhà số B tính từ đường T nhìn vào vách bên trái có chiều dài 7,51m, vách bên phải có chiều dài 7,45m và các phòng tiền chế, thu dọn các vật dụng điện nước đang buôn bán tại Cửa hàng điện nước T. Trả lại cho ông Lê Tiến T và bà Trần Lê N1 căn nhà và đất số 02 đường T, tổ F, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 139,9m²; trước nhà số B có mái che tole, xà gồ sắt, 02 bên là vách tole, nền gạch vỉa hè, phía trước là cửa cuốn sắt (có để bảng hiệu là Cửa hàng điện nước T), trước mái che có một phần sân xi măng, các tài sản này tọa lạc trên quyền sử dụng đất có diện tích 1.977,2m² thuộc Thửa đất số 581, tờ bản đồ số 21 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 553970, số vào sổ cấp GCNQSDĐ H00348/20, ngày 25/4/2008 do Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Trần Thị Ngọc D, đã cập nhật sang tên ông Lê Tiến T vào ngày 12/01/2017 (theo Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 20/3/2024 của Công ty TNHH MTV T4, kiểm tra nội nghiệp tại Trung tâm K thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H).
2. Bà Lê Mỹ L1 và ông Nguyễn Thành L có nghĩa vụ trả cho ông Lê Tiến T chi phí tố tụng xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá và chi phí đo đạc tổng cộng là 16.300.000 (mười sáu triệu ba trăm ngàn) đồng.
Thi hành án ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Lê Mỹ L1 và ông Nguyễn Thành L phải chịu án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.
H lại cho ông Lê Tiến T số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng ông T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0018910, ngày 18/12/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và thi hành án của các đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, vào ngày 21/8/2024 bị đơn bà Lê Mỹ L1 kháng cáo cho rằng: Giải quyết sơ thẩm vụ án Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ chí Minh đã không xem xét đến quyền, lợi ích hợp pháp của gia đình bị đơn; đồng thời Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi Thư ký tham gia Hội đồng xét xử không đúng với tên Thư ký được ghi trong Quyết định đưa vụ án ra xét xử, cần phải được thẩm tra, làm rõ.
Trình bày kháng cáo tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn có kháng cáo đề nghị nguyên đơn là ông Lê Tiến T phải hỗ trợ cho gia đình bị đơn số tiền là 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng, mới trả lại nhà, đây là khoản chi phí do phía bị đơn đã đầu tư để cải tạo mặt bằng kinh doanh. Nếu nguyên đơn không đồng ý hỗ trợ khoản này thì đề nghị xử hủy bản án dân sự do Tòa án nhân dân huyện Củ Chi đã xét xử vì tiến trình tố tụng đã có vi phạm nghiêm trọng do nhầm lẫn khi ghi sai tên Thư ký Tòa án tham gia tố tụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn đề nghị hỗ trợ cho bị đơn số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để rút đơn kháng cáo, nhưng đại diện ủy quyền của bị đơn không đồng ý. Vụ án tiếp tục được giải quyết phúc thẩm theo luật định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn phúc thẩm như sau:
Về tố tụng: Kháng cáo của bị đơn được thực hiện trong thời hạn luật định, bà Lê Mỹ L1 đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm là hợp lệ, đủ điều kiện để được xem xét kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đương sự trong vụ án không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết tranh chấp; qua thẩm tra xem xét yêu cầu kháng cáo bị đơn cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng do ghi sai tên thư ký tham gia phiên tòa sơ thẩm là không chính xác. Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn được người đại diện ủy quyền trình bày tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm không vi phạm tố tụng, giải quyết đúng quan hệ pháp luật có tranh chấp, kháng cáo của bị đơn không có căn cứ nên không được chấp nhận; đề nghị giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[I] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn bà Lê Mỹ L1 được thực hiện trong thời hạn luật định là hợp lệ, đương sự đã nộp tiền tạm ứng án phí, đủ điều kiện để được xem xét kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
[II] Về nội dung giải quyết phúc thẩm vụ án:
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Lê Tiến T tự nguyện hỗ trợ bị đơn số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để di dời chỗ ở đi nơi khác nhưng đại diện của bị đơn không đồng ý. Vụ án tiếp tục được giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại báo cáo giải trình của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa xét xử sơ thẩm thì ngày 21/8/2024, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án về việc “Đòi nhà cho ở nhờ” giữa nguyên đơn ông Lê Tiến T và bị đơn ông Nguyễn Thành L, bà Lê Mỹ L1. Thư ký Tòa án được phân công ghi bút ký phiên tòa là bà Trương Thị H1 được Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh và Hội đồng xét xử sơ thẩm xác nhận trong văn bản báo cáo giải trình gửi về Tòa phúc thẩm. Việc bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn kháng cáo cho rằng Tòa sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi thay đổi Thư ký Tòa án tại phiên tòa sơ thẩm là không đúng và không có căn cứ. Vì thế, yêu cầu kháng cáo của bị đơn xin hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi đã xét xử không được chấp nhận
Xem xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn về khoản hỗ trợ số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng; Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Vào năm 2017, nguyên đơn ông Lê Tiến T cùng vợ là bà Trần Lê N1 có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, diện tích 1.977,2 m² thuộc Thửa đất số 581, tờ bản đồ số 21 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM553970, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận H00348/20, ngày 25/4/2008 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Trần Thị Ngọc D, đã cập nhật sang tên cho ông Lê Tiến T vào ngày 12/01/2017, phần đất tọa lạc tại số B đường T, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Tiền mua đất do vợ chồng ông T tự vay mượn và phải trả lãi trong 04 (bốn) năm.
Tháng 6/2017, nguyên đơn chuyển mục đích sử dụng 1.780,7m² sang đất thổ cư, sau đó xin giấy phép xây dựng nhà trên đất. Sau khi cất xong nhà, vào tháng 11/2020 thấy vợ chồng và các con của người em gái ông T là Lê Mỹ L1, em rể Nguyễn Thành L đang sống ở quê, khó khăn về chỗ ở nên đồng ý để gia đình người em di dời từ tỉnh Tây Ninh đến căn nhà trên ở nhờ, việc gia đình bị đơn ở nhờ trên phần đất này nguyên đơn không thu bất cứ khoản chi phí nào. Cho đến tháng 7/2022, thấy cuộc sống gia đình người em gái ổn định, sắm sửa tiện nghi sinh hoạt tươm tất nên nguyên đơn có đề nghị vợ chồng em gái ký hợp đồng cho thuê nhà nhưng bị đơn tỏ thái độ thiếu thân thiện, có phản ứng gay gắt; bị đơn bà Lê Mỹ L1 đưa ra điều kiện trả nhà cho ông Lê Tiến T phải giải quyết cổ phần cho ông Nguyễn Thành L tại Công ty TNHH T3, đặt trụ sở tại Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh do ông T là Giám đốc thì gia đình bị đơn mới trả lại nhà.
Xét việc bị đơn bà Lê Mỹ L1 nêu ra việc giải quyết cổ phần cho chồng của mình mới đồng ý trả nhà không có liên quan gì đến việc tranh chấp đòi nhà cho ở nhờ, vì lý do này khi giải quyết sơ thẩm vụ án Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã không chấp nhận khai nại của bị đơn, buộc bà Lê Mỹ L1 và chồng là ông Nguyễn Thành L cùng 03 (ba) người con phải tự tháo dỡ vách ngăn tự dựng thêm, thu dọn các vật dụng gồm điện, nước phục vụ việc sinh hoạt, buôn bán tại cửa hàng điện nước số B đường T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh trả lại nhà ở nhờ cho nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Kháng cáo của bị đơn đề nghị nguyên đơn phải hỗ trợ số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng như trình bày của người đại diện theo ủy quyền tại phiên tòa phúc thẩm không được chấp nhận, cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm như phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được phân công tham gia phiên tòa phúc thẩm là phù hợp.
Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn bà Lê Mỹ L1 phải chịu án phí phúc thẩm như luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm c Khoản 1 Điều 39, Điều 58, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 179, Điều 189, Điều 192 và Khoản 10 Điều 12 của Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Lê Mỹ L1.
Giữ nguyên các quyết định của bản án dân sự sơ thẩm số 595/DS-ST, ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Tiến T.
Buộc bị đơn là bà Lê Mỹ L1, ông Nguyễn Thành L và các con là Nguyễn Lê Minh N, Nguyễn Lê Như Ý và Nguyễn Lê Phước T2 (có người đại diện hợp pháp là bà Lê Mỹ L1 và ông Nguyễn Thành L) phải tháo dỡ 02 vách tole xây nối thêm trước căn nhà số B tính từ đường T nhìn vào vách bên trái có chiều dài 7,51m, vách bên phải có chiều dài 7,45m và các phòng tiền chế, thu dọn các vật dụng điện nước đang buôn bán tại Cửa hàng điện nước T. Trả lại cho ông Lê Tiến T và bà Trần Lê N1 căn nhà và đất số 02 đường T, tổ F, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 139,9m²; trước nhà số B có mái che tole, xà gồ sắt, 02 bên là vách tole, nền gạch vỉa hè, phía trước là cửa cuốn sắt (có để bảng hiệu là Cửa hàng điện nước T), trước mái che có một phần sân xi măng, các tài sản này tọa lạc trên quyền sử dụng đất có diện tích 1.977,2m² thuộc Thửa đất số 581, tờ bản đồ số 21 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 553970, số vào sổ cấp GCNQSDĐ H00348/20, ngày 25/4/2008 do Ủy ban nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Trần Thị Ngọc D, đã cập nhật sang tên ông Lê Tiến T vào ngày 12/01/2017 (theo Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 20/3/2024 của Công ty TNHH MTV T4, kiểm tra nội nghiệp tại Trung tâm K thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H).
2. Bà Lê Mỹ L1 và ông Nguyễn Thành L có nghĩa vụ trả cho ông Lê Tiến T chi phí tố tụng xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá và chi phí đo đạc tổng cộng là 16.300.000 (mười sáu triệu, ba trăm ngàn) đồng.
Thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm:
Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Lê Mỹ L1 và ông Nguyễn Thành L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.
H lại cho ông Lê Tiến T số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng ông T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0018910, ngày 18/12/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Lê Mỹ L1 và ông Nguyễn Thành L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng. Nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm do bà Lê Mỹ L1 đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu số BLTU/23P, số 0015893, ngày 10/9/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay sau khi tuyên án.
Nơi nhận: Tòa án nhân dân Tối cao (1); TÒA
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN Đỗ Giang |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Đỗ Giang
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 10 giờ 30 phút, ngày 11 tháng 12 năm 2024.
Tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đỗ Giang
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tiến Dũng
Bà Nguyễn Thị Thoa
Tiến hành nghị án vụ án Dân sự phúc thẩm thụ lý số 795/2024/TLPT-DS, ngày 16 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp Đòi nhà cho ở nhờ”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 595/2024/DS-ST, ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5615/2024/QĐ-PT, ngày 22 tháng 10 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 17206/2024/QĐ-PT, ngày ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Tiến Tài. Sinh năm 1979.
Địa chỉ: 44 đường Phú Định, phường 16, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
Bị đơn: 1. Ông Nguyễn Thành Long. Sinh năm 1976.
2. Bà Lê Mỹ Linh. Sinh năm 1982.
Địa chỉ: 168 đường Bình Lợi, phường 13, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Mỹ Linh:
Bà Nguyễn Thạch Thùy Trang. Sinh năm 1982.
Địa chỉ: 416/15D đường Dương Quảng Hàm, phường 05, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Hợp đồng ủy quyền số công chứng 19650, quyển số 11/2024 TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 19/11/2024 lập tại Phòng Công chứng số 5, Thành phố Hồ Chí Minh). (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trần Lê Ni. Sinh năm 1984.
Địa chỉ: 44 đường Phú Định, phường 16, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
2. Ông Lê Hồng Cử. Sinh năm 1949.
Địa chỉ: 77 đường 576, ấp Gia Bẹ, xã Trung Lập Hạ, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
3.Bà Nguyễn Thị Lan. Sinh năm 1954.
Địa chỉ: 44 đường Phú Định, phường 16, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
4. Trẻ Nguyễn Lê Minh Ngọc. Sinh năm 2009.
5. Trẻ Nguyễn Lê Như Ý. Sinh năm 2010.
6. Trẻ Nguyễn Lê Phước Trí. Sinh năm 2019.
Cùng cư trú tại: số 02 đường Trần Thị Hò tổ 6, ấp Gia Bẹ, xã Trung Lập Hạ, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp cho các trẻ Nguyễn Lê Minh Ngọc, Nguyễn Lê Như Ý, Nguyễn Lê Phước Trí:
Ông Nguyễn Thành Long. Sinh năm 1976.
Bà Lê Mỹ Linh. Sinh năm 1982.
Cư trú: 2 đường Trần Thị Hò, tổ 6, ấp Gia Bẹ, xã Trung Lập Hạ, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
Người kháng cáo: Bà Lê Mỹ Linh là bị đơn.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
Căn cứ Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm c Khoản 1 Điều 39, Điều 58, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 179, Điều 189, Điều 192 và Khoản 10 Điều 12 của Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Lê Mỹ Linh.
Giữ nguyên các quyết định của bản án dân sự sơ thẩm số 595/DS-ST, ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Tiến Tài.
Buộc bị đơn là bà Lê Mỹ Linh, ông Nguyễn Thành Long và các con là Nguyễn Lê Minh Ngọc, Nguyễn Lê Như Ý và Nguyễn Lê Phước Trí (có người đại diện hợp pháp là bà Lê Mỹ Linh và ông Nguyễn Thành Long) phải tháo dỡ 02 vách tole xây nối thêm trước căn nhà số 02 tính từ đường Trần Thị Hò nhìn vào vách bên trái có chiều dài 7,51m, vách bên phải có chiều dài 7,45m và các phòng tiền chế, thu dọn các vật dụng điện nước đang buôn bán tại Cửa hàng điện nước Trí Phát. Trả lại cho ông Lê Tiến Tài và bà Trần Lê Ni căn nhà và đất số 02 đường Trần Thị Hò, tổ 6, ấp Gia Bẹ, xã Trung Lập Hạ, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 139,9m²; trước nhà số 02 có mái che tole, xà gồ sắt, 02 bên là vách tole, nền gạch vỉa hè, phía trước là cửa cuốn sắt (có để bảng hiệu là Cửa hàng điện nước Trí Phát), trước mái che có một phần sân xi măng, các tài sản này tọa lạc trên quyền sử dụng đất có diện tích 1.977,2m² thuộc Thửa đất số 581, tờ bản đồ số 21 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 553970, số vào sổ cấp GCNQSDĐ H00348/20, ngày 25/4/2008 do Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Trần Thị Ngọc Diệp, đã cập nhật sang tên ông Lê Tiến Tài vào ngày 12/01/2017 (theo Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 20/3/2024 của Công ty TNHH MTV Thiết kế Xây dựng đo đạc bản đồ Hoàng Thịnh, kiểm tra nội nghiệp tại Trung tâm Kiểm định bản đồ và Tư vấn Tài nguyên Môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh).
2. Bà Lê Mỹ Linh và ông Nguyễn Thành Long có nghĩa vụ trả cho ông Lê Tiến Tài chi phí tố tụng xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá và chi phí đo đạc tổng cộng là 16.300.000 (mười sáu triệu, ba trăm ngàn) đồng.
Thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm:
Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Lê Mỹ Linh và ông Nguyễn Thành Long phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.
Hoàn lại cho ông Lê Tiến Tài số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồ ng ông Tài đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0018910, ngày 18/12/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Lê Mỹ Linh và ông Nguyễn Thành Long phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng. Nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm do bà Lê Mỹ Linh đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu số BLTU/23P, số 0015893, ngày 10/9/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay sau khi tuyên án.
Nghị án kết thúc vào hồi 11 giờ 00 phút cùng ngày.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây. Biểu quyết 3/3 =100%.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Giang |
Bản án số 1009/2024/DS-PT ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi nhà cho ở nhờ
- Số bản án: 1009/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi nhà cho ở nhờ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng. Hoàn lại cho ông Lê Tiến Tài số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng mà ông Tài đã nộp. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Mỹ Linh và ông Nguyễn Thành Long phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng. Nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm do bà Lê Mỹ Linh đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng.
