TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1009/2024/DS-PT Ngày: 29 - 11 - 2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trí Tuấn
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Thanh Dũng
Ông Phan Nhựt Bình
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 và 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 56/2021/TLPT-DS ngày 12 tháng 01 năm 2021 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2020/DS-ST ngày 16 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau bị kháng cáo và bị kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1157/2024/QĐPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Lê Thị Mai P, sinh năm 1956 (Có mặt);
- Ông Đái Thanh Tuấn A, sinh năm 1988 (Vắng mặt);
- Ông Đái Thanh Phương A1 (Vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Số A, đường C, phường A, quận E, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Phương A1, ông Tuấn A: Bà Lê Thị Mai P (có mặt).
- Bà Đái Thị Thu H, sinh năm 1941 (có mặt);
Địa chỉ: Số A đường P, phường B, thành phố C.
- Bà Đái Thị Thu B (đã chết);
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Thu B:
- Bà Nguyễn Thu V, sinh năm 1962 (Vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị Xuân H1, sinh năm 1968 (Vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Số C C, phường E, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1963 (vắng mặt);
Địa chỉ: Số C, Chung cư A, C, Thành phố Hồ Chí Minh
- Bà Nguyễn Thị Xuân T1, sinh năm 1965 (vắng mặt);
Địa chỉ: Số A C L, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền của bà V, bà T, bà T1, bà H1: Bà Lê Thị Mai P (có mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Tứ H2, sinh năm 1938 (có mặt);
Địa chỉ: Số D, ấp T, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân thành phố C (vắng mặt);
Địa chỉ: Số G, N, khóm A, phường I, thành phố C.
- Công ty Cổ phần T10 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp G, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Việt T2 – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm giám đốc Công ty.
- Ngân hàng N4 (vắng mặt);
Địa chỉ: Số B, đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Văn C: Chức vụ - Giám đốc Ngân hàng N4 – Chi nhánh thành phố C (vắng mặt).
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 (vắng mặt);
Địa chỉ: Số D, đường L, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Đái Thị Thu C1 (Nguyen Thi Thu C2), sinh năm 1950 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Số B, C, A, QLD 4115, Australia.
Người đại diện theo ủy quyền bà C1: Bà Lê Thị Mai P ( có mặt).
- Chị Lê Thanh T3, sinh năm 1983 (vắng mặt);
Địa chỉ: Số B, đường C, khóm G, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Chị Lê Thanh X, sinh năm 1981 (vắng mặt);
Địa chỉ: Số C, đường T, khóm G, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo uỷ quyền của chị T3, chị X: Ông Lê Tứ H2 (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1975 (vắng mặt);
Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Lê Tú A2, sinh năm 1972 (có mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp Xóm Lớn, xã Lý Văn Lâm, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau
- Ông Lê Tú A2, sinh năm 1972 (có mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp X, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau
- Bà Phạm Thị X1, sinh năm 1965 (vắng mặt);
- Ông Lâm Văn C3, sinh năm 1964 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyên của bà X1: Ông Lâm Văn C3 (vắng mặt).
- Ông Lê Thanh S, sinh năm 1985 (vắng mặt);
- Ông Lê Quốc T4, sinh năm 1977 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Số D, ấp X, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Bà Trương Thị K, sinh năm 1946;
Địa chỉ: Ấp T, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo uỷ quyền của anh T4, bà K: Ông Lê Tứ H2 (có mặt).
- Ông Đái Ngọc T5 (đã chết);
- Người kháng cáo: Nguyên đơn: Bà Lê Thị Mai P, bà Đái Thị Thu H.
- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau.
(bà P và bà H có mặt ngày 22 và 29/11/2024; ông H2 và ông Tú A2 có mặt ngày 22/11/2024 và vắng mặt ngày tuyên án).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:
Bà P và các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Lê Tứ H2 trả lại 60 công đất ruộng; ½ diện tích đất viên lang (đất vườn) = 0ha.52.66; ½ diện tích đất thổ cư = 0ha.19.69.5 theo tờ tương phân năm 1970 và tờ chúc ngôn năm 1974 của cụ Võ Thị N1, đất toạ lạc tại ấp T xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà P và các nguyên đơn có thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu ông H2 trả lại ½ diện tích đất vườn, diện tích 6.255,75m², không yêu cầu đối với phần đất ruộng và đất thổ cư. Phần đất tranh chấp có nguồn gốc từ cụ N1 là bà ngoại của bà P, tổng diện tích là 12.511,5m². Năm 1974 cụ N1 có di chúc để lại cho mẹ bà P là bà Lê Thị H4 diện tích 6.255,75m². Năm 1977, bà H4 cho ông Tứ H2 mượn phần đất này sử dụng cho đến nay, lúc cho mượn trên đất không có công trình kiến trúc gì. Nay bà P yêu cầu ông Tứ H2 trả lại phần đất diện tích 6.255,75m² vị trí thuộc phần đất tiếp giáp với các phần đất liền kề với quốc lộ A; đồng thời bà yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Tứ H2 và một phần của ông Tú A2 vì ông Tứ H2 khi đăng ký quyền sử dụng đã đăng ký toàn bộ phần đất của mẹ bà và phần đất đang tranh chấp ông Tứ H2 tặng cho ông Tú A2 là không đúng quy định. Bà P xác định không yêu cầu thẩm định giá đất và tài sản gắn liền trên đất. Tại phiên tòa bà P xác định, theo đo đạc thực tế tổng diện tích khu đất là 13.346,7m²; do đó, bà yêu cầu ông Tứ H2 giao trả lại ½ diện tích đất theo đo đạc thực tế bằng 6.673,35m².
- Bà Đái Thị Thu H trình bày:
Thống nhất với lời trình bày của bà P, không có ý kiến gì khác.
Bị đơn: Ông Lê Tử H2 trình bày:
Nguồn gốc đất là của bà ngoại ông là cụ Võ Thị N1 để lại theo tờ chúc ngôn và tờ tương phân năm 1957 cho mẹ ông là bà Lê Thị H3 hưởng trọn vẹn phần đất vườn và thổ cư có diện tích 12.511,50m², mẹ ông cho lại ông; đến năm 1997 ông được Ủy ban nhân dân thành phố C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2009, ông cho con trai ông tên Lê Tú A2 diện tích 122,4m² và phần đất này ông Tú A2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đã cất nhà trên đất được cho, phần đất còn lại ông đã cất nhà ở ổn định từ năm 1975 cho đến nay. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông có bảo lãnh cho công ty T10 vay tiền tại Ngân hàng N4. Số tiền bảo lãnh ông đã thanh toán cho ngân hàng xong nhưng Ngân hàng vẫn còn đang quản lý theo văn bản của cơ quan thi hành án. Nay bà P và bà H yêu cầu ông trả lại ½ diện tích đất ông không đồng ý. Ông cũng không yêu cầu định giá và cũng không biết giá trị của nhà và đất là bao nhiêu.
- Bà Trương Thị K là vợ của ông Lê Tử H2 trình bày:
Thống nhất với lời trình bày của ông H2, không bổ sung gì thêm.
- Ông Lê Tú A2 là con ông Lê Tứ H2 trình bày:
Năm 2009, cha mẹ ông là ông Lê Tứ H2 và bà Trương Thị K có cho ông một phần đất diện tích 122,4m² tọa lạc tại ấp T, xã L, thành phố C. Phần đất này tách từ phần đất tranh chấp nêu trên, ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy phép xây dựng cất nhà trên đất năm 2009. Khi xây nhà ông không biết đất này đang tranh chấp, việc cha mẹ ông tặng cho đất cho ông là hợp pháp. Nay bà P và bà H yêu cầu trả đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông không đồng ý. Không yêu cầu thẩm định giá và cũng không biết giá trị nhà và đất bao nhiêu.
- Ông Lâm Văn C3 trình bày:
Ông Lê Tứ H2 được Ủy ban nhân dân thành phố C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hợp pháp, ông H2 đang có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ cho ông số tiền hơn 2.000.000.000 đồng, nay ông yêu cầu đây là đất của ông H2, ông H2 phải có nghĩa vụ giao đất cho cơ quan thi hành án phát mãi thu hồi nợ cho ông.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 13/2020/DS-ST ngày 16/10/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, quyết định:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 36, Điều 37, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 2 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Mai P, ông Đái Thanh Tuấn A, bà Đái Thanh Phương A1, bà Đái Thị Thu H, bà Đái Thị Thu B (người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T6 Ba gồm bà Nguyên Thanh V1, bà Nguyễn Thị Xuân H1, bà Nguyễn Thị Thu T, bà Nguyễn Thị Xuân T1)
về việc yêu cầu ông Lê Tứ H2 trả lại phần đất vườn diện tích 6.673,35m² tọa lạc tại ấp T, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau, vị trí phần đất tiếp giáp với các phần đất liền kề với quốc lộ A; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Lê Tứ H2 và một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Lê Tú A2 đứng tên. (Có bản trích đo hiện trạng kèm theo)
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 19/10/2020, nguyên đơn là bà Lê Thị Mai P và bà Đái Thị Thu H có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 02/11/2020, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau có Quyết định kháng nghị số 14/QĐKNPT-VKS-DS, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông Lê Tứ H2 và bà Trương Thị K cùng các con của ông H2, bà K trả lại phần đất có diện tích 6.204,15 m² (đất vườn) thuộc thửa 139 tờ bản đồ số 4 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông H2 đứng tên. Phần đất lấy từ mốc M4 –M9 đo vô đủ diện tích (kèm theo bản trích đo vẽ hiện trạng ngày 26 tháng 8 năm 2016).
Điều chỉnh một phần diện tích thửa đất thửa 139 của Giấy chứng nhận số K563213 cấp cho ông H2 vào ngày 30/12/1997 cho các nguyên đơn.
Chấp nhận một phần yêu cầu này của bà P, buộc ông Tú A2 trả phần đất lại cho bà P bằng giá trị, giữ nguyên giấy chứng nhận QSD đất và hiện trạng phần đất trên, tiếp tục giao cho ông Tú A2 quản lý, sử dụng. Buộc ông Tuấn A trả lại phần đất có diện tích 51,6 m² lại cho bị đơn bằng giá trị với số tiền 185.760.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà bà Lê Thị Mai P và bà Đái Thị Thu H vẫn giữ nguyên kháng cáo.
Bị đơn Lê Tứ H2 và ông Lê Tú A2 đề nghị không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:
Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, từ khi thụ lý đến thời điểm hiện nay thấy rằng Thẩm phán; Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vi phạm.
Về nội dung: Đề nghi chấp nhận quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau và kháng cáo của nguyên đơn, sửa án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau thụ lý và giải quyết vụ án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Cà Mau; kháng cáo của bà bà Lê Thị Mai P và bà Đái Thị Thu H đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nên vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ tranh chấp, đương sự trong vụ án, thẩm quyết giải quyết (do có đương sự định cư ở nước ngoài).
Tòa án cấp phúc thẩm triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng những người có kháng cáo đã ủy quyền nên vắng mặt, người có liên quan không có mặt nên tiếp tục xét xử vắng mặt họ.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông Lê Tứ H2 trực tiếp tham gia phiên tòa, ông Lê Tú A2 không nhận ủy quyền của ông Lê Tứ H2.
[1] Xét kháng cáo của nguyên đơn và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau, Hội đồng xét xử thấy:
Khu đất đang tranh chấp có diện tích đo đạc thực tế là 13.346,7m2, đất tọa lạc taị ấp T, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau có nguồn gốc của cụ Võ Thị N1 tạo lập. Cụ N1 có 02 người con là bà Lê Thị H3 (mẹ của ông Tứ H2) và bà Lê Thị H4 (mẹ bà Đái Thị Thu H, mẹ chồng chồng của bà P).
Quá trình giải quyết tranh chấp đất đai giữa hộ ông Đái Thanh B1 (chồng bà Lê Thị Mai P) với hộ ông Lê Tứ H2 đã được chính quyền địa phương giải quyết xác định:
Phần đất do bà Võ Thị N1 (bà ngoại của ông B1 và ông H2) đứng bộ bao gồm: Đất ruộng 16,569 ha, viên lang (vườn) 1,0532 ha, thổ cư: 0,3939 ha.
Ngày 28/8/1957 bà Võ Thị N1 lập tờ tương phân ruộng và thổ cư cho hai người con như sau:
Bà Lê Thị H3, sinh năm 1906 (con lớn) được hưởng trọn thổ cư 0,3939 ha, viên lang (vườn) 1,0532 ha.
Bà Lê Thị H4 sinh năm 2014 (con nhỏ) được hưởng miếng đất ruộng còn lại 8,2845 ha .. lúc tôi còn sanh tiền có quyền thụ hưởng trên các sở ruộng đất này, đến khi nào tôi chết khi ấy hai con của tôi trọn quyền hưởng trên phần đất của mình, có sự chứng thật của Hội đồng xã T.
Đến ngày 07/9/1970 bà N1 lập tờ tương phân số đất trên cho hai con:
Bà Lê Thị H3 và bà Lê Thị H4 mỗi người làm chủ ½ (phân nửa) phần đất và trọn quyền tùy ý sử dụng, có thị thực của chính quyền lúc bấy giờ và trước bạ ngày 23/10/1970.
Từ sự phân chia và trước bạ nêu trên, ngày 16/3/1971 Ty Đ địa An Xuyên đã điều chỉnh trên địa bộ. Tại địa bộ (cũ) số 233, (mới ) số 103, số tờ bản đồ 20 điều chỉnh cho bà Lê Thị H4 diện tích 0,5256 ha, bà Lê Thị H3 0,5256 ha, tờ bản đồ số 21, điều chỉnh cho bà Lê Thị H4 0,19659 ha, bà Lê Thị H3 0,19659 ha. Tại địa bộ (cũ) số 210, (mới ) 437, tờ bản đồ số 163 điều chỉnh cho bà Lê Thị H4 8,2845 ha, bà Lê Thị H3 8,2845 ha.
Ngày 19/6/1974 bà Võ Thị N1 lập tờ chúc ngôn (có thị thực của chính quyền lúc bấy giờ) nội dung cũng phân chia phần đất trên làm hai phần bằng
nhau cho hai người con là bà H3 và bà H4 như đã phân chia năm 1970. Song nêu thêm và rõ hơn đó là:
Bà N1 có hai con gái là Lê Thị H3 và Lê Thị H4. Không có con nuôi hoặc con thừa nhận nào khác, và nêu tứ cận phần đất đã chia cho các con, cụ thể:
Bà Lê Thị H3 (chồng là Lê Phương C4)
Bắc: Giáp Lê Thị Hạnh
Nam giáp Lung Mét
Đông: Giáp Bào Sơn
Tây: Giáp Nguyễn Thị Phòng
Lê Thị Hạnh (chồng là Đái Văn B2 – chết)
Bắc: giáp rạch Bà Điều
Nam Giáp Lê Thị Hằng
Đông: giáp Bào Tròn
Tây: giáp Lê Văn Y.
Tại tờ trình giải quyết tranh chấp của Tổ trưởng tổ số 1 – Chánh Thanh tra thành phố C xác định: Tuy rằng, phần đất bà N1 đã phân chia và đã được điều chỉnh trên bộ cho 2 con là bà H3 và bà H4, như bà N1 vẫn còn quản lý và có cho một số hộ mướn sản xuất. Bà N1 chết năm 1985, bà H3 chết năm 1987, bà H4 chết năm 1993.
Sau ngày miền N hoàn toàn giải phóng, ông Lê Tứ H2 (con của bà H3) về sống với bà N1 và canh tác đất của bà H3 và một phần đất của bà H4. Ông Đái Thanh B1 (con bà H4) canh tác 2 ha (của bà H4). Phía ông B1 nhiều lần đặt vấn đề với ông H2 thực hiện chúc ngôn của bà N1 để lại, nhưng ông H2 yêu cầu phía ông B1 cho mượn canh tác giải quyết khó khan. Trong quá trình sử dụng đất, ông H2 có phân chia cho chị, em và cháu cùng sử dụng. Đến năm 1997, ngoài phần đất đã phân chia nêu trên, ông H2 kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (có phần đất của ông B1) được UBND thị xã C (nay là thành phố C) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 563213, ngày 30/12/1997 diện tích 52.360 m². Trong đó, thổ cư 300 m², vườn 11.480 m², lúa 40.580 m². Ông H2 đã chuyển nhượng một phần đất ruộng và kêu bán đất vườn, ông B1 phát hiện và phát sinh tranh chấp.
Vụ việc đã được chính quyền địa phương và các ngành chức năng của thành phố C giải quyết nhiều lần nhưng không thành – Hồ sơ phòng Địa chính - Đô thị thành phố C chuyển giao cho tổ công tác số 1 tháng 6/2002.
Ngày 02/7/2002 Tổ công tác tiến hành cuộc hòa giải đã được sự thống nhất của ông H2 và ông B1 là giữ nguyên phần đất ruộng không tranh chấp. Phần đất vườn và thổ cư sau khi trừ khu vực mồ mả còn lại chia làm 2 phần bằng nhau, mỗi bên một nửa. Phía ông H2 đề nghị ông B1 phải trả thành quả lao động (công giữ gìn, bồi đắp) cho ông H2. Do ông H2 không định được khoản thành quả lao động mà ông B1 phải trả cho ông, nên ông H2 có ý kiến nếu hai
bên không thỏa thuận được thì cơ quan Nhà nước xem xét trừ phần mồ mả ra còn lại chia làm 3 phần, ông H2 2 phần, ông B1 một phần (bl 81, 82).
Ngày 12/11/2002 UBND thành phố C ban hành quyết định số: 857/QĐ –UB buộc ông Lê Tứ H2 phải trả lại ½ diện tích đất vườn là 5.713,75 m² cho ông Đái Thanh B1.
Ngày 22/4/2009 UBND thành phố C ban hành quyết định số: 02QĐ –UB thu hồi quyết định 857/QĐ –UB lý do: vì đất tranh chấp đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Ông Đái Thanh B1 khởi kiện vợ chông ông Lê Tứ H2 tại Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.
Năm 2009 ông Lê Tứ H2 cho vợ chồng con trai là Lê Tú A2 và Nguyễn Thị N 166,5 m² trong phần đất tranh chấp để cất nhà ở. UBND thành phố C đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 991080 ngày 22/6/2009 cho vợ chồng ông Lê Tú A2 và bà Nguyễn Thị N.
Do có khiếu nại của bà Lê Thị Mai P UBND thành phố C, tỉnh Cà Mau ban hành quyết định số: 48/QĐ –UBND ngày 26/02/2013 về việc điều chỉnh diện tích 122,40 m² đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 991080 ông Lê Tú A2 và bà Nguyễn Thị N trong tổng diện tích 166,5 m² để trả lại hiện trạng ban đầu cho cho ông H2, bà K do phần đất này Ủy ban xác định tranh chấp.
Ông Lê Tú A2 và bà Nguyễn Thị N khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau yêu cầu hủy quyết định nêu trên.
Bản án Hành chính sơ thẩm số: 01/2015/HC –ST ngày 06/5/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu của ông Lê Tú A2 và bà Nguyễn Thị N và yêu cầu hủy quyết định số: 48/QĐ –UBND ngày 26/02/2013 của UBND thành phố C về việc điều chỉnh diện tích 122,40 m² trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AO 991080 của ông A2 và bà N.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau kháng nghị bản án sơ thẩm, đề nghị sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Tú A2.
Vợ chồng ông A2 kháng cáo bản án hành chính sơ thẩm đề nghị sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông.
Bản án hành chính phúc thẩm số 09/2015/HC –PT ngày 23/7/2015 Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tú A2 và bà Nguyễn Thị N.
Hủy quyết định hành chính số: 48/QĐ –UBND ngày 26/02/2013 của UBND thành phố C.
Lý do: “Lẽ ra UBND thành phố C phát hiện trong phần đất tranh chấp đã cấp cho ông Lê Tú A2, bà Lê Thị N3 là trái pháp luật, thì phải thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp, tiến hành cấp lại cho đúng quy định”
(bl411 – trang 4 Bản án hành chính phúc thẩm số 09/2015/HC –PT ngày 23/7/2015 của TAND tỉnh Cà Mau).
Như vậy, vụ việc tranh chấp trên đã được giải quyết kéo dài từ năm 1998 đến nay, phía nguyên đơn vẫn liên tục yêu cầu giải quyết được nhận lại đất.
Án sơ thẩm nhận định nguyên đơn không có nhu cầu sử dụng đất để không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là không phù hợp.
Bà Lê Thị H4 có 04 người con: một là ông Đái Thanh B1 (chết) có vợ là Lê Thị Mai P và 02 người con là Đái Thanh Tuấn A và Đái Thanh Phương A1, hai là bà Đái Thị Thu H, ba là bà Đái Thị Thu B (chết) có các người con là Nguyễn Thu V, Nguyễn Thị Xuân H1, Nguyễn Thị Thu T, Nguyễn Thị Xuân T1, bốn là Đái Thị Thu C1 (tên gọi khác Nguyen Thi Thu C2), năm là ông Đái Ngọc T5 chết không vợ con. Bà Lê Thị H3 có 01 người con là ông Lê Tứ H2. Các người con của cụ Lê Thị H4 không tranh chấp.
Từ những phân tích trên, cho thấy kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau, kháng cáo của các đương sự đối với yêu cầu được hưởng di sản của cụ N1 là có căn cứ chấp nhận.
Khi đo đạc, thẩm định tại chỗ tòa án cấp sơ thẩm không thực hiện việc đo đạc theo di nguyện của cụ N1, mà chỉ đo vẽ 02 phần với tổng diện tích: 13.346,7 m². Trong đó thửa ký hiệu 01: 131m², phần nền nhà vợ chồng ông Tú A2, phần ký hiệu 02: 13.215,7 m² (phần diện tích còn lại).
Tòa án cấp phúc thẩm cũng ủy thác cho cấp sơ thẩm đo các phần đất theo di nguyện của cụ N1 và theo kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau nhưng phía bị đơn không kết hợp cho đo đạc. Việc hủy án để cho cấp sơ thẩm đo đạc lại làm kéo dài thời gian dài quyết vụ án nên Hội đồng xét xử.
Tuy nhiên ông Lê Tứ H2 có thời gian dài quản lý, đóng góp việc tôn tạo khối di sản nên phân chia cho ông H2 thêm phần công sức đóng góp duy trì, tôn tạo khối di sản. Diện tích theo tương phân của của cụ N1 thì bà H3, bà H4 mỗi người là 0,5256 ha = 5.256 m²
Trên phần đất có hai khu mộ nên cần để lại một phần diện tích đất phần mộ: 10 m x 20 m= 200 m2. Phân ra mỗi khu mộ: 10 m x 10 m = 100 m2. (Khu A & B theo bản đo vẽ địa phương năm 2002).
Phần thừa kế mỗi bên đương sự bằng: 5.000 m².
Phần công sức đóng góp chia cho bị đơn: 13.346,7 m² – 200 m² - 2 x 5.000 m² = 3.146,7 m².
Phần đất bên nguyên đơn được chia : 5.000 m².
Phần đất bên bị đơn được chia: 8.146,7 m². Xác định, trong đó có 131 m² đã cho vợ chồng Lê Tú A2. Nên không buộc ông Tú A2 phải trả tiền cho phía nguyên đơn như kháng nghị nêu.
Vị trí được phân chia theo chúc ngôn của cụ N1.
Theo đó phần đất thừa kế của bà H4 (phía nguyên đơn): là hình đa giác hình thành từ các điểm): M9; M10 (M1 –M10 = 108,39 m) (Giáp ranh với bà Nguyễn Thị Bé T8 và ông H5), M11 (M10 – M11= 19,06 m); M12 (nằm trên đoạn M11- M1); M13 (nằm trên đoạn M4-M5); M5; M6 (M5-M6 = 27,23 m); M7 (M6 –M7 = 4,81m); M8 (M7 –M8 = 27,23m); M9 (M8 – M9 =17,99 m)(Trừ đi diện tích khu mộ 10 m x 10 m =100 m2, có 2 cạnh song song với đoạn nối M1 và M11)). (điểm M12 và M13 được xác định: đoạn nối điểm M12 và M13 song song với đoạn nối M9 và M10, đo đủ diện tích 5.000 m²).
Phần diện tích đất của bị đơn Lê Tứ H2: là hình đa giác hình thành từ các điểm: M1; M2; M3;M4; M13; M12. (kích thước M1-M2 = 23,87 m, M2-M3 = 32,04 m, M3 -M4 = 43,76 m). Diện tích 8.146,7 m² - 131 m² = 8.015,7 m².
(Trừ đi diện tích khu mộ 10 mx 10 m =100 m², có hai cạnh song song với đoạn nối M1 – M2).
Diện tích phần đất ông Lê Tứ H2 cho con Lê Tú A2: là hình tứ giác hình thành từ các điểm: M5; M6; M7; M8; diện tích 131 m².
Hủy phần diện tích thửa đất thửa 139 của Giấy chứng nhận số K563213 cấp cho ông H2 vào ngày 30/12/1997 để phân chia cho các đương sự như phân tích nêu trên.
Phần công trình, vật kiến trúc, ao nuôi cá trên phần đất được chia nguyên đơn được hưởng mà không phải bồi hoàn giá trị (do đã tính công duy trì, tôn tạo đất cho bị đơn)
Về án phí dân sự sơ thẩm: Cấp sơ thẩm tính giá 3.000.000 đồng/m² để tính án phí là chưa đúng. Vì phần đất chỉ có 300 m² đất thổ cư, còn lại là đất vườn (đất trồng cây lâu năm). Theo quyết định số 41/2019/QĐ –UBND ngày 20/12/2019 của UBND tỉnh C quy định bảng giá đất trên địa bàn xã L, thành phố C giai đoạn 2019 đến 2024 thuộc Khu vực 2, đất trồng cây hàng năm là 120.000 đồng/m2. Nên lấy theo đơn giá này để tính cho đương sự.
Các đương sự trên 60 tuổi có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí.
Phần đất các thừa kế của bà H4 được chia: Diện tích 5.000 m² x 120.000 đồng/m² = 600.000.000 đồng. Đái Thanh T9 và Đái Thanh Phương A1 mỗi người phải nộp = 150.000.000 đồng x 5% /3 = 2.500.000 đồng.
Nguyễn Thị Xuân H1 và Nguyễn Thị Xuân T1 mỗi người phải nộp = 150.000.000 đồng x 5% / 4 = 1.875.000 đồng.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu.
Chi phí đo đạc, định giá tài sản: Cấp sơ thẩm xác định số tiền 5.000.000 đồng do bà P nộp. Do án phúc thẩm chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn nên mỗi bên phải chịu ½ bằng 2.500.000 đồng. Nay buộc bị đơn nộp 2.500.000 để trả lại bà P.
Lệ phí thực hiện ủy thác tư pháp và chi phí thực tế ủy thác tư pháp nguyên đơn phải chịu.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau.
Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn. Sửa bản án sơ thẩm.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Xác định di sản thừa kế của cụ Võ Thị N1 là phần đất diện tích đo đạc thực tế: 13.346,7 m². Thửa 0139 (gồm 300m² thổ cư và 11480 m² đất vườn) tọa lạc tại ấp T, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau Nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 61459/QSDĐ/TXCM cấp ngày 30/12/1997 cho ông Lê Tứ H2.
Hủy phần diện tích thửa đất thửa 139 của Giấy chứng nhận số K563213 cấp cho ông H2 vào ngày 30/12/1997 để phân chia cho các đương sự như sau.
Phân chia di sản thừa kế cho 02 thừa kế của cụ Võ Thị N1 như sau:
Phần của bà Lê Thị H4 (có thừa kế là các nguyên đơn) diện tích 5.000 m². Vị trí: được phân chia theo chúc ngôn của cụ N1 là hình đa giác hình thành từ các điểm): M9; M10 (M1 –M10 = 108,39 m) (Giáp ranh với bà Nguyễn Thị Bé T8 và ông H5), M11 (M10 – M11= 19,06 m); M12 (nằm trên đoạn M11- M1); M13 (nằm trên đoạn M4-M5); M5; M6 (M5-M6 = 27,23 m); M7 (M6 –M7 = 4,81m); M8 (M7 –M8 = 27,23m); M9 (M8 – M9 =17,99 m) (Trừ đi diện tích khu mộ 10 m x 10 m =100 m², có 2 cạnh song song với đoạn nối M1 và M11)). (điểm M12 và M13 được xác định: đoạn nối điểm M12 và M13 song song với đoạn nối M9 và M10, đo đủ diện tích 5.000 m²). Không tính phần đất đã cấp cho ông Lê Tú A2 131 m2 và phần diện tích khu mộ 100 m2..
Phần của bà Lê Thị H3 (thừa kế là bị đơn Lê Tứ H2): là hình đa giác hình thành từ các điểm: M1; M2; M3; M4; M13; M12. (kích thước M1-M2 = 23,87 m, M2-M3 = 32,04 m, M3 –M4 = 43,76 m). Diện tích 8.146,7 m2 - 131 m² = 8.015,7 m². Trừ đi diện tích khu mộ 10 mx 10 m =100 m², có hai cạnh song song với đoạn nối M1 – M2.
Diện tích phần đất ông Lê Tứ H2 cho con Lê Tú A2: là hình tứ giác hình thành từ các điểm: M5; M6; M7; M8; diện tích 131 m².
Phần diện tích khu mộ: Gồm 2 khu mỗi khu 10 x10 = 100 m².
Về án phí: Án phí phúc thẩm không ai phải chịu.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Phạm Trí Tuấn |
Bản án số 1009/2024/DS-PT ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 1009/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Lê Thị Mai P kiện Ông Lê Tứ H về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Tuyên xử Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau. Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn. Sửa bản án sơ thẩm. Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
