|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1008/2024/DS-PT Ngày 29 - 11 - 2024 V/v Tranh chấp công sức tạo lập, giữ gìn, tôn tạo tài sản trên các quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Hoàng Thanh Dũng |
| Các Thẩm phán: | Ông Phạm Trí Tuấn |
| Ông Phan Nhựt Bình |
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngụy Tiến Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22 và 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 565/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp công sức tạo lập, giữ gìn, tôn tạo tài sản trên các quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2024/DS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1153/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Trần Quang V, sinh năm 1958; cư trú: số A, tổ F, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
- Ông Trần Quang C, sinh năm 1982; cư trú: số H, Lý Thái T1, tổ F, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (có mặt)
- Ông Trần Quang N, sinh năm 1988; cư trú: số C, Lý Thái T1, tổ F, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người đại diện hợp pháp cho ông Trần Quang V: Bà Dương Thị Đạt T, sinh năm 1974; nơi cư trú: ấp A, thị trấn A, huyện A, tỉnh An Giang. (văn bản ủy quyền ngày 04/5/2024)
Đại diện cho ông Trần Quang V, Trần Quang C: ông Trần Quang N, sinh năm 1988; cư trú: số C, Lý Thái T1, tổ F, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (văn bản ủy quyền ngày 19/3/2023). (có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi hợp pháp cho ông Trần Quang C, ông Trần Quang N: Luật sư Lê Văn Thông thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. (có mặt)
- Bà Trần Thị Mộng T2, sinh năm 1984; cư trú: số C, Lý Thái T1, tổ F, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người đại diện hợp pháp cho bà Trần Thị Mộng T2: Ông Lê Hoàng S, sinh năm 1984; địa chỉ: Khóm T, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang (văn bản ủy quyền ngày 14/11/2024). (có mặt)
- Bị đơn: Bà Trần Thị S1, sinh năm 1954. (có mặt)
Địa chỉ: D – HART WELL – DR – COLUMBUS, OH 43224, USA.
Người đại diện hợp pháp của bà S1 là ông Trần Văn Thanh Q, sinh năm 1971; nơi cư trú: ấp T, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang (Văn bản ủy quyền ngày 04/01/2024). (có mặt)
- Người kháng cáo: Ông Trần Quang V, ông Trần Quang C, ông Trần Quang N, bà Trần Thị Mộng T2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện kèm tờ tự khai và lời trình bày của các nguyên đơn tại phiên tòa, thể hiện:
Ông Trần Quang V bà bà Trần Thị S1 là chị em ruột, trước đây bà S1 định cư ở Mỹ. Trong thời gian định cư ở nước ngoài bà S1 nhiều lần gửi tiền về cho ông V để giúp đỡ nhiều anh em trong gia đình, trong đó có bản thân ông V.
Vào năm 2007, ông V muốn mua phần đất của ông Trịnh Văn H, bà Trương Thị Tuyết N1 nên có đề nghị bà S1 hỗ trợ (cho tiền) để mua đất, bà S1 đồng ý hỗ trợ cho ông V tiền để mua đất nên đã chuyển cho ông V số tiền là 1.400.000.000 đồng (một tỷ bốn trăm triệu đồng). Đầu năm 2008, V đã thỏa thuận và mua đất của ông Trịnh Văn H, bà Trương Thị Tuyết N1, trên đất có 01 nhà kho cũ không còn giá trị sử dụng. Ông V vay người quen số tiền 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng) để dỡ bỏ nhà kho và xây dãy nhà trọ gồm 31 phòng. Việc vay tiền không làm giấy tờ, người cho vay là ông T3 hiện không còn ở địa phương, không liên lạc và không cung cấp được chứng cứ về việc vay tiền. Sau đó, bà S1 gửi về 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng). Tổng số tiền mà bà S1 gửi cho ông V là 1.800.000.000 (một tỷ tám trăm triệu đồng). Trong đó, số tiền mua đất là 1.400.000.000 đồng (một tỷ bốn trăm triệu đồng) và số tiền ông V trả nợ tiền xây nhà trọ là 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng).
Khi mua đất của ông H, N1 thì diện tích tổng cộng là 440m², với giá chuyển nhượng thực tế là 1.400.000.000 đồng (một tỷ bốn trăm triệu đồng). Trong đó tích được cấp giấy chứng nhận đất là 241,9m² (200m² đất ở tại nông thôn và 41,9m² đất cây lâu năm), thửa đất: số 18, 19, tờ bản đồ số: 31, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01004QSD/Ad do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp ngày 28/07/1999, còn lại 198,1m² chưa được cấp giấy chứng nhận. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 25/01/2008, giá chuyển nhượng ghi trong hợp đồng là 400.000.000 đồng. Sau đó ông V đã tự thực hiện thủ tục kê khai, đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tổng diện tích 440m² gồm:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01616dA ngày 15/02/2008, diện tích 200m², thửa số: 218, tờ bản đồ số: 27, loại đất ở đô thị.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01614dA ngày 15/02/2008, diện tích 41,9m², thửa số: 266, tờ bản đồ số 27, loại đất trồng cây lâu năm.
- Đồng thời, ông V làm thủ tục kê khai cấp giấy đối với 198,1m², loại đất trồng cây lâu năm và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H01615dA, ngày 15/02/2008, thửa số 267, tờ bản đồ số 27.
Kể từ năm 2008 đến 2014, ông V, ông C, ông N, bà T2 cùng nhau quản lý nhà đất, quản lý kinh doanh nhà trọ.
Đến năm 2013, do ông V tuổi đã cao nên sang tên toàn bộ nhà, đất cho các con ruột là Trần Quang C, Trần Quang N. Cụ thể:
- Ông V lập Hợp đồng tặng cho riêng quyền sử dụng đất cho con là Trần Quang N ngày 20/12/2013, diện tích đất: 200m², thửa đất số: 218, tờ bản đồ số: 27, loại đất thổ cư, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H.01616dA, do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp ngày 15/02/2008.
- Ngày 30/5/2019, Ông V lập Hợp đồng tặng cho riêng Q1 sử dụng đất cho con là Trần Quang C gồm 02 thửa đất:
- Diện tích đất: 198,1m², thửa đất số: 267, tờ bản đồ số: 27, loại đất cây lâu năm, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01615dA và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH06732 ngày 03/7/2019 mang tên ông C.
Ông N đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH04244 ngày 06/01/2014 mang tên ông N.
- Diện tích đất: 41,9m², thửa đất số: 266, tờ bản đồ số: 27, loại đất cây lâu năm, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01614dA ngày 15/02/2008 mang tên ông V. Ông C đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06722 ngày 14/6/2019.
Năm 2019:
Ông N làm thủ tục tách thửa đối với diện tích đất 200m² đất ở đô thị, theo Giấy chứng nhận số CH04244 ngày 06/01/2014 và lập Hợp đồng tặng cho bà Trần Thị Mộng T2 vào ngày 07/8/2019 đối với diện tích đất 48,3m², loại đất ở đô thị. Bà T2 làm thủ tục đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06767 ngày 10/9/2019. Ông N được cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06768 ngày 10/9/2019, diện tích 151,7m², thửa số 218, tờ bản đồ số 27.
Năm 2019 do nhà trọ xuống cấp không còn sử dụng được nên gia đình ông V sửa chữa, nâng cấp nhà trọ để kinh doanh quán cà phê.
Sau đó bà S1 lại khởi kiện các ông, bà để đòi tài sản vì bà S1 cho rằng tài sản là của bà S1 mua nhưng để ông V đứng tên hộ.
Bản án sơ thẩm số 03/2021/DS-ST ngày 25/02/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang và Bản án phúc thẩm số 186/2022/DS-PT ngày 29/3/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã chấp nhận yêu cầu hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đòi tài sản của bà S1, buộc ông V, ông C, ông N, bà T2 phải trao trả nhà và đất, gồm:
- Diện tích 41,9m² đất trồng cây lâu năm, thửa 286, tờ bản đồ 27.
- Diện tích 198,1m² đất trồng cây lâu năm, thửa 285, tờ bản đồ 27
- Diện tích 48,3m² đất ở đô thị, thửa 473, tờ bản đồ 27.
- Diện tích 151,7m², đất ở đô thị, thửa 218, tờ bản đồ số 27.
- Căn nhà gắn liền 04 phần đất nêu trên, diện tích xây dựng là 273,2m².
Toàn bộ tài sản tọa lạc đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Ông V, C, Nam thống nhất theo Chứng thư định giá của Công ty Đ đã định vào ngày 22/7/2020 làm căn cứ để tính tiền công sức tôn tạo, bảo quản và hoàn trả giá trị phần mái che, không yêu cầu Tòa án định giá lại.
Nay nguyên đơn căn cứ vào phần quyết định của bản án phúc thẩm mục [2] có nội dung “dành quyền khởi kiện cho các ông Trần Quang V, Trần Quang C, Trần Quang N và Trần Thị Mộng T2 bằng một vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu về công sức tạo lập, bảo quản, giữ gìn, tôn tạo tài sản trên các quyền sử dụng đất giao lại cho Bà S1” vì Tòa án chưa xem xét để tính công sức đóng góp, quản lý, duy trì, làm tăng giá trị tài sản cho nguyên đơn theo tinh thần Án lệ số 02/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Các nguyên đơn đã có đóng góp công sức nâng cấp, sửa chữa tài sản, công sức bảo quản, duy trì, làm tăng giá trị tài sản như sau:
- Trong việc mua bán đất chỉ có ông V là người thực hiện với vợ chồng ông Trịnh Văn H, bà Trương Thị Tuyết N1. Bà S1 chỉ gửi tiền về hỗ trợ chứ hoàn toàn không tham gia trong việc mua bán. Do đó, ông V là người có công sức trong việc thỏa thuận, giao dịch mua bán tài sản.
- Khi mua đất thì ông V và ông H, bà N1 thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng vào ngày 25/01/2008 đối với phần đất diện tích 241,9m² (không phải là 440m²) thuộc thửa số 18, 19 tờ bản đồ số 31, lọa tạc hẻm H, phường M. Trong đó bao gồm 200m² đất thổ cư và 41,9m² đất cây lâu năm.
- Việc tôn tạo, sửa chữa, nâng cấp tài sản như sau:
Lúc mua đất khu vực này còn hoang sơ, vắng người ở và còn một phần đất hầm hố chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho. Sau khi mua đất thì ông V đã bỏ công sức để lấp các hầm hố và quản lý, sử dụng. Đồng thời ông V thực hiện thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH04242, diện tích 198,1m², thửa đất số 267, tờ bản đồ số 27, loại đất trồng cây lâu năm (được cấp mới lần đầu).
Do đó, ông V là người có công sức thực hiện thủ tục kê khai, xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất chưa được nhà nước công nhận và làm tăng thêm giá trị của khối tài sản.
Năm 2008: Khi mua đất của ông H và bà N1 thì trên đất chỉ có căn nhà kho đã cũ, không còn giá trị sử dụng. Do đó, các ông bà đã tôn tạo, sửa chữa, tháo dỡ toàn bộ nhà kho, nâng nền, sang lấp ao, trang bằng mặt đất và xây dãy nhà trọ gồm 31 phòng.
Năm 2019: Do nhà trọ xuống cấp không còn sử dụng được, đồng thời lúc đó nhà nước làm đường, nâng mặt đường L lên cao hơn đường cũ 0,8m. Do đó phải nâng toàn bộ nền đất 440 m², chiều cao 01m để cao hơn đường lộ, tráng xi măng toàn bộ mặt nền và lót gạch (loại gạch lát vĩa hè) toàn bộ mặt nền. Sửa chữa, nâng cấp nhà trọ để kinh doanh quán cà phê và làm nhà ở và xây dựng thêm hệ thống máy che, cột sắt, khung sắt, mái tole.
Tổng chi phí sửa chữa, nâng cấp là: 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng).
Đầu năm 2020: tiếp tục xây hệ thống nhà vệ sinh gồm 03 phòng, xây dựng hệ thống thoát nước, cống, hố ga. Tổng chi phí là 135.000.000 đồng (một trăm ba mươi triệu đồng).
Cuối năm 2020: Xây dựng thêm 02 phòng để ở và xây dựng hệ thống rửa xe để làm tiệm rửa xe. Tổng chi phí 290.000.000 đồng (hai trăm chín mươi ngàn đồng)
Toàn bộ việc xây dựng, sửa chữa, nâng cấp tài sản không xin phép theo quy định nên không có giấy phép xây dựng, sửa chữa. Tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc nâng cấp, xây dựng, sửa chữa đã thất lạc nên không thể cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
Tổng số tiền đã đóp góp vào khối tài sản nêu trên là: 600.000.000đ + 650.000.000đ + 135.000.000đ + 290.000.000đ = 1.675.000.000 đồng (một tỷ sáu trăm bảy mươi lăm triệu đồng).
Giá trị chênh lệch tăng thêm của khối tài sản là:
22.273.266.000 - 1.800.000.000 (tiền bà S1 bỏ ra) - 1.675.000.000 = 18.798.266.000 (mười tám tỷ bảy trăm chín mươi tám triệu hai trăm sáu mươi sáu ngàn đồng).
Do nguyên đơn có nhiều đóng góp nên yêu cầu được tính công sức tương đương 70% của phần giá trị tài sản chênh lệch tăng thêm:
18.798.266.000 x 70% = 13.158.786.200 (mười ba tỷ một trăm năm mươi tám triệu bảy trăm tám mươi sáu ngàn hai trăm đồng).
Trong đó:
- Phần ông V yêu cầu bà S1 hoàn trả 20% giá trị tài sản, tương đương số tiền là: 18.798.266.000 x 20% = 3.759.653.200 đồng.
- Phần ông C yêu cầu bà S1 hoàn trả 20% giá trị tài sản, tương đương số tiền là: 18.798.266.000 x 20% = 3.759.653.200 đồng.
- Phần ông N yêu cầu bà S1 hoàn trả 20% giá trị tài sản, tương đương số tiền là: 18.798.266.000 x 20% = 3.759.653.200 đồng.
- Phần bà T2 yêu cầu bà S1 hoàn trả 10% giá trị tài sản, tương đương số tiền là: 18.798.266.000 x 10% = 1.879.826.600 đồng.
Căn nhà có tổng diện tích là 273,2m² và mái che nằm trên diện tích đất 440 m² có giá trị 974.745.680 đồng là tài sản chung của 04 người gồm V, C, N, T2 nên yêu cầu bà S1 phải trả lại giá trị tài sản cho 04 người thành tiền (làm tròn số) là: 243.686.000đ.
Ông V, ông N, ông C khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc phía bị đơn là bà S1 có nghĩa vụ trả lại công sức giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị đất và phần giá trị của mái che. Cụ thể:
- Đối với ông V yêu cầu: bà Trần Thị S1 hoàn trả số tiền 4.003.339.200₫ (bao gồm 20% giá trị tài sản chênh lệch tăng thêm tương đương số tiền là 3.759.653.200đ và ¼ giá trị nhà và mái che trên đất là 243.686.000₫).
- Ông N yêu cầu: Trần Thị S1 hoàn trả số tiền 4.003.339.200đ (bao gồm 20% giá trị tài sản chênh lệch tăng thêm tương đương số tiền là 3.759.653.200₫ và ¼ giá trị nhà và mái che trên đất là 243.686.000₫).
Ông V và ông N yêu cầu được nhận bằng tài sản là: 151,7m², loại đất: ODT, thuộc thửa 218, tờ bản đồ số 7; đất tọa lạc tại: khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Ông V, ông N hoàn lại giá trị chênh lệch cho bà S1 với số tiền là 1.672.438.100 đồng.
- Ông C yêu cầu: bà Trần Thị S1 hoàn trả số tiền 4.003.339.200đ (bao gồm 20% giá trị tài sản chênh lệch tăng thêm tương đương số tiền là 3.759.653.200đ và ¼ giá trị nhà và mái che trên đất là 243.686.000₫). Ông C yêu cầu được nhận bằng tài sản là 198,1m², loại đất CLN, thuộc thửa 285, tờ bản đồ số 27 và 41,9m², loại đất CLN, thuộc thửa số 286, tờ bản đồ số 27; đất tọa lạc tại: khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Ông C hoàn lại giá trị chênh lệch cho bà S1 với số tiền là 4.546.180.800 đồng.
Bà Dương Thị Đạt T trình bày: Do bà T2 có công sức giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị đất cho bà S1 nên bà T2 cầu bà Trần Thị S1 hoàn trả số tiền 2.123.512.600đ (bao gồm 10% giá trị tài sản chênh lệch tăng thêm tương đương số tiền là 1.879.826.600đ và ¼ giá trị nhà và mái che trên đất là 243.686.000₫).
Bà T2 thống nhất lấy giá theo Chứng thư định giá của Công ty Đ đã định vào ngày 22/7/2020 làm căn cứ để tính tiền công sức tôn tạo, bảo quản và hoàn trả giá trị phần mái che, không yêu cầu Tòa án định giá lại.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2024/DS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024, Toà án nhân dân tỉnh An Giang đã quyết định:
Căn cứ Điều 26; khoản 3 Điều 35; Điều 37; Điều 147; Điều 158; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- [1] Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn Trần Quang V, Trần Quang C và Trần Quang N về việc khởi kiện yêu cầu bị đơn Trần Thị S1 trả tiền công sức giữ gìn, tôn tạo tài sản là giá trị nhà mỗi người là 786.137.448 đồng.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị Thanh T4 về việc khởi kiện yêu cầu bị đơn Trần Thị S1 trả tiền công sức giữ gìn, tôn tạo tài sản 423.512.600 đồng.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn Trần Quang C và Trần Quang N về việc yêu cầu bà Trần Thị S1 trả công sức giữ gìn, tôn tạo tài sản cho mỗi người với số tiền là 3.217.201.752 đồng.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quang V: Buộc bà Trần Thị S1 có nghĩa vụ trả cho ông V công sức giữ gìn, tôn tạo tài sản với số tiền 500.000.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu của ông V đòi bà S1 trả công sức giữ gìn, tôn tạo tài sản bằng hiện vật.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Trần Thị Thanh T4 về việc yêu cầu bà Trần Thị S1 trả công sức giữ gìn, tôn tạo tài sản với số tiền là 1.700.000.000 đồng.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, trách nhiệm thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 02/5/2024, nguyên đơn bà Trần Thị Mộng T2 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 06/5/2024, ông Trần Quang V, ông Trần Quang C, ông Trần Quang N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Trần Thị Mộng T2, ông Trần Quang V, ông Trần Quang C, ông Trần Quang N vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người đại diện theo ủy quyền cho các nguyên đơn trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào chứng thư thẩm định giá năm 2020 trong vụ án trước đây để giải quyết; chưa thực hiện thủ tục thẩm định tài sản nên bỏ sót các tài sản trên đất. Vì vậy, Tòa án chưa ghi nhận các tài sản như cây cối trên đất của gia đình nguyên đơn và xử lý. Theo chứng thư thẩm định giá tài sản trên đất là gần 1.000.000.000 đồng nhưng án sơ thẩm chỉ tuyên cho ông V được 500.000.000 đồng là không phù hợp. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà S1 trả cho ông V 500.000.000 đồng nhưng không nói rõ chi phí quản lý, tôn tạo như thế nào. Phía bị đơn cho rằng có tài liệu chứng cứ thể hiện bà S1 có gửi tiền để xây dựng nhưng hoàn toàn không cung cấp được chứng cứ. Tòa án chưa triệu tập bà L là vợ ông V để làm rõ trong số tiền 500.000.000 đồng có phần đóng góp của bà L hay không là ảnh hưởng đến quyền lợi của bà L, chưa đảm bảo thủ tục về tố tụng. Ông C và ông N đều có công sức tôn tạo tài sản trên đất nhưng lại không xem xét đến công sức xây dựng của hai người này trong khi họ đã sử dụng đất được 03 đến 04 năm là không đúng quy định pháp luật, tuy không được sự đồng ý của bà S1 trong việc chuyển nhượng nhưng bà S1 biết mà không khiếu nại và chỉ đến khi đi khởi kiện tại Tòa án mới có ý kiến. Tại phiên tòa phúc thẩm phía bị đơn xác định đó là số tiền cho phía nguyên đơn chứ không phải tiền công sức quản lý, tôn tạo. Tại thời điểm chuyển nhượng đất của ông H thì đất chưa được cấp giấy chứng nhận, ông V là người thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận lần đầu, quá trình cấp giấy lần đầu mất rất nhiều thời gian và tiền bạc nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét là không phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoặc hủy toàn bộ bản án sơ thẩm nếu thấy chưa đủ căn cứ.
Bị đơn bà Trần Thị S1 do ông Trần Văn Thanh Q đại diện đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Ông V là người thực hiện các thủ tục với chính quyền để thực hiện các thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho bà S1. Ông V là người đứng tên tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2008 đến năm 2013, mới chuyển cho vợ và con đứng tên. Bà S1 là Việt kiều Mỹ nên nhờ ông V đứng tên theo Bản án phúc thẩm số 186/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là có thật, thuộc trường hợp áp dụng Án lệ số 02. Về tài sản đầu tư trên đất, bà S1 chỉ bỏ ra 400 triệu đồng nhưng tài sản trên đất có giá trị hơn 500 triệu đồng. Xét thấy, nếu ông V có lỗi không được nhận 50% lợi nhuận thì vẫn phải trả cho ông V số tiền 3.217.201.000 đồng. Đối với yêu cầu của ông N, ông C và bà T2 là không có cơ sở do việc chuyển nhượng, quản lý tài sản không được sự đồng ý của bà S1. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm, chấp nhận kháng cáo của ông V; buộc bà S1 trả cho ông V 3.217.201.000 đồng (bao gồm giá trị tài sản và công sức đóng góp, tôn tạo); bác kháng cáo của các đương sự khác.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra, kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Trần Quang V, ông Trần Quang C, ông Trần Quang N, bà Trần Thị Mộng T2 làm trong hạn luật định, hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- [2] Về nội dung:
- [2.1] Đối với “Tranh chấp quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa bà Trần Thị S1 với ông Trần Quang V, ông Trần Quang N, ông Trần Quang C, bà Trần Thị Mộng T2 đã được giải quyết theo Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án tỉnh An Giang và Bản án phúc thẩm số 186/2022/DS-PT ngày 29/3/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó, xác định các tình tiết cụ thể như sau:
Bà Trần Thị S1 định cư tại nước ngoài, gửi tiền về nhờ ông Trần Quang V (em bà S1) nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Trịnh Văn H, Trương Thị Tuyết N1, với số tiền 1.800.000.000 đồng, sau đó nhờ ông Trần Quang V đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xây dựng nhà trọ tên “Ngọc S2” để cho thuê; đồng thời có nhờ ông V quản lý trông coi, thu tiền hàng tháng.
Ngày 20/12/2013, ông V lập hợp đồng tặng cho đất sang qua cho 02 người con ruột là ông Trần Quang N và ông Trần Quang C. Trong đó, ông N được tặng cho diện tích 200m2 đất ở đô thị; ông C được tặng cho diện tích 198,1m² đất trồng cây lâu năm. Đến ngày 06/01/2014, ông N được cấp giấy CNQSDĐ số CH04144, diện tích 200m2 đất ở đô thị; ông C được cấp giấy CNQSDĐ số CH04242, ngày 08/01/2014 với diện tích 198,1m² đất trồng cây lâu năm. Năm 2018, ông N xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với lý do giấy bị thất lạc và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp phó bản nhì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06595 diện tích 200m² đất ở đô thị.
Ngày 30/5/2019, ông V lập hợp đồng tặng cho ông Trần Quang C, diện tích 41,9m² đất trồng cây lâu năm. Ngày 14/6/2019, ông C được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06722 diện tích 41,9m² đất trồng cây lâu năm. Tháng 7/2019, ông C xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 198,1m², với lý do giấy bị thất lạc. Ngày 03/7/2019 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06732 (bản nhì). Ngày 07/8/2019, ông N lập hợp đồng tặng cho 48,3m² (nằm trong diện tích 200m2 đất ở đô thị thuộc giấy số CS06595) cho em ruột là bà Trần Thị Mộng T2. Ngày 10/9/2019, ông N, bà T2 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A điều chỉnh lại giấy chứng nhận; bà T2 được sang tên, cấp giấy CS06767 diện tích 48,3m² thửa 473, tờ bản đồ 27; ông N được cấp giấy CS06768 diện tích 151,7m² thửa 218, tờ bản đồ 27.
Việc ông V tặng cho quyền sử dụng đất cho các con gồm ông Trần Quang C, ông Trần Quang N, bà Trần Thị Mộng T2 nêu trên không có sự đồng ý của bà S2, không thông báo cho bà S2 được biết.
- [2.2] Xét thấy, bà S2 chỉ giao quyền sử dụng đất cho một mình ông V đứng tên, quản lý, giữ gìn; không giao cho ông N, ông C, bà T2. Vì vậy, ông N, ông C, bà T2 không có cơ sở buộc bà S2 phải thanh toán công sức giữ gìn, tôn tạo tài sản.
- [2.3] Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Áp dụng Án lệ số 02, buộc bà S1 phải thanh toán cho ông S1 3.217.201.752 đồng tiền công sức quản lý, giữ gìn tài sản. Xét thấy, trong vụ án này, sau khi ông V đứng tên quyền sử dụng đất giùm bà S1 thì đã có hành vi chuyển nhượng cho người khác mà không có ý kiến của bà S1, dẫn đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bà S1 bị ảnh hưởng; khi bà S1 yêu cầu hoàn trả lại, ông V không tự nguyện trả lại, bà S1 phải khởi kiện tại Tòa án để được giải quyết. Tình tiết của vụ án này không phù hợp với các tình tiết được nêu tại Án lệ số 02 nên không có cơ sở áp dụng để buộc bị đơn phải thanh toán 50% giá trị tài sản tăng thêm.
Quá trình giữ hộ tài sản, ông V không thực hiện đúng trách nhiệm, nghĩa vụ người giữ tài sản của người khác, có hành vi tự định đoạt, chuyển nhượng tài sản của bà S2 cho các con của ông V mà không thông qua ý kiến của bà S2; dẫn đến khả năng thất thoát tài sản của bà S2. Khi bà S2 phát hiện yêu cầu hoàn trả lại thì ông C, ông N, bà T2 đã cố tình chuyển nhượng đất cho nhau gây khó khăn cho cho bà S2. Bà S2 phải thực hiện khởi kiện yêu cầu Tòa án hai cấp giải quyết tranh chấp đất đai; việc ông V và các con giao trả tài sản cho bà S2 là trên cơ sở quyết định của bản án có hiệu lực pháp luật; không phải do ý chí tự nguyện của ông V và các con. Điều này thể hiện ông V và các con có sự gian dối, gây ảnh hưởng đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bà S2.
Các nguyên đơn cho rằng đã bỏ ra bỏ ra chi phí xây dựng, sửa chữa khu nhà trọ; tôn tạo, làm tăng giá trị tài sản tuy nhiên xác định tài liệu, giấy tờ về việc bỏ tiền ra xây dựng khu nhà trọ, cải tạo, sửa chữa đã bị thất lạc, khu nhà trọ xây dựng không phép nên không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Thời gian giữ gìn tài sản nhà, đất của bà S2 thì ông V đã thu tiền trọ nhưng không chuyển lợi nhuận cho bà S2, đã được hưởng lợi từ tài sản của bà S2. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà S2 phải thanh toán cho ông Trần Quang V 500.000.000 đồng công sức gìn giữ, quản lý tài sản là có căn cứ, hợp tình, hợp lý.
Các nguyên đơn ông Trần Quang V, ông Trần Quang C, ông Trần Quang N kháng cáo yêu cầu bà Trần Thị S1 trả công sức giữ gìn, tôn tạo tài sản tương đương mỗi người 3.217.201.752 đồng; bà Trần Thị Thanh T4 kháng cáo yêu cầu bà S1 trả công sức giữ gìn, tôn tạo tài sản với số tiền là 1.700.000.000 đồng không có căn cứ chấp nhận; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- [2.4] Đối với ý kiến của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cho rằng cần hủy án do đưa thiếu người tham gia tố tụng như bà L vợ ông V; chưa tiến hành xem xét, thẩm định, định giá lại tài sản tranh chấp...là vi phạm thủ tục nên đề nghị hủy án sơ thẩm để xét xử lại. Xét thấy, các nội dung mà phía nguyên đơn đưa ra là không cần thiết; nguyên đơn không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh cấp sơ thẩm có vi phạm tố tụng làm thay đổi bản chất của vụ án nên không được chấp nhận.
[3] Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Trần Quang V, ông Trần Quang C, ông Trần Quang N, bà Trần Thị Mộng T2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, ông Trần Quang V là người cao tuổi nên được miễn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Quang V, ông Trần Quang C, ông Trần Quang N, bà Trần Thị Mộng T2.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2024/DS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
Tuyên xử:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn Trần Quang V, Trần Quang C và Trần Quang N về việc khởi kiện yêu cầu bị đơn Trần Thị S1 trả tiền công sức giữ gìn, tôn tạo tài sản là giá trị nhà mỗi người là 786.137.448đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn Trần Quang C và Trần Quang N về việc yêu cầu bà Trần Thị S1 trả công sức giữ gìn, tôn tạo tài sản cho mỗi người với số tiền là 3.217.201.752 đồng.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị Thanh T4 về việc khởi kiện yêu cầu bị đơn Trần Thị S1 trả tiền công sức giữ gìn, tôn tạo tài sản 423.512.600đồng.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh T4 về việc yêu cầu bà Trần Thị S1 trả công sức giữ gìn, tôn tạo tài sản với số tiền là 1.700.000.000 đồng.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quang V: Buộc bà Trần Thị S1 có nghĩa vụ trả cho ông V công sức giữ gìn, tôn tạo tài sản với số tiền 500.000.000đồng. Không chấp nhận yêu cầu của ông V đòi bà S1 trả công sức giữ gìn, tôn tạo tài sản bằng hiện vật.
- Về án phí dân sự, chi phí tố tụng sơ thẩm được thực hiện theo quyết định của bản án sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
- Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Ông Trần Quang V được miễn.
Ông Trần Quang N, ông Trần Quang C, bà Trần Thị Mộng T2, mỗi người phải chịu 300.000 đồng; được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000315 ngày 31/5/2024, số 0000316 ngày 31/5/2024, số 0000298 ngày 17/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang vào phần án phí phải chịu. Đương sự đã thực hiện xong.
|
Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao (1); - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1); - TAND tỉnh An Giang (1); - VKSND tỉnh An Giang (1); - Cục THADS tỉnh An Giang (1); - Đương sự (5); - Lưu VP(5), HS(2).17b.NTT. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thanh Dũng |
Bản án số 1008/2024/DS-PT ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp công sức tạo lập, giữ gìn, tôn tạo tài sản trên các quyền sử dụng đất
- Số bản án: 1008/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp công sức tạo lập, giữ gìn, tôn tạo tài sản trên các quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quang V: Buộc bà Trần Thị S1 có nghĩa vụ trả cho ông V công sức giữ gìn, tôn tạo tài sản với số tiền 500.000.000đồng. Không chấp nhận yêu cầu của ông V đòi bà S1 trả công sức giữ gìn, tôn tạo tài sản bằng hiện vật.
