TÒA ÁN NHÂN DÂN Thành phố H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1006/2024/DS-PT Ngày: 10/12/2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN Thành phố H
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Tiên
Các Thẩm phán:
- Bà Lê Thị Mỹ Nhung
- Bà Huỳnh Thị Như Hà
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Võ Quỳnh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Ánh Tuyết- Kiểm sát viên.
Vào ngày 10/12/2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Thành phố H, đã xét xử trực tuyến phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 815/2024/TLPT-DS ngày 18/10/2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”,
Do bản án dân sự sơ thẩm số 3868/2024/DS-ST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố H bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 958/2024/QĐXXPT-DS ngày 20/11/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thanh C, sinh năm 1994 (có mặt)
Địa chỉ: Số H B, phường A, thành phố T, Thành phố H.
Bị đơn:
- Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1989
- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1992
Cùng địa chỉ: D T, phường H, thành phố T, Thành phố H.
Đại diện ủy quyền của bà Y và bà B: Ông Nguyễn Hoài L, sinh năm 1974 (có mặt).
Địa chỉ: D T, phường H, thành phố T, Thành phố H.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hoài L, sinh năm 1974 (có mặt)
Địa chỉ: D T, phường H, thành phố T, Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện như sau:
Trong khoảng tháng 09/2022, bị đơn- bà Nguyễn Thị Y và bà Nguyễn Thị B (là hai chị em ruột) có vay tiền của nguyên đơn để làm ăn. Số tiền mà nguyên đơn cho bị đơn vay mượn (thông qua chuyển khoản và ủy nhiệm chi) cụ thể như sau:
- Ngày 02/9/2022, nguyên đơn chuyển vào tài khoản của bà Nguyễn Thị B số tiền 100.000.000 đồng;
- Ngày 05/9/2022, chuyển khoản vào tài khoản của bà Nguyễn Thị Y số tiền 500.000.000 đồng;
- Ngày 08/9/2022, chuyển vào tài khoản của bà Nguyễn Thị B số tiền 100.000.000 đồng;
- Ngày 14/9/2022, bà B mượn tiếp 20.000.000 đồng;
- Ngày 19/9/2022, bà C ra ngân hàng làm ủy nhiệm chi vào tài khoản của bà B 300.000.000 đồng, với nội dung cho mượn 03 tháng trả.
- Ngày 28/9/2022, bà B mượn 100.000.000 đồng.
Hai chị em bà Y và bà B cam kết là số tiền mượn chung hứa sẽ trả vào tháng 3/2023. Nhưng mãi đến ngày 07/02/2024 bà Y chỉ mới thanh toán được 100.000.000 đồng. Vì lẽ đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn hoàn trả số tiền còn lại 1.020.000.000 đồng.
Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, nguyện đơn đã tự nguyện rút một phần yêu cầu, chỉ yêu cầu bị đơn hoàn trả số tiền 800.000.000 đồng.
Theo lời khai của bị đơn thì:
Giữa nguyên đơn và bị đơn có quan hệ hùn hạp bán hàng online và S, nên có chuyển và nhận tiền thông qua tài khoản ngân hàng của nhau. Thực tế, tổng số tiền bị đơn nhận của bà C là 1.254.252.0 đồng. Tuy nhiên việc hợp tác làm ăn chung không được thuận lợi, dẫn đến hai bên xảy ra mâu thuẫn. Bị đơn khẳng định đã chuyển trả cho nguyên đơn nhiều lần với tổng số tiền là 653.700.000 đồng. Những lần chuyển khoản này tuy không ghi rõ nội dung là trả nợ, nhưng nếu Tòa án công nhận số tiền mà nguyên đơn chuyển khoản bị đơn là khoản nợ, thì đề nghị Tòa án cũng phải công nhận số tiền 653.700.000 đồng mà bị đơn chuyển khoản cho nguyên đơn là thanh toán nợ.
Vì thế, tại Tòa án bị đơn chỉ đồng ý hoàn trả tiếp số tiền còn lại là 600.552.000 đồng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 3868/2024/DS-ST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố H đã tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thanh C về việc buộc bà Nguyễn Thị Y và bà Nguyễn Thị B phải có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Thị Thanh C số tiền 800.000.000 (Tám trăm triệu) đồng.
- Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của bà C về việc buộc bà B và bà Y trả số tiền 320.000.000 (Ba trăm hai mươi triệu) đồng.
Việc thanh toán thực hiện một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự cũng như các quy định về thi hành án dân sự.
Ngày 29/8/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Hoài L kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoài L cũng là người đại diện theo ủy quyền của hai bị đơn đề nghị sửa bản án sơ thẩm, theo hướng chỉ buộc bị đơn trả số tiền 600.552.000 đồng.
- Nguyên đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các thành viên Hội đồng xét xử cũng như các đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát nhận định yêu cầu kháng cáo của bị đơn không có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận và đề nghị giữ y bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến phát biểu của vị Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về hình thức và thời hạn kháng cáo: Ngày 21/8/2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đưa vụ án ra xét xử và ban hành Bản án số 3868/2024/ DS-ST, bị đơn có mặt tại phiên tòa. Ngày 29/8/2024, bị đơn; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015, thì kháng cáo của bị đơn ; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan còn trong hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, bị đơn cư trú tại thành phố T, nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ tranh chấp theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3.1] Nguyên đơn khởi kiện, yêu cầu bị đơn (bà Nguyễn Thị Y và bà Nguyễn Thị B) trả nợ. Chứng cứ mà nguyên đơn đưa ra là các chứng từ ủy nhiệm chi, sao kê chuyển khoản của nguyên đơn vào tài khoản số 0666688881986 của bà Y và tài khoản số [...] của bà B tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q vào các ngày: 02/9, 05/9, 08/9, 14/9, 19/9 và 28/9 của năm 2022. Theo đó, tổng số tiền mà nguyên đơn đã chuyển cho bị đơn mượn là 1.120.000.000 (Một tỷ một trăm hai mươi triệu) đồng. Ngày 07/02/2024, bị đơn Nguyễn Thị Y đã chuyển khoản trả cho nguyên đơn 100.000.00 (Một trăm triệu) đồng. Như vậy, số tiền mà bị đơn còn nợ là 1.020.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn đã rút một phần yêu cầu, chỉ yêu cầu bị đơn hoàn trả số tiền 800.000.000 đồng. Đây là sự tự nguyện của đương sự, không trái pháp luật và có lợi cho bị đơn, nên Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ.
[3.2] Bị đơn khai rằng tất cả số tiền chuyển khoản giữa hai bên không phải vay mượn mà là hùn vốn kinh doanh; đồng thời xác định trong khoản thời gian từ 06/10/2022 đến 07/02/2024 bị đơn đã chuyển khoản thanh toán cho nguyên đơn với tổng số tiền 653.700.000 đồng, nay chỉ còn nợ 600.552.000 đồng, tuy nhiên bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời trình bày này. Vì vậy, không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
[3.3] Ngoài ra, xét thấy tại phần Quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên: “Việc thanh toán thực hiện một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật” là vi phạm Điều 6 và Điều 45 của Luật Thi hành án dân sự, về sự tự nguyện thỏa thuận thi hành án của đương sự, Tòa án cấp sơ thẩm cần lưu ý, rút kinh nghiệm.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Viện kiểm sát, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ y bản án sơ thẩm.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa chấp nhận, theo quy định tại Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
[5 ] Án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ Khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người kháng cáo phải chịu 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Khoản 1 Điều 148; Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ các Điều 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2014;
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn- bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Thị B, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoài L.
Giữ y bản án dân sự sơ thẩm số 3868/2024/DS-ST ngày 21/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố H;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Thị Thanh C:
- Buộc bị đơn- bà Nguyễn Thị Y và bà Nguyễn Thị B hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 800.000.000 (Tám trăm triệu) đồng.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền 320.000.000 (Ba trăm hai mươi triệu) đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Y và bà Nguyễn Thị B cùng chịu 36.000.000 (Ba mươi sáu triệu) đồng.
- Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí 22.800.000 (Hai mươi hai triệu, tám trăm nghìn) đồng, theo Biên lai thu số 0026278 ngày 12 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố H.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn thị B; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoài L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo các Biên lai thu số 0042326 và số 0042325 và số 0042324 cùng ngày 05/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố H; bà Y, bà B và ông L đã nộp xong.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Các đương sự thi hành án theo các Điều 2, 6, 7, 7a, 7b, 9 và 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Mỹ Tiên |
Bản án số 1006/2024/DS-PT ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN Thành phố H về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 1006/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN Thành phố H
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
