Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1006/2024/HS-PT

Ngày: 29 – 10 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười

Các Thẩm phán:

Ông Hoàng Minh Thịnh

Bà Bùi Thị Thu

Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 684/2024/TLPT-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2024/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đức T, sinh ngày 14 tháng 9 năm 1968 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Số CMND: [...]; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: lớp 12/12; Cha là Nguyễn Văn B (đã chết) và mẹ là Phạm Thị R (đã chết); Vợ là Nguyễn Thị L và có 02 người con; Tiền án: Không;

- Tiền sự: Ngày 22/10/2021 bị cáo bị Công an tỉnh T xử phạt hành chính số tiền 7.500.000 đồng về hành vi “chia sẻ thông tin sai sự thật, xuyên tạc, xúc phạm uy tín, danh dự, nhân phẩm của cá nhân”, bị cáo chưa nộp phạt.

Đặc điểm nhân thân:

- Từ nhỏ sống chung với gia đình và đi học đến năm 1988, sau đó làm giáo viên tại Trường tiểu học Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang, đến tháng 3/2022 thì nghỉ việc ở nhà phụ giúp gia đình. Ngày 18/6/2007, bị cáo được kết nạp Đảng viên Đ1, đến ngày 24/12/2019 bị cáo có đơn xin ra khỏi Đảng, nên ngày 23/4/2020 Huyện ủy Châu T1 đồng ý cho bị cáo Nguyễn Đức T ra khỏi Đảng.

- Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Đức T: Luật sư Nguyễn Tri T2 - thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; Có mặt.

(Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Nhựt Kim B1 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo và không bị kháng nghị nên không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tổ chức phản động lưu vong “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, có trụ sở tại Hoa Kỳ do Đào Minh Q cầm đầu, sử dụng phương pháp “đấu tranh bạo động” nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đ1, lật đổ chính quyền hiện tại, khôi phục lại chế độ Việt Nam cộng hòa. Ngày 30/01/2018, Bộ C1 đã đưa tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” vào danh sách các tổ chức khủng bố, công khai trên Cổng thông tin điện tử của Bộ C1.

Năm 2017, Nguyễn Đức T truy cập kênh Y để xem các video clip do tổ chức “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời” đăng tải có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc, chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong khi đó, bản thân T đang có tư tưởng bất mãn nên đã truy cập mạng internet tham gia trưng cầu dân ý nhằm bầu Đào Minh Q làm “Tổng thống đệ tam Việt Nam cộng hòa”.

Từ năm 2019 đến năm 2023, Nguyễn Đức T làm và gửi hồ sơ xin tham gia tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, T được công nhận là thành viên của tổ chức, được cấp bí số. Từ khi tham gia tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, Nguyễn Đức T thường xuyên sử dụng tài khoản facebook “Thanh Nguyen” sau đó đổi thành “Trần Nhân” để liên lạc với tổ chức và tham gia họp kín trên ứng dụng Free Conference Call (viết tắt là FCC), nghe tổ chức huấn luyện phương thức hoạt động chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tuyên truyền, phát triển lực lượng. Khi phát hiện, cơ quan có thẩm quyền đã nhiều lần nhắc nhỡ, răn đe và xử lý vi phạm hành chính nhưng Nguyễn Đức T không chấp hành, vẫn nhiều lần tái phạm, đồng thời T liên hệ với tổ chức để liên tục thay đổi bí số (bí số cuối cùng là A3550) nhằm che dấu hoạt động phạm tội của mình. Ngoài ra, Nguyễn Đức T còn tuyên truyền, trực tiếp hướng dẫn, lôi kéo người khác tham gia vào tổ chức “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời”, cụ thể như sau:

  1. Nguyễn Đức H(em ruột của bị cáo Nguyễn Đức T), sinh ngày 30/8/1972, ngụ ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Tháng 02/2021, bị cáo Nguyễn Đức T giới thiệu và trực tiếp giúp cho Nguyễn Đức H đăng ký tham gia vào tổ chức và đã được kết nạp thành viên, cấp bí số A0870. Từ khi được kết nạp, Nguyễn Đức H sử dụng tài khoản facebook “Le Chanh” để tham gia họp kín trên FCC khoảng 5 lần. Đến tháng 10/2021, Nguyễn Đức H bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chia sẻ thông tin xúc phạm uy tín, danh dự của lãnh đạo Đảng và Nhà nước; H cam kết từ bỏ không tham gia vào hoạt động liên quan đến tổ chức “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời”. Đến nay, Công an tỉnh T chưa phát hiện Nguyễn Đức H tái phạm hoặc có hoạt động gì liên quan đến tổ chức này. (BL: 931 – 936)

  2. Nguyễn Văn T3, sinh năm 1948, ngụ ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang có mối quan hệ quen biết với Nguyễn Đức T từ trước. Tháng 02/2021, Nguyễn Văn T3 được bị cáo Nguyễn Đức T giới thiệu, tuyên truyền về tổ chức “Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời” có mục đích, tôn chỉ hoạt động như đã nêu trên. T trực tiếp hướng dẫn, giúp cho Nguyễn Văn T3 nộp đơn tham gia tổ chức. Đến tháng 3/2021, T thông báo cho T3 biết tổ chức đã kết nạp T3 làm thành viên, nhưng T3 không nhớ rõ bí số, T cài chương trình FCC để T3 tham gia họp kín. Tuy nhiên, sau khi được thông báo kết nạp, T3 không có tham gia họp và cũng không có hoạt động gì liên quan tổ chức. (BL: 896, 897;)

Đối với bị cáo Nhựt Kim B1, từ năm 2019, qua tìm hiểu thông tin về tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” có mục đích hoạt động nhằm lật đổ C2 hiện tại, nên B1 tham gia trưng cầu dân ý bầu Đào Minh Q làm Tổng thống đệ tam Việt Nam Cộng hòa. Đến tháng 02/2021, Nguyễn Đức T trực tiếp hướng dẫn và giúp Nhựt Kim B1 đăng ký tham gia và được tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” kết nạp Nhựt Kim B1 là thành viên, được cấp bí số A0860. Từ khi được kết nạp, Nhựt Kim B1 nhiều lần họp nhóm kín trên FCC để nghe tổ chức chỉ đạo, tuyên truyền, hướng dẫn hoạt động. Thực hiện theo sự chỉ đạo của tổ chức, Nhựt Kim B1 lấy thông tin của người khác để trưng cầu dân ý và tuyên truyền “Hiến pháp Đệ tam Việt Nam Cộng hòa”, cụ thể như sau:

Nguyễn Thành C, sinh năm 1984, ngụ: ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang cung cấp thông tin cá nhân cho Nhựt Kim B1 để tham gia trưng cầu dân ý bầu Đào Minh Q làm tổng thống Đệ tam Việt Nam Cộng hòa; sau đó Nhựt Kim B1 nhờ Nguyễn Thành C in dùm “Hiến pháp đệ tam Việt Nam Cộng hòa”, C ra tiệm photo (không nhớ tên và địa chỉ của tiệm) để in tập Hiến Pháp nêu trên rồi chở B1 đến nhận, C không đọc, không tìm hiểu nội dung hiến pháp. Nguyễn Thành C xác định in hiến pháp giúp cho B1 là vì chổ quen biết, bản thân không có bất kỳ hoạt động nào liên quan đến tổ chức phản động. (BL: 916 - 928)

Ngoài ra, Nhựt Kim B1 tuyên truyền, phát tán “Hiến pháp đệ tam Việt Nam Cộng hòa” nhằm lôi kéo nhiều người “Trưng cầu dân ý” bầu Đào Minh Q làm tổng thống Đ2 Cộng hòa, gồm: Đặng Thị Kim L1, sinh ngày 24/4/1982, ngụ ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Hồ Văn L2, sinh ngày 10/12/1979, ngụ ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Lê Văn S, sinh ngày 27/10/1932, ngụ ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang; Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 02/12/1968, ngụ số I ấp G, thị trấn T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Những người này không tham gia, không có hoạt động gì liên quan đến tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” và không có hành vi giúp sức cho bị cáo Nhựt Kim B1. (BL: 889 – 895; 898 – 930; 937– 1005).

Cơ quan An ninh điều tra thu giữ vật chứng, tài liệu của Nhựt Kim B1 gồm:

  • - 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Oppo A54 màu xanh;

  • - 01 (Một) tập tài liệu cỡ giấy A4, bìa ngoài màu xanh có ghi tiêu đề “HIẾN PHÁP ĐỆ III VIỆT NAM CỘNG HÒA”. Căn cứ Kết luận giám định tập thể ngày 20/5/2023 của Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh T xác định: Đây là tài liệu của tổ chức phản động nhằm kêu gọi mọi tổ chức, cá nhân lật đổ chế độ Nhà nước C3; tài liệu có nội dung bịa đặt, xuyên tạc lịch sử, phỉ báng chính quyền nhân dân, gây hoang mang trong nhân dân, gây chiến tranh tâm lý (BL: 85);

  • 01 (Một) quyển tập ngoài bìa có chữ “Dâu Tây” màu đỏ; 07 (Bảy) tờ giấy lịch ghi số và chữ; 01 (Một) tờ giấy A4 ghi số và chữ; 10 (Mười) tờ giấy lịch có chữ viết; 01 (Một) tờ giấy A4 có chữ Thư mời; 01 (Một) tờ giấy A4 có chữ Sơ yếu lý lịch.

Thu giữ vật chứng, tài liệu của Nguyễn Đức T gồm: 01 (Một) điện thoại di động hiệu S1 màu đen A02s; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Oppo A54 màu xanh; 01 (Một) USB màu trắng hiệu Toshiba.

Cơ quan An ninh điều tra trích xuất 13 (mười ba) bài viết với 32 (ba mươi hai) trang tài liệu do bị cáo Nguyễn Đức T đăng tải công khai trên các facebook “Thanh Nguyen” và “Trần Nhân”. Căn cứ Kết luận giám định tập thể ngày 08/11/2023 của Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh T xác định, “Đây là tài liệu xuyên tạc, chống phá Nhà nước C3; phỉ báng lãnh tụ, Nhà nước Việt Nam”. (BL: 96)

Quá trình điều tra, Nguyễn Đức T và Nhựt Kim B1 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định, người liên quan và các chứng cứ, tài liệu khác thể hiện trong hồ sơ vụ án, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2024/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang, quyết định:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T và bị cáo Nhựt Kim B1 phạm tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”

Áp dụng khoản 1 Điều 109; Điều 122, Điều 32; Điều 17; Điều 50, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức T 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 19/01/2024. Tiếp tục quản chế bị cáo T 03 (ba) năm sau khi mãn hạn tù.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 26 tháng 6 năm 2024, bị cáo Nguyễn Đức T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu như sau: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận nội dung cũng như tội danh mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên. Đối với yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng bị cáo không đưa ra được tình tiết giảm nhẹ nào mới, mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên là tương xứng. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm như sau: Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo là đúng tội. Tuy nhiên, hình phạt là quá nghiêm khắc vì các lý do như sau:

  • Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng, vì vậy đề nghị Tòa án phúc thẩm áp dụng tình tiết này (điểm s, khoản 1 Điều 51).

  • Bị cáo phạm tội do thiếu hiểu biết, bị cáo chưa nhận được lợi ích vật chất gì từ tổ chức này nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Đức T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, thấy rằng:

Đã có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ năm 2019 đến năm 2023, Nguyễn Đức T là thành viên Tổ chức phản động lưu vong “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, lôi kéo và hướng dẫn Nhựt Kim B1 cùng tham gia trưng cầu dân ý bầu Đào Minh Q làm “Tổng thống đệ I cộng hòa”, tham gia tổ chức phản động lưu vong “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”. Khi tham gia tổ chức phản động này, Nguyễn Đức T thường xuyên sử dụng tài khoản facebook cá nhân đăng tải, chia sẻ nhiều thông tin, tài liệu có nội dung chống C2; ngoài ra, bị cáo Nguyễn Đức T còn lôi kéo, hướng dẫn nhiều người tham gia vào tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” nhằm tuyên truyền, phát triển lực lượng nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, quy định tại khoản 1 Điều 109 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[2]. Đánh giá về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo Nguyễn Đức T thấy rằng:

Trong vụ án này, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm nghiêm trọng đến an ninh quốc gia. Hành vi phạm tội của các bị cáo xuất phát từ tư tưởng bất mãn chính trị, do tiêm nhiễm các luận điệu tuyên truyền, kích động, xúi giục của các đối tượng phản động chống phá Nhà nước trên mạng Internet và ngoài xã hội. Từ đó các bị cáo có cái nhìn lệch lạc, phiến diện về đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng, chính sách của Nhà nước và suy nghĩ tiêu cực về các vấn đề của xã hội, từ đó các bị cáo đã bị các đối tượng chống phá Nhà nước ở nước ngoài lôi kéo mà thực hiện hành vi phạm tội.

Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn quyết tâm thực hiện cho đến cùng. Các hoạt động của bị cáo gây hoang mang trong dư luận và trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị trên nhiều địa phương, nếu không ngăn chặn kịp thời sẽ ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị của đất nước nên cần phải xử lý nghiêm nhằm răn đe phòng chống chung cho toàn xã hội.

Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Đức T là người có vai trò chính, đã làm và gửi hồ sơ xin tham gia tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, sau đó được công nhận là thành viên của tổ chức, được cấp bí số. Từ khi tham gia tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, Nguyễn Đức T thường xuyên sử dụng tài khoản facebook “Thanh Nguyen” sau đó đổi thành “Trần Nhân” để liên lạc với tổ chức và tham gia họp kín trên ứng dụng Free Conference Call (viết tắt là FCC), nghe tổ chức huấn luyện phương thức hoạt động chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tuyên truyền, phát triển lực lượng. Khi phát hiện, cơ quan có thẩm quyền đã nhiều lần nhắc nhỡ, răn đe và xử lý vi phạm hành chính nhưng Nguyễn Đức T không chấp hành, vẫn nhiều lần tái phạm, đồng thời T liên hệ với tổ chức để liên tục thay đổi bí số (bí số cuối cùng là A3550) nhằm che dấu hoạt động phạm tội của mình.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ chính trị của Nhà nước Việt Nam. Mục đích của hành động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân để thay đổi chế độ mới. Hành vi này đi ngược lại với nguyện vọng chân chính của nhân dân, do đó cần phải được xử lý nghiêm. Mặc dù, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là thiếu sót. Tuy nhiên, do tính chất nguy hiểm của tội phạm cho thấy, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo T là hoàn toàn tương xứng và đảm bảo được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm nguy hiểm này. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào mới, vì vậy không có cơ sở để chấp nhận.

[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo là không có cơ sở để chấp nhận.

[4] Do kháng cáo không được chấp nhận, vì vậy bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức T;

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2024/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Tuyên xử:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 109; Điều 122, Điều 32; Điều 17; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức T 16 (mười sáu) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 19/01/2024. Tiếp tục quản chế bị cáo T 03 (ba) năm sau khi mãn hạn tù.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo T phải chịu án phí phúc thẩm 200.000 đồng.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (29/10/2024).

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Tiền Giang;
  • - Công an tỉnh Tiền Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang;
  • - Trại tạm giam tỉnh Tiền Giang;
  • - Lưu: HS, VP, 176TTLH.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Công Mười

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1006/2024/HS-PT ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân

  • Số bản án: 1006/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger