|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1004/2024/HC-PT
Ngày: 13 -9 - 2024
V/v khiếu kiện quyết định hành chính
trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười
Các Thẩm phán: Ông Chung Văn Kết
Ông Cao Văn Tám
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 522/2024/TLPT-HC ngày 06 tháng 6 năm 2024 về việc “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 20/2024/HC-ST ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2656/2024/QĐPT ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
1. Người khởi kiện: bà Phan Thị N, sinh năm 1953;
Địa chỉ: ấp C, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, có mặt.
2. Người bị kiện:
2.1. Chủ tịch UBND huyện Đ, tỉnh Long An, xin xét xử vắng mặt.
2.2. Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Thành P – Quyền Chủ tịch.
Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: ông Trương Minh H – Phó Chủ tịch.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện UBND huyện và Chủ tịch huyện Đ: ông Nguyễn Thanh T – Viên chức Ban Q, có mặt.
2.3. Chủ tịch UBND tỉnh L.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Chủ tịch UBND tỉnh L:
- Ông Phạm Vũ T1 – Chuyên viên Văn phòng UBND tỉnh, xin xét xử vắng mặt.
- Ông Trần Thanh S – Phó Phòng Quản lý đất đai thuộc Sở T3 tỉnh, có mặt.
3. Người kháng cáo: Người khởi kiện bà Phan Thị N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người khởi kiện bà Phan Thị N trình bày tại đơn khởi kiện ghi ngày 18/7/2023 như sau:
Bà Phan Thị N bị thu hồi hết diện tích đất 7.862m² (thu hồi lần hai) loại đất HNK, trên đất không có nhà ở theo Quyết định thu hồi số 5046/QĐ-UBND ngày 8/6/2018 của Chủ tịch UBND huyện Đ, tỉnh Long An. Bà Phan Thị N đã nhận tiền đền bù xong, hiện tại bà N không có nhà ở và cũng không còn đất nào khác để xây nhà ở.
Vào ngày 19/9/2007 Nhà nước thu hồi của bà N quyền sử dụng đất (ONT) diện tích 2.161 m², trên đất có nhà ở, Nhà nước đã tái định cư cho bà Phan Thị N 375m² đất ONT và đã đền bù xong.
Năm 2008, chồng bà N bệnh nặng qua đời. Để có tiền xây nhà ở và lo hậu sự cho chồng, bà N đã chuyển nhượng hết 250m² đất tái định cư cho hai hộ, mỗi hộ 152m² và họ tự làm thủ tục tách thửa kê khai đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định giao đất tái định cư, phần còn lại 125m² bà N đã xây dựng nhà ở tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Bà Phan Thị N cho Lê Thành T2 ở ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
Ngày 21/12/2015, U ra Thông báo số 6228/TB-UBND về việc thu hồi đất của bà N.
Ngày 08/6/2018 UBND huyện Đ ban hành Quyết định thu hồi số 5046/QĐ-UBND có nội dung “lập phương án bồi thường, hồ trợ tái định cư cho các tổ chức hộ gia đình và cá nhân có đất bị thu hồi”. Do có nội dung hỗ trợ tái định cư nên bà N an tâm giao hết diện tích đất 7.862m² mà không có ý kiến gì.
Đến khi bố trí tái định cư trong danh sách không có tên bà N nên bà làm đơn khiếu nại yêu cầu được giao nền nhà tái định cư.
Ngày 19/9/2019 Chủ tịch UBND huyện Đ đã ký Công văn số 132/UBND-TCD về việc giải quyết đơn đã gửi cho ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Đ xem xét, báo cáo đề xuất UBND huyện Đ theo quy định của pháp luật.
Bà Phan Thị N không rõ Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Đ xem xét, báo cáo đề xuất thế nào mà tất cả các văn bản giải quyết yêu cầu của bà về nền nhà tái định cư và Quyết định giải quyết khiếu nại của UBND huyện Đ, UBND tỉnh L đều cho rằng do thu hồi đất của bà là đất nông nghiệp trên đất không có nhà nên không có cơ sở để giải quyết bố trí nền nhà tái định cư. Ngoài ra tại quyết định giải quyết khiếu nại số 11449/QĐ-UBND ngày 02/12/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh L còn cho phép bà được quyền khởi kiện Quyết định hành chính ra Tòa án nhân dân các cấp.
Bà Phan Thị N khiếu nại muốn xem xét xin cấp nền nhà tái định cư để ở dưỡng già và thờ tự ông bà cha mẹ, vì thực tế bà đã giao hết đất cho Nhà nước mà chưa được cấp lại nền nhà tái định cư. Do không được Nhà nước giải quyết việc chuyển mục đích sử dụng đất của bà từ đất HNK lên đất ONT và không cho xây cất nhà do vướng đất quy hoạch nêu trên nên đất bà bị thu hồi là không có nhà ở. Vì thực tế điều kiện của bà N vô cùng khó khăn nên tha thiết yêu cầu Tòa án xem xét lại yêu cầu của bà về việc xin tái định cư theo khoản 10 Điều 49 Luật Nhà ở quy định về chính sách nhà ở và xem xét giải quyết khiếu nại theo Điều 38 Nghị định 124/NĐ- CP ngày 19/10/2020 của Chính Phủ về quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nhưng không được.
Bà Phan Thị N yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An hủy các quyết định:
- - Quyết định số 5046/QĐ-UBND ngày 08/6/2018 của UBND huyện Đ về việc thu hồi đất đối với bà Phan Thị N, đất tọa lạc tại xã H, huyện Đ, tỉnh Long An;
- - Quyết định số 2749/QĐ-TC ngày 23/3/2022 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị N;
- - Quyết định số 11449/QĐ-UBND ngày 02/12/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh L về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị N ngụ tại ấp C, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Người bị kiện UBND huyện Đ có ý kiến tại Văn bản số 17858/UBND-TA ngày 19/12/2023 như sau:
Ủy ban nhân dân huyện Đ có tiếp nhận Thông báo số: 330/2023/TLST- HC ngày 22/11/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An về việc cung cấp thông tin, tài liệu đối với vụ án hành chính “Khiếu nại Quyết định hành chính” do bà Phan Thị N kiện UBND huyện Đ.
Ủy ban nhân dân huyện đã chỉ đạo phòng Tài nguyên và Môi trường huyện rà soát hồ sơ liên quan và phúc đáp nội dung đề nghị của Tòa án như sau:
1. Ý kiến của UBND huyện Đ về yêu cầu của người khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy các quyết định:
- - Quyết định số: 5046/QĐ-UBND ngày 8/6/2018 của Ủy ban nhân dân huyện Đ về việc thu hồi đất đối với bà Phan Thị N đất tọa lạc tại xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
- - Quyết định số: 2749/QĐ-CT ngày 23/3/2022 của Chủ tịch UBND huyện Đ, tỉnh Long An về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của bà Phan Thị N.
- - Quyết định số: 11449/QĐ-UBND ngày 2/12/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) của bà Phan Thị N, ngụ ấp C, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Vấn đề này, UBND huyện Đ có ý kiến như sau:
Ngày 15/5/2008, bà Phan Thị N được UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 290, với diện tích 3516m²; thửa đất số 795, với diện tích 4388m², cùng tờ bản đồ số 7; loại đất HNK, đất tọa lạc xã H.
Ngày 02/12/2009, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất chỉnh lý biến động trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Phan Thị N tặng cho quyền sử dụng đất cho bà Lê Thị C, Lê Thị D, Lê Thị D1 với tổng diện tích 2.400m² tại thửa đất số 290; tờ bản đồ số 7, diện tích còn lại trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 1.116m².
Ngày 09/02/2010, UBND huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Phan Thị N tại thửa đất số 1770; tờ bản đồ số 7; diện tích 2.358m²; loại đất HNK, đất tọa lạc xã H.
Ngày 08/6/2018, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số: 4870/QĐ-UBND ngày 08/06/2018 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (đợt 3) dự án đầu tư xây dựng khu công nghiệp H do Tổng công ty Đ1 và khu công nghiệp V - CTCP và Công ty Cổ phần Đ2 - IDICO làm chủ đầu tư trên địa bàn xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Cùng ngày 08/6/2018, UBND huyện ban hành Quyết định số: 5046/QĐ-UBND về việc thu hồi đất đối với bà Phan Thị N với diện tích 7.862m² gồm các thửa 795, 1770, 290; tờ bản đồ số 7; cùng loại đất HNK, đất xã H để thực hiện việc bồi thường giải phóng mặt bằng giao cho Tổng công ty Đ1 và khu công nghiệp V - Công ty Cổ phầĐ2 và Công ty cổ phần Đ2 - IDICO làm chủ đầu tư xây dựng Khu Công nghiệp H và Quyết định số: 5256/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với bà Phan Thị N với số tiền 1.619.924.960 đồng và được bổ sung giá trị quyền sử dụng đất là 253.837.495 đồng, bà N đã nhận tiền xong.
Ngày 11/02/2019, bà Phan Thị N có đơn kiến nghị yêu cầu cấp nền tái định cư bằng đất để xây dựng nhà ở.
Ngày 13/7/2021, UBND huyện Đ có Văn bản số: 7684/UBND-TCD về việc trả lời đơn cho bà Phan Thị N, với nội dung: “Việc bà Phan Thị N có đơn yêu cầu cấp nền tái định cư bằng đất để xây dựng nhà ở là không có cơ sở để xem xét giải quyết, bởi vì: bà chỉ có đất nông nghiệp được Nhà nước thu hồi và đã được bồi thường, hỗ trợ theo đúng quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 83 Luật Đất đai năm 2013 và Quyết định số: 4870/QĐ-UBND ngày 08/06/2018 của UBND huyện Đ”.
Ngày 16/11/2021, bà Phan Thị N có đơn khiếu nại Văn bản số: 7684/UBND-TCD ngày 13/7/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ về việc trả lời đơn của công dân.
Đến ngày 23/3/2022, Chủ tịch UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 2749/QĐ-CT ngày 23/3/2022 về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị N (lần đầu).
Ngày 21/7/2022, bà Phan Thị N tiếp tục có đơn khiếu nại Quyết định số: 2749/QĐ-CT ngày 23/3/2022 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị N (lần đầu) với nội dung: “Bác đơn khiếu nại của bà Phan Thị N về việc khiếu nại: Văn bản số: 7684/UBND-TCD ngày 13/7/2021 của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Đ về việc trả lời đơn của bà Phan Thị N, đất tọa lạc xã H. Lý do: Nội dung khiếu nại không có cơ sở xem xét giải quyết”
Đến ngày 02/12/2022, Chủ tịch UBND tỉnh L ban hành Quyết định số 11449/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị N ngụ ấp C, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (lần 2) với nội dung: “Bác nội dung đơn của bà Phan Thị N khiếu nại Quyết định số: 2749/QĐ-UBND ngày 23/3/2022 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Phan Thị N. Lý do: Nội dung khiếu nại không có cơ sở xem xét”.
Như vậy, việc Chủ tịch UBND huyện Đ ban hành Quyết định thu hồi đất số: 5046/QĐ-UBND ngày 08/6/2018 và Quyết định số: 2749/QĐ-CT ngày 23/3/2022 là đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
Người bị kiện Chủ tịch UBND tỉnh L có ý kiến tại Văn bản số 12119/UBND-NCTCD ngày 21/12/2023 như sau:
Chủ tịch UBND tỉnh L nhận được Thông báo số 330/2023/TLST-HC ngày 22/11/2023 của TAND tỉnh Long An về việc khiếu kiện “Quyết định hành chính” của bà Phan Thị N; địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Căn cứ nội dung khởi kiện của bà Phan Thị N, Chủ tịch UBND tỉnh L có ý kiến như sau:
I. Nội dung khởi kiện
Bà Phan Thị N khởi kiện yêu cầu TAND tỉnh Long An hủy Quyết định số 11449/QĐ-UBND ngày 02/12/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc giải quyết khiếu nại lần hai của bà Phan Thị N.
II. Quá trình giải quyết khiếu nại lần hai của Chủ tịch UBND tỉnh về việc bà Phan Thị N khiếu nại Quyết định số 2749/QĐ-UBND ngày 23/3/2022 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc giải quyết khiếu nại lần đầu
1. Nội dung khiếu nại
Bà Phan Thị N khiếu nại Quyết định số 2749/QĐ-UBND ngày 23/3/2022 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Phan Thị N, với nội dung:
“Khiếu nại Công văn số 7684/UBND-TCD ngày 13/7/2021 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc trả lời đơn kiến nghị của bà N, với yêu cầu cấp nền tái định cư bằng đất để xây dựng nhà ở”.
2. Kết quả xác minh nội dung khiếu nại
2.1 Nguồn gốc, quá trình sử dụng đất
Bà Phan Thị N có đứng tên 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do UBND huyện Đ cấp; trên 03 thửa đất (795, 1770, 290) trong 03 giấy chứng nhận có cùng tờ bản đồ số 7, cùng mục đích sử dụng là đất trồng cây hàng năm khác (HNK), cùng địa chỉ ấp C, xã H, huyện Đ. Bà Phan Thị N sử dụng các phần đất này đến khi có quyết định thu hồi đất năm 2018. Cụ thể như sau:
- - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H05006 ngày 13/3/2008, thửa đất số 290, diện tích 3.516m². Năm 2009, bà N có làm thủ tục tặng cho QSD đất cho các con là bà Lê Thị C, bà Lê Thị D, bà Lê Thị D1, với diện tích 2.400m². Do đó, diện tích đất còn lại trong giấy CNQSD đất là 1.116m².
- - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H05007 ngày 13/3/2GG8, thửa đất số 795, diện tích 4.388m².
- - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00330 ngày 09/02/2010, thửa đất số 1770, diện tích 2.358,00m².
2.2 Việc thực hiện chủ trương, trình tự kê biên, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ đối với bà Phan Thị N
Ngày 11/11/2011, UBND tỉnh L có Quyết định số 3622/QĐ-UBND về việc phê duyệt đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1:2000 Khu công nghiệp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Ngày 24/11/2015, UBND huyện Đ có Quyết định số 6670/QĐ-UBND về việc thành lập Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với dự án Khu công nghiệp H do Tổng công ty Đ1 - CTCP làm chủ đầu tư trên địa bàn xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Ngày 10/12/2015, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có Kế hoạch số 1092/KH-HĐ về việc triển khai công tác kiểm đếm nhà, đất, tài sản trên đất và lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án Khu công nghiệp H do Tổng công ty Đ1 - CTCP làm chủ đầu tư trên địa bàn xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Ngày 18/12/2015, UBND huyện Đ có Quyết định số 6997/QĐ-UBND về việc phê duyệt kế hoạch triển khai công tác kiểm đếm nhà, đất, tài sản trên đất và lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án khu công nghiệp V - CTCP làm chủ đầu tư trên địa bàn xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. (Kèm theo là Kế hoạch số 1092/KH-HĐ ngày 10/12/2015 của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện Đ).
Ngày 21/12/2015, UBND huyện Đ có Thông báo số 6228/TB-UBND về việc thông báo thu hồi đất đối với các hộ dân thuộc dự án Khu công nghiệp H do liên doanh Tổng công ty Đ1 - CTCP và Công ty cổ phần Đ2 - IDICO làm chủ đầu tư trên địa bàn xã H, huyện Đ.
Ngày 21/12/2015, UBND huyện Đ có Biên bản số 6230/BB-UBND về việc thông qua phương án kiểm đếm nhà, đất và tài sản trên đất dự án Khu công nghiệp H do liên doanh Tổng công ty Đ1 - CTCP và Công ty cổ phần Đ2 - IDICO làm chủ đầu tư trên địa bàn xã H, huyện Đ.
Ngày 15/01/2016, Trung tâm phát triển quỹ đất có biên bản đo đạc, kiểm đếm hiện trạng tài sản của người có tài sản gắn liền với đất thu hồi của bà Phan Thị N. (không có thể hiện có nhà và các công trình phụ độc lập trên 03 thửa đất số 290.1770, 795 khi kê biên, kiểm đếm).
Ngày 15/01/2016, bà Phan Thị N không có ghi nhận ý kiến, nội dung và ký xác nhận Tờ khai về việc kê khai đất đai và các tài sản trên đất.
Ngày 26/8/2016, UBND tỉnh L có Quyết định số 3469/QĐ-UBND về việc thành lập Khu công nghiệp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. Địa điểm xây dựng: xã H, huyện Đ. Chủ đầu tư: Công ty CP Đ2 - IDICO và Tổng công ty Đ1 và khu công nghiệp V - TNHH Một thành viên. Diện tích 524,14ha. Thời hạn hoạt động của khu công nghiệp là 50 năm kể từ ngày Nhà nước cho thuê đất.
Ngày 09/9/2016, UBND tỉnh L có Quyết định số 3667/QĐ-UBND về chủ trương đầu tư và Quyết định số 3668/QĐ-UBND điều chỉnh chủ trương đầu tư để thực hiện Dự án Khu công nghiệp H do Tổng Công ty Đ1 và khu công nghiệp V - CTCP và Công ty CP Đ2 - IDICO.
Ngày 29/3/2017, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1141/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án hệ số điều chỉnh giá đất bồi thường để thực hiện Dự án Khu công nghiệp H do Tổng Công ty Đ1 và khu công nghiệp V - CTCP và Công ty CP Đ2 - IDICO làm chủ đầu tư trên địa bàn xã H, huyện Đ.
Ngày 08/6/2018, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 4870/QĐ- UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (đợt 3) dự án đầu tư xây dựng Khu công nghiệp H do Tổng Công ty Đ1 và khu công nghiệp V - CTCP và Công ty CP Đ2 - IDICO làm chủ đầu tư trên địa bàn xã H, huyện Đ.
Ngày 08/6/2018, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 5046/QĐ- UBND về việc thu hồi 7.862m² đất của bà Phan Thị N, gồm: Thửa đất số 795, diện tích 4.388m² loại đất HNK, tờ bản đồ số 7; thửa đất số 1770, diện tích 2.358m² loại đất HNK, tờ bản đồ số 7; thửa đất số 290, diện tích 1.116m² loại đất HNK, tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại xã H, huyện Đ.
Ngày 08/6/2018, UBND huyện Đ ban hành Quyết định 5256/QĐ- UBND về việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với bà Phan Thị N. Với tổng số tiền là 1.619.924.960 đồng, bà Phan Thị N đã nhận tiền và kèm theo quyết định về bồi thường có Bảng chiết tính thì bà N cũng không có ý kiến.
Ngày 05/6/2019, UBND huyện Đ có Quyết định số 3415/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án tái định cư bằng đất dự án khu công nghiệp H, khu dân cư, nhà ở công nhân, khu tái định cư và Phương án tái định cư bằng đất số 979/PA-TĐC ngày 27/5/2019.
Ngày 26/01/2022, UBND huyện Đ có Quyết định số 156/QĐ-UBND về việc điều chỉnh một phần nội dung trong Quyết định phê duyệt phương án tái định cư bằng đất số 3415/QĐ-UBND ngày 05/6/2019 của UBND huyện Đ đối với dự án khu công nghiệp H, khu dân cư, nhà ở công nhân, khu tái định cư và Phương án tái định cư (điều chỉnh) số 86/PA-TĐC ngày 20/01/2022.
2.3. Quá trình giải quyết đơn và trình tự giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND huyện Đ đối với nội dung khiếu nại của bà Phan Thị N
Ngày 11/02/2019, bà Phan Thị N có đơn kiến nghị gửi UBND huyện Đ.
Ngày 05/8/2020, UBND huyện Đ có Công văn số 9604/UBND-TCD về việc giao phòng Tài nguyên và Môi trường kiểm tra nội dung kiến nghị của các hộ dân yêu cầu cấp nền tái định cư bằng đất, để UBND huyện phúc đáp theo quy định pháp luật.
Ngày 13/7/2021, UBND huyện Đ có Công văn số 7684/UBND-TCD về việc trả lời đơn của công dân.
Ngày 16/11/2021, bà Phan Thị N có đơn khiếu nại gửi UBND huyện Đ.
Ngày 19/11/2021, UBND huyện Đ ban hành Công văn số 14243/UBND-TCD về việc giải quyết đơn của bà Phan Thị N, có nội dung:
Giao Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện kiểm tra nội dung đơn khiếu nại của bà Phan Thị N, tham mưu đề xuất CT UBND huyện Đ theo quy định pháp luật hiện hành.
Ngày 02/12/2021, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 14863/QĐ-UBND về việc giao nhiệm vụ xác minh nội dung đơn khiếu nại của bà Phan Thị N.
Ngày 06/12/2021, Phòng T4 ban hành Quyết định số 4091/QĐ-PTNMT về việc thành lập Tổ xác minh nội dung khiếu nại của bà Phan Thị N.
Ngày 18/02/2022, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T4 có Báo cáo số 542/BC-PTNMT về kết quả xác minh nội dung khiếu nại của bà Phan Thị N.
Ngày 03/3/2022, Chủ tịch UBND huyện Đ đối thoại với bà Phan Thị N.
Ngày 09/3/2022, Phòng T4 có Tờ trình số 780/TTr- PTNMT về kết quả xác minh nội dung khiếu nại của bà Phan Thị N.
Ngày 23/3/2022, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ ban hành Quyết định số 2749/QĐ-CT về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của bà Phan Thị N.
3. Kết luận
Căn cứ pháp lý
- - Luật Khiếu nại năm 2011;
- - Luật Đất đai năm 2013;
- - Nghị định số 124/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Khiếu nại;
- - Quyết định số 09/2018/QĐ-UBND ngày 20/3/2018 của UBND tỉnh L về việc ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Long An;
- - Quyết định số 1141/QĐ-UBND ngày 29/3/2017 của UBND tỉnh ban hành về việc phê duyệt phương án hệ số điều chỉnh giá đất bồi thường để thực hiện Dự án Khu công nghiệp H do Tổng Công ty Đ1 và khu công nghiệp V - CTCP và Công ty CP Đ2 - IDICO làm chủ đầu tư trên địa bàn xã H, huyện Đ.
Kết luận:
Nội dung của bà Phan Thị N khiếu nại Quyết định số 2749/QĐ-UBND ngày 23/3/2022 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Phan Thị N. Nội dung khiếu nại này là sai. Bởi vì:
3.1 Về trình tự, thủ tục và thẩm quyền:
Chủ tịch UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 2749/QĐ-UBND ngày 23/3/2022 về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Phan Thị N đã thực hiện theo trình tự, thủ tục tại Nghị định số 124/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Khiếu nại và giải quyết đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Luật khiếu nại năm 2011.
Tuy nhiên, đơn khiếu nại ghi ngày 16/11/2021 của bà Phan Thị N đã được Chủ tịch UBND huyện Đ xem xét thụ lý vào ngày 02/12/2021 (Thông báo số 14862/TB-UBND ngày 02/12/2021 về việc thụ lý giải quyết khiếu nại lần đầu), nhưng đến ngày 23/3/2022 Chủ tịch UBND huyện Đ mới ban hành Quyết định số 2749/QĐ-UBND ngày 23/3/2022 về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Phan Thị N là chưa đúng thời hạn (54 ngày) quy định tại Điều 28, Luật Khiếu nại năm 2011: “Điều 28. Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý. Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý”.
3.2 Về nội dung:
- Đối với nội dung bà Phan Thị N khiếu nại Công văn số 7684/UBND- TCD ngày 13/7/2021 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc trả lời đơn kiến nghị của bà N, với yêu cầu cấp nền tái định cư bằng đất để xây dựng nhà ở là không có cơ sở xem xét giải quyết. Bởi vì:
Bà Phan Thị N có đất Nhà nước thu hồi diện tích 7.862m² là đất nông nghiệp và trên đất bị thu hồi không có xây nhà ở nên không thuộc đối tượng được bố trí tái định cư bằng đất tại Quyết định số 3415/QĐ-UBND ngày 05/6/2019 của UBND huyện Đ về việc phê duyệt phương án tái định cư bằng đất (kèm Phương án tái định cư số 979/PA-TĐC ngày 27/5/2019); Quyết định số 156/QĐ-UBND ngày 26/01/2022 của UBND huyện Đ về việc điều chỉnh một phần nội dung trong Quyết định số 3415/QĐ-UBND ngày 05/6/2019 của UBND huyện Đ (kèm Phương án tái định cư điều chỉnh số 86/PA-TĐC ngày 20/01/2022) và phù hợp theo quy định tại Điều 86 Luật Đất đai năm 2013 quy định về bố trí tái định cư cho người có đất ở thu hồi mà phải di chuyển chỗ ở.
- Ngoài ra, bà N cho rằng bà có nhà và đất nhưng Nhà nước đã thu hồi; vì hoàn cảnh cuộc sống gia đình khó khăn, không có nhà ở nơi khác tại xã H, để yêu cầu cấp nền tái định cư bằng đất là không có cơ sở. Bởi vì:
Ngày 29/8/2022, Đoàn xác minh - Thanh tra tỉnh phối hợp với các phòng ban của huyện (Phòng Tài nguyên và Môi trường, Thanh tra) và UBND xã H, xác định:
- + Gia đình bà Phan Thị N có 05 người con, đã tách riêng hộ khẩu là 04 người và có chỗ ở ổn định. Bà N hiện đang sống chung với người con trai là ông Lê Thành T2; ngụ ấp B, xã Đ, huyện Đ. Hộ bà Phan Thị N không thuộc diện hộ nghèo ở xã H;
- + Hiện nay, trên phần đất Nhà nước đã thu hồi của bà N, có 01 căn chồi và Đ xác minh xác định là căn chồi có sau khi kê biên kiểm đếm; vì vào ngày 15/01/2016, Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Đ có Biên bản kê biên, kiểm đếm và Tờ khai của bà N ghi nhận là tại 03 thửa đất số 290, 795, 1770, với tổng diện tích đất là 7.862m², không ghi nhận có cất chồi trên phần đất này.
- + Đồng thời, theo Biên bản ngày 15/9/2022 của UBND xã H, có ghi nhận ý kiến của bà N như sau:
Tôi có phần diện tích bị giải tỏa trong khu công nghiệp I là gần 8000m², toàn bộ là đất nông nghiệp. Ngoài diện tích bị giải tỏa này ra, tôi không còn đất hay nhà ở nào khác trên địa bàn xã; Về nhà ở: lúc trước khi có dự án IDICO thì tôi ở chung với con gái ruột là bà Lê Thị C, sau khi bị giải tỏa nhà của bà C thì tôi về ở với con trai ruột là ông Lê Thành T2 ở ấp B, xã Đ. Do hoàn cảnh khó khăn nên khoảng cuối năm 2020, tôi có về cất lại cái chòi để ở tạm, hiện vẫn còn hiện trạng, dù biết việc cất chòi trên đất đã bồi thường là không đúng quy định nhưng do khó khăn về nhà ở nên tôi mới cất như vậy. Về phần chòi đã cất thì tôi không yêu cầu nhà nước bồi thường, vì cất sau khi thu hồi đất và tôi đã nhận đủ tiền bồi thường tài sản trên đất.
Từ cơ sở nêu trên, ngày 02/12/2022, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 11449/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần hai của bà Phan Thị N, như sau:
Điều 1. Công nhận và giữ nguyên Quyết định số 2749/QĐ-UBND ngày 23/3/2022 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Phan Thị N.
Bác nội dung đơn của bà Phan Thị N khiếu nại Quyết định số 2749/QĐ-UBND ngày 23/3/2022 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Phan Thị N.
Lý do: Nội dung khiếu nại không có cơ sở xem xét.
III. Quan điểm giải quyết
Sau khi rà soát kết quả giải quyết nêu trên, Chủ tịch UBND tỉnh L khẳng định Quyết định số 11449/QĐ-UBND ngày 02/12/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc giải quyết khiếu nại lần 2 của bà Phan Thị N là đúng quy định pháp luật và có giá trị thi hành.
Đề nghị TAND tỉnh Long An xem xét bác đơn khởi kiện của bà Phan Thị N về việc yêu cầu hủy Quyết định số 11449/QĐ-UBND ngày 02/12/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc giải quyết khiếu nại lần 2 của bà Phan Thị N.
Ngày 22/11/2023 Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý vụ án.
Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và lập biên bản không đối thoại được.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 20/2024/HC-ST ngày 04 tháng 3 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Long An quyết định:
Căn cứ Điều 3, Điều 30, Khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng Hành chính 2015; Căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 193, Điều 348, Điều 358 Luật tố tụng Hành chính năm 2015; Căn cứ điểm g Khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng Hành chính năm 2015; Áp dụng Khoản 1 Điều 18, Khoản 1 Điều 21 Luật Khiếu nại; Điều 86 Luật Đất đai năm 2013; Áp dụng điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị N đối với Ủy ban nhân dân huyện Đ về việc yêu cầu hủy Quyết định số 5046/QĐ-UBND ngày 08/6/2018 UBND huyện Đ về việc thu hồi đất đối với bà Phan Thị N, tại xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị N đối với Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ, và Chủ tịch UBND tỉnh L về việc “yêu cầu hủy quyết định hành chính”, gồm:
- - Quyết định số 2749/QĐ-TC ngày 23/3/2022 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị N (lần đầu);
- - Quyết định số 11449/QĐ-UBND ngày 02/12/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh L về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị N ngụ tại ấp C, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (lần 2).
Ngoài ra, bản án còn quy định về án phí và quyền kháng cáo.
* Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 06 tháng 3 năm 2024, người khởi kiện bà Phan Thị N kháng cáo toàn bộ Bản án hành chính sơ thẩm số 20/2024/HC-ST ngày 04/3/2024 vì lý do Tòa án cấp sơ thẩm chưa đánh giá toàn bộ và khách quan vụ việc.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Hội đồng xét xử phúc thẩm và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.
Về nội dung: Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà N là có căn cứ và đúng pháp luật. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa, người bị kiện có đơn xin xét xử vắng mặt và có cử người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Căn cứ Điều 225 Luật Tố tụng Hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt theo quy định pháp luật.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của bà Phan Thị N liên quan đến việc xin cấp 01 cái nền nhà tái định cư để ở, thấy rằng:
- Ngày 26/8/2016, UBND tỉnh L có Quyết định số 3469/QĐ-UBND về việc thành lập Khu công nghiệp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Ngày 08/6/2018 UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 5046/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của bà Phan Thị N tại xã H, huyện Đ, diện tích 7.862m² để thực hiện dự án.
- Ngày 08/6/2018, UBND huyện Đ ban hành Quyết định 5256/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ do bị thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với bà Phan Thị N, tổng số tiền là 1.619.924.960 đồng, bà N đã nhận tiền, không có ý kiến gì. Đồng thời, các con của bà N cũng đã được bố trí tái định cư, bản thân bà N cũng đã có nơi ở.
Bà N kháng cáo cho rằng trước đây vào năm 2007, Nhà nước có thu hồi đất diện tích 2.161m², trên đất có nhà ở nên có tái định cư cho bà 375m² đất ở, nhưng vì hoàn cảnh gia đình bà đã bán 250m², còn lại 125m² đã xây dựng nhà ở tại ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Còn phần đất đang bị thu hồi làm dự án bà N cũng thừa nhận tại Biên bản làm việc ngày 15/9/2022, có nội dung:
“Do hoàn cảnh khó khăn nên khoảng cuối năm 2020, tôi có về cất lại cái chòi để ở tạm, hiện vẫn còn hiện trạng, dù biết việc cất chòi trên đất đã bồi thường là không đúng quy định nhưng do khó khăn về nhà ở nên tôi mới cất như vậy. Về phần chòi đã cất thì tôi không yêu cầu nhà nước bồi thường, vì cất sau khi thu hồi đất và tôi đã nhận đủ tiền bồi thường tài sản trên đất”.
[3]. Như vậy, phần đất bà N bị Nhà nước thu hồi làm dự án là đất nông nghiệp, không có xây nhà ở nên không thuộc đối tượng được bố trí tái định cư bằng đất theo quy định tại Điều 86 Luật Đất đai năm 2013.
Án sơ thẩm tuyên bác yêu cầu khởi kiện của bà N về việc hủy các quyết định hành chính bị khởi kiện của Chủ tịch UBND huyện Đ, Chủ tịch UBND tỉnh L liên quan đến tái định cư là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[4] Quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[5]. Về án phí hành chính phúc thẩm: Bà N được miễn do là người cao tuổi.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Bộ luật tố tụng hành chính; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của bà Phan Thị N. Giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm số: 20/2024/HC-ST ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị N đối với Ủy ban nhân dân huyện Đ về việc yêu cầu hủy Quyết định số 5046/QĐ-UBND ngày 08/6/2018 UBND huyện Đ về việc thu hồi đất đối với bà Phan Thị N, tại xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị N đối với Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ, và Chủ tịch UBND tỉnh L về việc “yêu cầu hủy quyết định hành chính”, gồm:
- - Quyết định số 2749/QĐ-TC ngày 23/3/2022 của Chủ tịch UBND huyện Đ về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị N (lần đầu);
- - Quyết định số 11449/QĐ-UBND ngày 02/12/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh L về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị N ngụ tại ấp C, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (lần 2).
3. Án phí hành chính phúc thẩm:
Người kháng cáo bà Phan Thị N được miễn.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Công Mười |
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Chung Văn Kết |
Phạm Công Mười |
|
Cao Văn Tám |
Bản án số 1004/2024/HC-PT ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai
- Số bản án: 1004/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bà Phan Thị N. Giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm số: 20/2024/HC-ST ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
