Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 1003/2024/HS-PT

Ngày 28 tháng 10 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Phan Đức Phương.

Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Văn Tửu.

Ông Mai Xuân Thành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lã Thị Thu Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 771/2024/TLPT-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo Nguyễn Minh Q, Trần Thanh P phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và tội “Đánh bạc”; các bị cáo Dương T, Lâm Thế V, phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Nguyễn Phạm Gia H, L6 phạm tội “Gá bạc”; các bị cáo Dương Quốc T1, Lê Thành Đ, Trần Thị Ni N, Lê Thị Ngọc T2, Ngô Huỳnh T3, Nguyễn Thái C, Nguyễn Vũ Nam B phạm tội “Đánh bạc”.

Do có kháng cáo của bị cáo Dương T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 339/2024/HS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 901/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 9 năm 2024.

Bị cáo có kháng cáo: Dương T, sinh ngày: 02/10/2000, tại tỉnh Tiền Giang.

Nơi đăng ký thường trú: Ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang; chỗ ở: D T, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Dương Ngọc T4 và bà Phạm Thị Bích T5; có vợ, chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giam từ ngày 14/11/2023 đến ngày 07/12/2023 được tại ngoại (vắng mặt).

Bị cáo không có kháng cáo:

  1. Nguyễn Minh Q; giới tính: Nam; sinh ngày: 24/10/1990, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: B C, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Căn hộ S chung cư V, đường N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Chuyên viên bất động sản; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Đồng M và bà Trần Thị Kim C1; có vợ và 01 con sinh năm 2019; tiền án: Bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, phạt tiền 10.000.000 đồng tại Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2020/HSST ngày 05/11/2020, nộp phạt 10.000.000 đồng và 200.000 đồng tiền án phí ngày 15/7/2024; tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 14/11/2023.
  2. Trần Thanh P; giới tính: Nam; sinh ngày: 24/11/1994, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: 4 L, Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: D chung cư T, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Thanh B1 và bà Nguyễn Thị Ngọc D. Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 14/11/2023.

    Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2022/HSST ngày 30/8/2022, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng treo về tội “Đánh bạc”, thử thách 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; tiền sự: Không.

  3. Lâm Thế V; giới tính: Nam; sinh ngày: 27/3/1995, tại tỉnh Sóc Trăng; nơi đăng ký thường trú: Ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở: 311 đường H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khmer; tôn giáo: Phật giáo; con ông Lâm Phước T6 và bà Võ Thị Tuyết L; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 14/11/2023.
  4. Nguyễn Phạm Gia H; giới tính: Nam; sinh ngày: 11/01/2005, tại tỉnh Đắk Lắk; nơi đăng ký thường trú: 46/3/8 Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở: D H, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Sinh viên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Phạm Thị T7; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 14/11/2023.
  5. L6; giới tính: Nam; sinh ngày: 22/5/1991, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: A L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Chuyên viên bất động sản; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; tôn giáo: Không; con ông Lai C2 và bà Huỳnh Kiết T8; có vợ và 01 con sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 15/11/2023.
  6. Dương Quốc T1; giới tính: Nam; sinh ngày: 26/9/1997, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: E, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Dương Hồng P1 và bà Trịnh Thị C3; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 14/11/2023.
  7. Lê Thành Đ; giới tính: Nam; sinh ngày: 11/8/1992, tại tỉnh Đồng Tháp; nơi đăng ký thường trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở: Ô A khu phố P, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Nhân viên văn phòng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn Đ1 và bà Võ Thị H2; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giam từ ngày 14/11/2023 đến ngày 24/11/2023 được tại ngoại.
  8. Trần Thị Ni N; giới tính: Nữ; sinh ngày: 25/02/1996, tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi đăng ký thường trú: thôn N, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; chỗ ở: 1 L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn H3 và bà Hà Thị Trúc L1; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giam từ ngày 14/11/2023 đến ngày 07/12/2023 được tại ngoại.
  9. Lê Thị Ngọc T2; giới tính: Nữ; sinh ngày: 15/10/1996, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: 21 H, Khu phố G, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Nhân viên F; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn T9 và bà Phan Thị T10; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 14/11/2023.
  10. Ngô Huỳnh T3; giới tính: Nam; sinh ngày: 18/8/1997, tại tỉnh Tiền Giang; nơi đăng ký thường trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; chỗ ở: 3 B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Ngô Văn D1 và bà Huỳnh Ngọc Trúc L2; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 14/11/2023.
  11. Nguyễn Thái C; giới tính: Nam; sinh ngày: 09/3/1992, tại tỉnh Bắc Giang; nơi đăng ký thường trú: B H, phường N, quận B, Thành phố Hà Nội; chỗ ở: P, Tầng C Block A, chung cư S, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Thái D2 và bà Nguyễn Minh L3; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ từ ngày 14/11/2023 đến ngày 18/11/2023 được tại ngoại.
  12. Nguyễn Vũ Nam B; giới tính: Nam; sinh ngày: 30/3/2001, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: 201/60/58 N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Nguyễn Thành T11 và bà Vũ Thị Tuyết L4; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 14/11/2023.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Phạm Đan H4, sinh năm: 1994.

    Địa chỉ: A L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Bà Trần Thị Kim C1, sinh năm: 1966.

    Địa chỉ: B C, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bà Võ Thị Tuyết L, sinh năm: 1974.

    Địa chỉ: ấp Đ, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

  4. Bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm: 1971.

    Địa chỉ: C Đ, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

  5. Bà Phan Thị T10, sinh năm: 1968.

    Địa chỉ: B H, Khu phố G, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.

  6. Ông Nguyễn Thành T11, sinh năm 1958.

    Địa chỉ: 2 N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong vụ án, các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng nghị cũng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 21 giờ 00 phút ngày 14/11/2023, Phòng C4 - Công an Thành phố H kết hợp Đ4 - Công an Q1 và Công an P3, Quận A tiến hành kiểm tra tại phòng “Mege Tower” tầng 1, quán T12, địa chỉ số D H, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, phát hiện Nguyễn Minh Q, Trần Thanh P, Dương T, Lâm Thế V đang có hành vi tổ chức cho Nguyễn Minh Q, Dương Quốc T1, Lê Thành Đ, Nguyễn Thái C, Nguyễn Vũ Nam B, Ngô Huỳnh T3, Trần Thị Ni N, Lê Thị Ngọc T2 đánh bài Poker thắng thua bằng tiền và đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tổng cộng 48.305 điểm phỉnh, tương đương 48.305.000 đồng (trong đó, trên bàn là 42.795 điểm phỉnh, tương đương 42.795.000 đồng; trong hộc bàn 5.510 điểm phỉnh, tương đương 5.510.000 đồng); 01 tấm trải bàn chuyên dụng để đánh P2, 02 bàn dùng để đánh P2, 10 ghế để ngồi đánh Poker; 01 hộp nhựa hình chữ nhật màu đen bên trong có 01 thẻ nhựa tròn màu trắng, 01 thẻ màu đỏ, 02 bộ bài tây đã qua sử dụng, 02 bộ bài tây chưa qua sử dụng, 13.320 điểm phỉnh, tương đương 13.320.000 đồng (là phỉnh T đang giữ chưa đổi cho các con bạc); 01 bộ bài tây màu đỏ đã sử dụng, 01 bộ bài tây màu xanh đang sử dụng, 01 miếng hình chữ nhật màu đỏ dùng để kinh bài.

Cơ quan điều tra xác định: Quán T12 do Nguyễn Phạm Đan H4 đứng tên kinh doanh trên lĩnh vực “bán cà phê, nước giải khát”. Ngoài ra, có tổ chức cho khách đến chơi Board G và P..., thời gian hoạt động từ 09 giờ đến 23 giờ hàng ngày, mở cửa hoạt động từ tháng 01/2021. Việc kinh doanh tại quán do H4 trực tiếp điều hành đến tháng 6/2023, do mang thai, sức khỏe kém nên giao lại cho chồng là Lai Bảnh N1 và em ruột là Nguyễn Phạm Gia H quản lý, giám sát hoạt động kinh doanh tại quán. Để thu hút khách đến chơi ăn uống tại quán nhằm tăng doanh thu cho quán, Lai Bảnh N1 tạo trang Facebook tên “The Guild Board game cà phê” đồng thời ghi số điện thoại của L5 Bảnh Nam (0909.016621) để khách tiện liên hệ.

Giữa tháng 10/2023, Nguyễn Minh Q biết quán cà phê The G1 cho khách đến uống nước chơi game và đánh bài Poker, Q kêu Lâm Thế V liên hệ với L6 đặt bàn chơi Poker tại quán T12, N1 đồng ý. Sau đó, Q sử dụng địa điểm tổ chức cho những người đánh bạc chơi Poker đổi phỉnh thắng thua bằng tiền. Hàng ngày, L6 và Nguyễn Phạm Gia H trực tiếp có mặt tại quán giám sát hoạt động của nhân viên và khách đến quán uống nước, chơi game nên biết những người đánh bạc trong nhóm Q, V đến chơi bài Poker nói chuyện với nhau về việc chơi bài Poker thắng thua bằng tiền tại quán.

Để phục vụ cho việc tổ chức đánh bạc Nguyễn Minh Q thuê Trần Thanh P làm nhiệm vụ chia bài, tính tiền thắng thua để thu tiền xâu 5% nhưng tối đa không quá 120 điểm, tương đương 120.000 đồng trên tổng số điểm mà người chơi thắng, P không được hưởng tiền lương mà chỉ được hưởng 90% tiền típ (thưởng) từ khách chơi, 10% còn lại Q hưởng. Q thuê Dương T làm nhiệm vụ đổi phỉnh cho những người đánh bạc đến chơi và Lâm Thế V làm nhiệm vụ đổi phỉnh, gọi khách đến chơi và phục vụ ăn uống tại sòng bạc, V và T được Q trả công 250.000 đồng/ngày. Dụng cụ chơi P2, Nguyễn Minh Q mượn của Đ2 (không rõ lai lịch) để lại tại T. Trung bình Quân tổ chức cho nhóm chơi khoảng 03 - 04 ngày/tuần, thời gian chơi từ khoảng 16 giờ đến 23 giờ, nếu chơi sau 23 giờ thì phải trả thêm 100.000 đồng/giờ cho quán T12.

Khi những người đánh bạc đến sẽ gặp Dương Thông Đ3 phỉnh để đánh bạc rồi đến bàn Poker tham gia đánh bạc với những người đánh bạc khác ngồi chung bàn, mỗi bàn tối đa 09 người, tối thiểu 05 người. Nhân viên chia bài (Dealer) sử dụng bộ bài tây loại 52 lá để chia cho những người đánh bạc và được xem là trọng tài của bàn đánh bạc đó. Trước khi tham gia đánh bạc thì những người đánh bạc phải đổi phỉnh ít nhất là 1.000 điểm, tương đương 1.000.000 đồng trên mỗi phỉnh thể hiện số điểm: 5, 10, 20, 25, 50, 100, 500, 1.000 (tương đương 5.000, 10.000, 20.000, 25.000, 50.0000, 100.000, 500.000 và 1.000.000 đồng) mức đặt cược trung bình là từ 5 đến 10 điểm, tức là người ngồi bên trái thứ nhất của cục “D3” sẽ đặt cược nhỏ nhất là 5 điểm, tương đương 5.000 đồng và người thứ 2 bên trái sẽ đặt cược số phỉnh là 10 điểm, tương đương 10.000 đồng thì ván bài mới được bắt đầu. Mỗi người đánh bạc được chia 02 lá bài và giữ kín không cho đối phương biết, người được chia bài đầu tiên sẽ là người được đặt phỉnh điểm, người thứ 2 bên trái sẽ phải đặt gấp đôi số điểm người thứ nhất và những người còn lại theo hoặc không theo, nếu theo thì đặt cược bằng hoặc nhiều hơn số tiền người trước đặt cược. Khi kết thúc lượt tố lần thứ 1, nhân viên chia bài lật lá bài thứ 3 để tiếp tục lượt tố lần thứ 2. Khi kết thúc lượt tố lần thứ 2, nhân viên chia bài tiếp tục lật lá bài thứ 4 để bắt đầu lượt tố tiếp theo. Nếu các con bạc vẫn còn trên 2 người chơi thì nhân viên chia bài tiếp tục lật thêm lá bài thứ 5 để các con bạc tố lượt cuối cùng.

Kết thúc lượt tố cuối cùng thì tất cả người chơi lật 2 lá bài tại tụ của mình để tính kết quả phân định thắng thua. Chỉ có duy nhất một người thắng là người có trên tay hai lá bài khi kết hợp với 3 lá bài đã được nhân viên chia bài lật ngửa được kết quả cao nhất theo thứ tự: Thùng phá sảnh (5 lá bài đồng chất liên tục), tứ quí (4/5 lá bài giống nhau), cù lũ (có 03 lá bài giống nhau và 02 lá còn lại cũng giống nhau), thùng (5 lá đồng chất không liền nhau), sảnh (5 lá liền nhau nhưng không đồng chất), xám (3 lá bài giống nhau, 02 lá còn lại không giống nhau), hai đôi (02 cặp lá bài giống nhau), một đôi (01 cặp lá bài giống nhau, 03 lá còn lại không giống nhau). Sau khi thắng cược từng ván, người chia bài sẽ lấy xâu 5% (bằng phỉnh)/tổng số điểm của người thắng cược nhưng tối đa không quá 120 điểm, tương đương 120.000 đồng bỏ vào hộc bàn Poker chỗ người chia bài ngồi. Khi kết thúc việc đánh bạc, Dương T là người đổi phỉnh, ghi chép lại số phỉnh của từng người thắng thua như thế nào. Sau đó, Q chuyển khoản hoặc thanh toán bằng tiền mặt cho các con bạc theo tỉ lệ 1 điểm là 1.000 đồng, cụ thể:

  1. Nhóm tổ chức đánh bạc khai nhận như sau:
  2. Nguyễn Minh Q:

    Ngày 14/11/2023, Q gọi cho Lâm Thế V hỏi liên hệ được bao nhiêu khách đến đánh bạc, V báo 04 khách nên Q gọi cho Nguyễn Thái C và Nguyễn Vũ Nam B đến cùng tham gia chơi. Sau đó, Q gọi cho Dương T đến dọn bàn sắp xếp thảm và đổi phỉnh, Trần Thanh P đến chia bài. Khoảng 17 giờ cùng ngày Q đến quán T12 gặp Nguyễn Vũ Nam B và Nguyễn Thái C. Q gặp T đổi 15.000 điểm phỉnh, tương đương 15.000.000 đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc. Sau đó, Q cùng với B, C tham gia đánh bài Poker đổi phỉnh thành tiền với H5, D2, N, T và V (không rõ lai lịch) người chia bài là M (không rõ lai lịch) cả nhóm ngồi chơi với nhau được khoảng 01 giờ thì D2, H5, N, T và V, M nghỉ đến gặp T ghi nhận số phỉnh ăn thua, trả phỉnh cho T rồi ra về, đến cuối ngày khi kết thúc việc chơi P2, Q gặp H5 và M tính tiền phỉnh. Sau đó, Q tổ chức bàn P2 mới gồm: Lê Thị Ngọc T2 (vị trí số 1), Nguyễn Thái C (vị trí số 2), Lê Thành Đ (vị trí số 3), Nguyễn Vũ Nam B (vị trí số D4), Trần Thị Ni N (vị trí số 5), Nguyễn Minh Q (vị trí 6), Dương Quốc T1 (vị trí số 7), Ngô Huỳnh T3 (vị trí số 8), Trần Thanh P là người chia bài chơi đến 21 giờ cùng ngày thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang, thu giữ tổng số điểm phỉnh các đối tượng dùng đánh bạc là 48.305 điểm, tương đương 48.305.000 đồng. Thu giữ tại vị trí Q ngồi phía trước trên bàn thu giữ 8.875 điểm phỉnh, tương đương 8.875.000 đồng. Q thua 6.125 điểm phỉnh, tương đương số tiền 6.125.000 đồng. Q tổ chức cho các con bạc đánh P2 thắng thua bằng tiền từ tháng 10/2023, thu lợi 35.000.000 đồng, Q đã nộp khắc phục số tiền trên;

    Dương Thông:

    Khoảng 17 giờ ngày 14/11/2023, Nguyễn Minh Q gọi đến quán T12 để sắp xếp bàn, trải thảm chuẩn bị tổ chức đánh bạc và đổi phỉnh cho những người đánh bạc cụ thể: H5 (không rõ lai lịch) đổi 7.000 điểm phỉnh, tương đương 7.000.000 đồng; Q đổi 15.000 điểm phỉnh, tương đương 15.000.000 đồng; Nguyễn Thái C đổi 2.000 điểm phỉnh, tương đương 2.000.000 đồng; Nguyễn Vũ Nam B đổi 6.000 điểm phỉnh, tương đương 6.000.000 đồng; N1 (không rõ lai lịch) đổi 4.000 điểm phỉnh, tương đương 4.000.000 đồng; D2 (không rõ lai lịch) đổi 2.000 điểm phỉnh, tương đương 2.000.000 đồng); T (không rõ lai lịch) đổi 3.000 điểm phỉnh, tương đương 3.000.000 đồng); Z (không rõ lai lịch) đổi 4.000 điểm phỉnh, tương đương 4.000.000 đồng. Sau đó, Q cùng B, C, D2, H5, N, T và Z chơi bài Poker đổi phỉnh thành tiền với nhau, người chia bài là M, nhóm của Q chơi được khoảng 01 giờ thì nghỉ đến gặp T để trả phỉnh;

    Sau khi nhóm H5 ra về, T tiếp tục đổi phỉnh cho: Lê Thị Ngọc T2 đổi 2.000 điểm phỉnh, tương đương 2.000.000 đồng; Dương Quốc T1 đổi 2.000 điểm phỉnh, tương đương 2.000.000 đồng; Trần Thị Ni N đổi 17.500 điểm phỉnh, tương đương 17.500.000 đồng; Lê Thành Đ đổi 5.000 điểm phỉnh, tương đương 5.000.000 đồng; Ngô Huỳnh Thái đổi 6.000 điểm phỉnh, tương đương 6.000.000 đồng, người chia bài là Trần Thanh P. Sau đó, Nguyễn Minh Q, Nguyễn Vũ Nam B, Nguyễn Thái C cùng chơi đánh bài P2 đổi phỉnh thành tiền với T2, T1, N, T3, Đ, đến khoảng 21 giờ bị Công an kiểm tra bắt quả tang;

    T hưởng lợi 7.000.000 đồng, đã tự nguyện giao nộp lại số tiền 24.500.000 đồng (trong đó, 17.500.000 đồng tiền N mua phỉnh để đánh bạc chuyển cho T và 7.000.000 đồng hưởng lợi bất chính).

    Lâm Thế V:

    Nguyễn Minh Q thuê đến sòng bạc phục vụ ăn uống cho những người đánh bạc, gọi người đến đánh bạc. Khoảng 15 giờ ngày 14/11/2023, Q gọi cho V hỏi gọi được bao nhiêu người, V trả lời được 04 người, Q gọi thêm được 03 người đến chơi. Sau đó, V cùng T sắp xếp bàn ghế phục vụ cho các con bạc chơi Poker đổi phỉnh thành tiền và kêu nước cho khách đến chơi đánh bạc, đến khoảng 21 giờ, Công an kiểm tra, lập biên bản bắt quả tang. Quá trình làm việc tại sòng bài, V hưởng lợi 8.000.000 đồng, đại diện gia đình đã nộp lại 5.000.000 đồng.

    Trần Thanh P:

    Nguyễn Minh Q thuê đến chia bài, làm trọng tài và thu tiền xâu tại sòng bạc từ ngày 01/11/2023, vào lúc 19 giờ ngày 14/11/2023, P đến chia bài được khoảng 70 ván thì bị Công an kiểm tra thu giữ tại vị trí của P 02 bộ bài tây 52 lá, 5.510 điểm phỉnh, tương đương 5.510.000 đồng trong hộc bàn, trong đó tiền típ của P là 1.450 điểm, tương đương 1.450.000 đồng. P hưởng lợi 5.000.000 đồng, đại diện gia đình đã nộp lại 5.000.000 đồng.

  3. Nhóm gá bạc khai nhận như sau:
  4. L6:

    Tháng 01/2021, N1 cùng với vợ là Nguyễn Phạm Đan H4 mở quán T12, đến tháng 6/2023, H4 mang thai nên giao quán lại cho N1 và Nguyễn Phạm Gia H quản lý, giám sát hoạt động của nhân viên và khách đến chơi tại quán. Giữa tháng 10/2023, khi ở quán, N1 biết nhóm V có khoảng 07 đến 10 người đến quán chơi đánh bạc bằng hình thức chơi P2 đổi phỉnh thành tiền ăn thua với nhau (tuần chơi từ 03 - 04 ngày), N1 thấy nhóm của V chơi nhỏ lẻ, ăn thua không lớn nên không ngăn cấm để nhằm tăng doanh thu cho quán từ việc bán nước uống và thức ăn tại quán. Ngoài ra, nếu nhóm V chơi sau 23 giờ phải trả thêm tiền là 100.000 đồng/giờ. Mỗi lần nhóm V đến chơi sẽ thu được số tiền từ 500.000 đồng đến 800.000 đồng từ tiền bán nước uống và thức ăn tại quán.

    Nguyễn Phạm Gia H:

    Khoảng tháng 6/2023, khi Nguyễn Phạm Đan H4 giao quán cho N1 và H quản lý, giám sát hoạt động, đến khoảng giữa tháng 10/2023, H nhiều lần mang nước lên phòng “Mage Tower” cho nhóm của V, thấy những người này chơi P2 đổi phỉnh và nghe những người chơi bài nói với nhau về việc ăn tiền nên biết được nhóm của V đánh bài P2 đổi phỉnh thắng thua bằng tiền, nhưng do H nghĩ nhóm của V chơi ăn thua nhỏ lẻ với nhau nên không ngăn cấm nhằm để tăng doanh thu cho quán.

    L6 và Nguyễn Gia H hưởng lợi 10.000.000 đồng từ việc bán nước uống cho người đánh bạc, số tiền này gia đình của N1 và H đã nộp lại.

  5. Nhóm đánh bạc khai nhận như sau:
  6. Nguyễn Thái C:

    Khoảng 16 giờ ngày 14/11/2023, C đến quán T12 đánh bạc, khi đến nơi C gặp Dương Thông Đ3 2.000 điểm phỉnh, tương đương 2.000.000 đồng để sử dụng vào đánh bài Poker chơi cùng với Q, B, D2, H5, N, T và Z được khoảng 01 tiếng thì cả nhóm nghỉ. Sau đó, C tiếp tục chơi đánh bài P2 thắng thua với Q, B, Đ, N, T1, T3, T2. Đến khoảng 21 giờ Công an kiểm tra bắt quả tang, tại vị trí C ngồi phía trước trên bàn thu giữ 1.800 điểm phỉnh tương đương số tiền 1.800.000 đồng. Cương thua 200 điểm phỉnh, tương đương 200.000 đồng, đã nộp lại 2.000.000 đồng.

    Nguyễn Vũ Nam B:

    Khoảng 16 giờ ngày 14/11/2023, B đến quán T12 đánh bạc, B gặp Dương Thông Đ3 6.000 điểm phỉnh, tương đương 6.000.000 đồng chơi cùng với Q, C, D2, H5, N, T và Z được khoảng 01 tiếng thì cả nhóm nghỉ chơi. Sau đó, B tiếp tục chơi đánh bài P2 thắng thua với Q, C, Đ, N, T1, T3, T2. Đến khoảng 21 giờ Công an kiểm tra bắt quả tang, tại vị trí B ngồi phía trước trên bàn thu giữ 3.100 điểm phỉnh, tương đương 3.100.000 đồng. B thua 2.900 điểm phỉnh, tương đương 2.900.000 đồng, gia đình đã nộp lại 6.000.000 đồng.

    Lê Thành Đ:

    Khoảng 20 giờ ngày 14/11/2023, Đ đến quán T12 đánh bạc, Đ gặp Dương Thông Đ3 5.000 điểm phỉnh, tương đương 5.000.000 đồng chơi cùng với Q, C, B, N, T1, T3, T2. Đến khoảng 21 giờ Công an kiểm tra bắt quả tang, tại vị trí Đ ngồi phía trước trên bàn thu giữ 5.280 điểm phỉnh, tương đương 5.280.000 đồng, Đ ăn 280 điểm phỉnh tương đương 280.000 đồng, Lê Thành Đ đã nộp lại 5.000.000 đồng.

    Trần Thị Ni N:

    Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 14/11/2023, N đến quán T12 đánh bạc, N gặp Dương Thông Đ3 17.500 điểm phỉnh, tương đương 17.500.000 đồng cùng chơi với Q, C, B, Đ, T1, T3, T2. Đến khoảng 21 giờ Công an kiểm tra bắt quả tang, tại vị trí Ny ngồi phía trước trên bàn thu giữ 5.535 điểm phỉnh, tương đương 5.535.000 đồng, N thua 11.965 điểm phỉnh, tương đương 11.965.000 đồng.

    Dương Quốc T1:

    Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 14/11/2023, T1 đến quán T12 đánh bạc, T1 gặp Dương Thông Đ3 2.000 điểm phỉnh, tương đương 2.000.000 đồng chơi cùng với Q, C, B, Đ, N, T3, T2. Đến khoảng 21 giờ Công an kiểm tra bắt quả tang, tại vị trí T1 ngồi phía trước trên bàn thu giữ 5.660 điểm phỉnh, tương đương 5.660.000 đồng. T1 ăn 3.660 điểm phỉnh, tương đương 3.660.000 đồng.

    Ngô Huỳnh T3:

    Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 14/11/2024, T3 đến quán T12 đánh bạc, T3 gặp Dương Thông Đ3 6.000 điểm phỉnh, tương đương 6.000.000 đồng cùng chơi với Q, C, B, Đ, N, T1, T2. Đến khoảng 21 giờ Công an kiểm tra bắt quả tang, tại vị trí T3 ngồi phía trước trên bàn thu giữ 4.400 điểm phỉnh, tương đương 4.400.000 đồng. T3 thua 1.600 điểm phỉnh, tương đương 1.600.000 đồng.

    Lê Thị Ngọc T2:

    Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 14/11/2023, T2 đến quán T12 đánh bạc, T2 gặp Dương Thông Đ3 2.000 điểm phỉnh tương, đương 2.000.000 đồng cùng chơi với Q, C, B, Đ, N, T1, T3. Đến khoảng 21 giờ Công an kiểm tra bắt quả tang, tại vị trí T2 ngồi phía trước trên bàn thu giữ 8.145 điểm phỉnh, tương đương 8.145.000 đồng. Tuyền thắng 6.145 điểm phỉnh, tương đương 6.145.000 đồng. Gia đình T2 đã nộp lại 2.000.000 đồng.

Đối với Nguyễn Phạm Đan H4 chủ quán The Guild, giao lại cho N1 và H quản lý, không biết việc các bị cáo chơi bài Poker đổi phỉnh thắng thua bằng tiền nên cơ quan điều tra không xử lý H4 về hình sự là có căn cứ.

Đối với các đối tượng N1, D2, T, Z cùng Q, B, C đánh bạc và đối tượng M chia bài không rõ lai lịch nên tiếp tục xác minh, có căn cứ làm rõ sẽ xử lý sau.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 339/2024/HS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Q 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”;

    Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt Nguyễn Minh Q 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”;

    Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2023.

  2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Trần Thanh P 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”;

    Tổng hợp hình phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo tại Bản án số 45/2022/HSST ngày 30/8/2022 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt bị cáo Trần Thanh P về tội “Đánh bạc”, Bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (hai) năm tù;

    Thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2023 (được trừ thời gian tạm giữ của Bản án số 45/2022/HSST ngày 30/8/2022 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận từ ngày 28/12/2021 đến ngày 06/01/2022).

  3. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Dương T 01 (một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”;

    Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 14/11/2023 đến ngày 07/12/2023.

  4. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Lâm Thế V 08 (tám) tháng 02 (hai) ngày tù về tội “Tổ chức đánh bạc”;

    Thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2023; bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

    Căn cứ khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

    Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Lâm Thế V nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

  5. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Gia H 08 (tám) tháng 02 (hai) ngày tù về tội “Gá bạc”;

    Thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2023; bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

    Căn cứ khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

    Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Phạm Gia H nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

  6. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Lai Bảnh N1 08 (tám) tháng 01 (một) ngày tù về tội “Gá bạc";

    Thời hạn tù tính từ ngày 15/11/2023; bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù;

    Căn cứ khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

    Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Lai Bảnh N1 nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

  7. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Dương Quốc T1 08 (tám) tháng 02 (hai) ngày tù về tội “Đánh bạc”;

    Thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2023; bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

    Căn cứ khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Dương Quốc T1 nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

  8. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Lê Thành Đ 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”;

    Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;

    Giao bị cáo Lê Thành Đ cho Ủy ban nhân dân phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

  9. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Trần Thị Ni N 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”,

    Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;

    Giao bị cáo Trần Thị Ni N cho Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

  10. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Lê Thị Ngọc T2 08 (tám) tháng 02 (hai) ngày tù về tội “Đánh bạc”;

    Thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2023; bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

    Căn cứ khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

    Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Lê Thị Ngọc T2 nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

  11. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Ngô Huỳnh T3 08 (tám) tháng 02 (hai) ngày tù về tội “Đánh bạc";

    Thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2023; bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

    Căn cứ khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

    Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Ngô Huỳnh T3 nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

  12. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái C 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”;

    Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;

    Giao bị cáo Nguyễn Thái C cho Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

  13. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ Nam B 08 (tám) tháng 02 (hai) ngày tù về tội “Đánh bạc”;

    Thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2023; bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

    Căn cứ khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

    Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Vũ Nam B nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 22/7/2024, bị cáo Dương T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Ngày 28/10/2024, bị cáo có nộp Đơn xin hoãn phiên tòa ghi ngày 28/10/2024 tại bộ phận tiếp dân của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các bị cáo đã tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Đơn kháng cáo hợp lệ, đảm bảo hình thức, thời hạn, đủ điều kiện giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Bị cáo T có đơn xin hoãn phiên tòa nhưng không thuộc trường hợp quy định tại Điều 352 Bộ luật Tố tụng hình sự. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị cáo.

Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Dương T về tội “Tổ chức đánh bạc” là đúng pháp luật. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo 01 năm tù là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bị cáo Dương T kháng cáo đúng quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tòa án cấp sơ thẩm xác định hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự là đúng pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[3] Phiên tòa mở ngày 23/9/2024, bị cáo Dương T xin hoãn phiên tòa vì lý do nhờ người bào chữa. Phiên tòa mở lần thứ hai (ngày 28/10/2024), bị cáo có nộp Đơn xin hoãn phiên tòa ghi ngày 28/10/2024 tại bộ phận tiếp dân của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thấy rằng: Trường hợp xin hoãn phiên tòa của bị cáo T không thuộc trường hợp quy định tại Điều 352 Bộ luật Tố tụng hình sự. Vì vậy, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo T.

[4] Căn cứ các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có cơ sở xác định: Khoảng 21 giờ ngày 14/11/2023, Phòng C4 - Công an Thành phố H kết hợp Đ4 - Công an Q1 và Công an P3, Quận A kiểm tra quán T12, địa chỉ số D H, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, tại Phòng “M” tầng 1 phát hiện Nguyễn Minh Q cùng với Lâm Thế V, Dương T, Trần Thanh P tổ chức cho Dương Quốc T1, Lê Thành Đ, Nguyễn Thái C, Nguyễn Vũ Nam B, Ngô Huỳnh T3, Trần Thị Ni N, Lê Thị Ngọc T2 đánh bài Poker đổi phỉnh thắng thua bằng tiền với tổng số tiền là 48.305.000 đồng. Đồng thời, Nguyễn Minh Q trực tiếp tham gia đánh bài P2 thắng thua cùng với các bị cáo Dương Quốc T1, Lê Thành Đ, Nguyễn Thái C, Nguyễn Vũ Nam B, Ngô Huỳnh T3, Trần Thị Ni N, Lê Thị Ngọc T2.

[5] Hành vi của các bị cáo Nguyễn Minh Q, Trần Thanh P, Dương T, Lâm Thế V, Nguyễn Phạm Gia H, Lai B, Dương Quốc T1, Lê Thành Đ, Trần Thị Ni N, Lê Thị Ngọc T2, Ngô Huỳnh T3, Nguyễn Thái C, Nguyễn Vũ Nam B là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[6] Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Dương T phạm tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[7] Xét kháng cáo của bị cáo Dương T, thấy rằng: Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng, đầy đủ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo Dương T 01 năm tù là có căn cứ, đúng pháp luật. Giai đoạn phúc thẩm, bị cáo Dương T cũng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới. Vì vậy, hình phạt tù của bản án sơ thẩm nêu trên đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

[8] Từ những nội dung nêu trên, Hội đồng xét xử thống nhất ý kiến của Viện kiểm sát; không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo của bị cáo Dương T; giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bị cáo Dương T phải chịu án phí phúc thẩm.

[9] Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương T .
  2. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 339/2024/HS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Tuyên bố bị cáo Dương T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
  4. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    4.1. Xử phạt bị cáo Dương T 01 (một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”.

    4.2. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 14/11/2023 đến ngày 07/12/2023.

  5. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Dương T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
  6. Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND TP.HCM (2 bản);
  • - VKSND TP.HCM;
  • - Cục THADS TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Công an TP.HCM;
  • - Bị cáo tại ngoại;
  • - Lưu: VP (5), Hồ sơ (2), (LTTH).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Đức Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1003/2024/HS-PT ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)

  • Số bản án: 1003/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger