Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/DS-ST

Ngày : 29-7-2024.

V/v tranh chấp về hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Mi Mi.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Thanh Sơn.

2/ Ông Đặng Văn Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Kim Quy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sáu

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 84/2023/TLST – DS ngày 20 tháng 3 năm 2024, về việc: “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2024/QĐXXST-DS ngày 24/6/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 95/2024/QĐST-DS ngày 11/7/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân H2

Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn H – Chủ tịch Hội đồng quản trị

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn M – Giám đốc

Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh L – sinh năm 1984;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị H1 – Sinh năm 1935;

Cùng địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Tất cả đều vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 31/01/2024 và tại bản khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Hàm Chính – do ông Phạm Văn M đại diện ủy quyền trình bày: Ngày 31/12/2021, Quỹ tín dụng nhân dân H2 (gọi tắt Quỹ tín dụng) có cho ông Nguyễn Thanh L vay với số tiền 55.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi lăm triệu đồng) theo Hợp đồng cho vay số 1133/21A/HĐTD; thời hạn cho vay là 01 năm từ ngày 31/12/2021 đến ngày 31/12/2022; Mục đích cho vay đầu tư S, lãi suất 10,5%/ năm. Hình thức cho vay là không áp dụng biện pháp bảo đảm (ông L giao cho Qũy tín dụng giữ bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T135659 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 18/01/2000 cấp đứng tên bà Phạm Thị H1 – mẹ ruột của ông L). Quá trình vay ông Nguyễn Thanh L vi phạm Hợp đồng cho vay đã ký kết, món vay của ông L đã chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 01/01/2023.

Tính đến ngày 29/7/2024 ông Nguyễn Thanh L còn nợ quỹ tín dụng Hàm chính tổng số tiền 75.763.300 đồng, trong đó nợ gốc là 55.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 5.789.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 14.974.300 đồng.

Quỹ tín dụng nhân dân Hàm C đã trực tiếp làm việc với ông Nguyễn Thanh L nhiều lần để tìm hướng giải quyết nhưng ông L vẫn cố tình không thực hiện việc trả nợ cho Qũy tín dụng. Nay, Quỹ tín dụng nhân dân H2 yêu cầu:

Ông Nguyễn Thanh L phải trả cho Q tín dụng nhân dân Hàm Chính số tiền còn nợ tính đến ngày 29/7/2024 là 75.763.300 đồng, trong đó nợ gốc là 55.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 5.789.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 14.974.300 đồng. Và tiền lãi phát sinh từ ngày 30/7/2024 cho đến khi ông Nguyễn Thanh L thanh toán xong toàn bộ khoản nợ vay theo Hợp đồng cho vay số 1133/21A/HĐTD ngày 31/12/2021.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh L vắng mặt nên không có bản khai tại hồ sơ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị H1 trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 08/4/2024: Bà là mẹ ruột của ông Nguyễn Thanh L. Bà biết việc ông L có vay tiền của Quỹ tín dụng nhân dân H2, số tiền khoảng 55 triệu đồng, khi vay L không có nói cho bà biết nhưng vay xong rồi L về nhà mới kể cho bà nghe có vay của Quỹ tín dụng dụng nhân dân Hàm Chính số tiền trên, mục đích để L trả nợ bên ngoài. Khi vay ông L tự ý mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà đến thế chấp cho Quỹ tín dụng dụng nhân dân Hàm Chính. Khi bà nghe L nói như vậy thì bà không có ý kiến gì và cũng đồng ý cho ông L vay của Quỹ tín dụng nhân dân H2 vì con trai kêu bà ký thì bà ký chứ bà cũng không biết ký gì. Nay Quỹ tín dụng nhân dân H2 yêu cầu ông Nguyễn Thanh L1 phải trả số nợ gốc 55.000.000 đồng và lãi tính đến ngày 30/01/2024 là 16.057.800 đồng. Tổng cộng 71.057.800đồng và lãi phát sinh đến khi trả hết nợ thì bà không có ý kiến gì vì bà không có nợ, ông Nguyễn Thanh L vay thì ông L chịu trách nhiệm trả. Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà đã thế chấp cho Quỹ tín dụng dụng nhân dân Hàm Chính thì bà yêu cầu Tòa án cứ giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như thông báo thụ lý vụ án, thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông L, bà H1 vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 203 và Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt do có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do.

Tại phiên Tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định pháp luật. Đề nghị áp dụng Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 95, Điều 145, Điều 147, khoản 1 Điều 227, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân H2. Buộc bị đơn ông Nguyễn Thanh L phải có trách nhiệm trả cho Quỹ tín dụng nhân dân Hàm Chính khoản nợ tính đến hết ngày 29/7/2024 là 75.763.300 đồng, gồm: Nợ gốc là 55.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 5.789.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 14.974.300 đồng; Và tiền lãi phát sinh từ ngày 30/7/2024 cho đến khi ông Nguyễn Thanh L thanh toán xong toàn bộ khoản nợ vay theo Hợp đồng cho vay số 1133/21A/HĐTD ngày 31/12/2021. Quỹ tín dụng nhân dân Hàm Chính có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Phạm Thị H1 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T135659 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 18/01/2000 đứng tên bà Phạm Thị H1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền:

Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp yêu cầu bị đơn trả số tiền vay là 75.763.300 đồng. Đây là tranh chấp về hợp đồng vay tài sản. Bị đơn có địa chỉ tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận được pháp luật quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Xét Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Văn M vắng mặt do có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Thanh L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị H1 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 227, điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự

[3] Về nội dung: Căn cứ lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, có căn cứ xác định: Ông Nguyễn Thanh L có vay của Quỹ tín dụng số tiền 55.000.000 đồng (năm mươi lăm triệu đồng), thời hạn vay là 01 năm (từ ngày 31/12/2021 đến 31/12/2022), lãi suất vay 10,5%/năm, mục đích cho vay đầu tư sản xuất thanh long, theo Hợp đồng cho vay số 1133/21A/HĐTD ngày 31/12/2021. Về phía bị đơn không thực hiện theo thỏa thuận, trốn tránh không có ý kiến gì phản hồi, từ bỏ nghĩa vụ chứng minh của mình nên có căn cứ để xác định bị đơn đã vi phạm việc thỏa thuận giữa các bên.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hợp đồng cho vay số 1133/21A/HĐTD ngày 31/12/2021 được ký kết giữa Quỹ tín dụng nhân dân H2 với ông Nguyễn Thanh L là hợp pháp. Hợp đồng này có hình thức và nội dung thỏa thuận không trái với quy định của pháp luật. Căn cứ vào nội dung hợp đồng cho vay đã được các bên thỏa thuận ký kết về thời hạn cho vay và thời hạn thanh toán nợ. Xét thấy, ông Nguyễn Thanh L không thực hiện nghĩa vụ đúng cam kết theo hợp đồng cho vay đã ký. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả tổng số tiền tính đến ngày 29/7/2024 là 75.763.300 đồng, trong đó nợ gốc là 55.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 5.789.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 14.974.300 đồng; Và tiền lãi phát sinh từ ngày 30/7/2024 cho đến khi ông Nguyễn Thanh L thanh toán xong toàn bộ khoản nợ vay, là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận.

Đối với bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 135659 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 18/01/2000 đứng tên bà Phạm Thị H1, do ông L giao cho Quỹ tín dụng nhân dân H2 giữ thì Quỹ tín dụng có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Phạm Thị H1.

[4] Ý kiến phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc là có cơ sở nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

[5] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân Hàm Chính được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ nên bị đơn ông Nguyễn Thanh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 351, Điều 352, Điều 353, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 95, Điều 145, Điều 147, khoản 1 Điều 227, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân H2, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc bị đơn ông Nguyễn Thanh L phải có trách nhiệm trả cho Quỹ tín dụng nhân dân Hàm Chính khoản nợ tính đến hết ngày 29/7/2024 là 75.763.300 đồng (bảy mươi lăm triệu bảy trăm sáu mươi ba ngàn ba trăm đồng), gồm: Nợ gốc là 55.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 5.789.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 14.974.300 đồng; Và tiền lãi phát sinh từ ngày 30/7/2024 cho đến khi ông Nguyễn Thanh L thanh toán xong toàn bộ khoản nợ vay theo Hợp đồng cho vay số 1133/21A/HĐTD ngày 31/12/2021.

Quỹ tín dụng nhân dân Hàm Chính có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Phạm Thị H1 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T135659 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 18/01/2000 đứng tên bà Phạm Thị H1.

2/ Về án phí:

- Quỹ tín dụng nhân dân H2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Q tín dụng nhân dân Hàm Chính số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 1.776.000đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013134 ngày 20/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Ông Nguyễn Thanh L phải chịu 3.788.165 đồng (ba triệu bảy trăm tám mươi tám ngàn một trăm sáu lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Phạm Thị H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

3/ Quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/7/2024). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

“ Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Bình Thuận;
  • -VKSND huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Chi cục THADS H.Hàm Thuận Bắc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mi Mi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/DS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp về hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 100/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger