|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 100/2024/HS-ST
Ngày 28/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm và những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu Trung tâm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: ông Lê Lương Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- bà Nguyễn Thị Kim Cúc.
- ông Hà Văn Tiêm.
Thư ký phiên toà: ông Đỗ Anh Tú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: bà Lê Thị Mai Anh- Kiểm sát viên.
- Tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố S:
Ông Đào Ngọc S – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Người tham gia tố tụng khác: Cán bộ Công an dẫn giải gồm có Thiếu tá Trần Hùng V và Đại úy Lò Văn M – Cán bộ Đội hỗ trợ tư pháp và thi hành án hình sự Công an thành phố S.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại tại điểm cầu Trung tâm trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố S xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 98/2024/TLST-HS, ngày 31/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 106/2024/QĐXXST-HS, ngày 14/8/2024 đối với bị cáo:
- Hoàng Văn L (tên gọi khác: Không), sinh ngày 15/5/2001 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Trú tại bản Nà Hạ 2, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Giới tính: Nam. Dân tộc: Thái. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo, đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông Hoàng Văn T, sinh năm 1971 và bà Hà Thị D, sinh năm 1979, bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2023 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 35 phút, ngày 20/12/2023, tổ công tác C anphường C, thành phố S làm nhiệm vụ tại khu vực tổ A, phường Q, thành phố S hiện Hoàng Văn L đang đi bộ trong đường ngõ dân sinh thuộc tổ A, nghi ngờ L có liên quan đến tội phạm về ma túy, tổ công tác đã mời người làm chứng và tiến hành yêu cầu kiểm tra hành chính đối với L, L đã tự giác lấy từ trong túi quần bên trái đang mặc trên người ra giao nộp 01 gói giấy bạc, mở ra bên trong có 06 viên nén màu hồng giao nộp cho tổ công tác và khai nhận là ma túy hồng phiến do L mua được của Nguyễn Anh T1, trú tại bản Tà Xa, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La để sử dụng, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo L và thu giữ vật chứng.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy bạc, bên trong có 06 viên nén màu hồng, nghi là ma túy hồng phiến; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50 màu đen, đã cũ qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim thuê bao số 0968049629; 01 thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Hoàng Văn L.
Ngày 20/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng, kết quả cân tịnh: 06 viên nén đồng dạng màu hồng thu giữ khi bắt quả tang có khối lượng 0,57 gam; lấy 03 viên nén đồng dạng màu hồng có khối lượng 0,29 gam cho vào túi ni lon màu trắng hàn kín lại làm mẫu gửi giám định, ký hiệu H, còn lại 03 viên nén đồng dạng màu hồng có khối lượng 0,28 gam cho vào túi ni lon màu trắng làm mẫu lưu kho ký hiệu L.
Cùng ngày, cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố S ra quyết định trưng cầu giám định số 321/QĐ – ĐCSKT – MT, trưng cầu Phòng PC 09 – Công an tỉnh S để giám định chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 97/KL-KTHS, ngày 22/12/2023 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: "Mẫu ký hiệu H gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,29 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,57 gam loại Methamphetamine".
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn L khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 20/12/2023, bị cáo đi bộ từ nhà ở bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La ra đường Quốc lộ 6 đón xe buýt đi đến khu vực tổ A, phường Q, thành phố S để tìm mua ma túy để sử dụng, đến nơi bị cáo xuống xe đi bộ và dùng điện thoại di động gọi cho Nguyễn Anh T1 có số thuê bao là 0987678437 để hỏi mua ma túy của T1 với số tiền 400.000,đ và T1 đã đồng ý, cả hai thỏa thuận bằng hình thức L chuyển tiền qua tài khoản Ngân hàng cho T1, bị cáo đã vào cửa hàng V1 gần đường rẽ vào trường Đại học T3 để
chuyển tiền vào tài khoản Ngân hàng thương mại cổ phần Q có số 4004081994 mang tên Nguyễn Viết C1, số tài khoản này do T1 cung cấp cho L, sau khi giao dịch chuyển tiền xong, theo chỉ dẫn qua điện thoại của T1, bị cáo đến lấy gói ma túy ở khu vực cột điện gần số nhà 187 gần cổng Bệnh viện Q1, thuộc tổ A, phường C. Lấy được ma túy bị cáo cất vào túi quần bên trái phía trước đang mặc rồi đón xe buýt đến khu vực tổ A, phường Q để tìm nơi sử dụng, đến nơi bị cáo xuống xe đi bộ vào ngõ dân sinh thì bị tổ công tác kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo L, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh người bán ma túy cho L là Nguyễn Anh T1, trú tại bản Tà Xa, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, tuy nhiên qua kết quả điều tra tại xã C, huyện M không có bản Tà Xa, cũng không có ai tên Nguyễn Anh T1.
Kiểm tra điện thoại của bị cáo L, có số điện thoại đã liên lạc mua ma túy với L là số thuê bao 0987678437, quá trình điều tra đã xác định đây là số thuê bao mang tên Nguyễn Viết T2, sinh ngày 04/8/1994, trú tại bản Mứn Đ, xã C, nhưng hiện nay T2 không có mặt tại nơi cư trú, gia đình không liên lạc được với T2, không biết T2 hiện nay đang ở đâu, làm gì, cơ quan điều tra đã ra Quyết định tìm người số 539/QĐ - ĐCSKT – MT đối với Nguyễn Viết T2 nhưng chưa có kết quả để tiếp tục điều tra.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 205/CT-VKSTP, ngày 29/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Hoàng Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn L tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn L từ 15 đến 18 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn do công an thành phố S phát hành bên trong có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc; Mẫu lưu ký hiệu L = 0,28 gam; 01 sim thuê bao số 0968049629.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50 màu đen, đã cũ qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo L 01 thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Hoàng Văn L.
Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn L nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, qua xét hỏi bị cáo Hoàng Văn L khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát thành phố S đã truy tố đối với bị cáo. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Ngày 20/12/2023, Hoàng Văn L có hành vi tàng trữ 0,57 gam Methamphetamine với mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi phạm tội của các bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ: Lời khai nhận tội của bị cáo; Biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng thu giữ là 0,57 gam Methamphetamine; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Kết luận giám định số 97/KL-KTHS, ngày 22/12/2023 của phòng K Công an tỉnh S; Biên bản kiểm tra điện thoại, sao kê các tin nhắn tại điện thoại; Biên bản kiểm tra tài khoản chuyển tiền; Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận điều tra.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hoàng Văn L đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố và Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự, khung hình phạt có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ chính sách quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy và hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Xét cần xử phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và nhằm răn đe phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo L chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự, do đó cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo L không có việc làm, tài sản có giá trị, thu nhập không ổn định, việc áp dụng hình phạt bổ sung khó có khả năng thi hành, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án: Đối với 0,28 gam Methamphetamine còn lại sau khi trừ giám định, ký hiệu L; 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc, xét là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, do đó cần tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định tại điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50 màu đen, đã cũ qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim thuê bao số 0968049629. Xác định đây là tài sản của bị cáo, bị cáo đã sử dụng chiếc điện thoại này vào hành vi phạm tội liên lạc mua ma túy, đây là công cụ, phương tiện phạm tội, do đó cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Hoàng Văn L. Xác định đây là giấy tờ nhân thân của bị cáo, không tịch thu mà cần trả lại cho bị cáo quản lý, sử dụng.
[6] Đối với người bán ma túy cho bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo và số điện thoại đã liên lạc trao đổi mua bán ma túy với bị cáo, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh người bán ma túy cho L là Nguyễn Anh T1, trú tại bản Tà Xa, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, tuy nhiên qua kết quả điều tra tại xã C, huyện M không có bản Tà Xa, cũng không có ai tên Nguyễn Anh T1. Kiểm tra điện thoại của bị cáo L, có số điện thoại đã liên lạc mua ma túy với L là số thuê bao 0987678437, quá trình điều tra đã xác định đây là số thuê bao mang tên Nguyễn Viết T2, sinh ngày 04/8/1994, trú tại bản Mứn Đ, xã M, nhưng hiện nay
T2 không có mặt tại nơi cư trú, gia đình không liên lạc được với T2, không biết T2 hiện nay đang ở đâu, làm gì, cơ quan điều tra đã ra Quyết định tìm người số 539/QĐ - ĐCSKT – MT, ngày 16/4/2024 đối với Nguyễn Viết T2 nhưng chưa có kết quả để tiếp tục điều tra.
- Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S tiếp tục truy tìm, điều tra, xác minh đối với Nguyễn Viết T2 về việc có dấu hiệu liên quan đến hành vi bán ma túy cho bị cáo L, nếu có đủ căn cứ thì xử lý theo quy định của pháp luật.
[7] Kiểm tra số tài khoản 4004081994 tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q, đã xác định chủ tài khoản là Nguyễn Viết C1, sinh năm 1967, trú tại bản Mứn Đ, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La, là bố của Nguyễn Viết T2, ông C1 đã đăng ký tài khoản ngân hàng trên bằng số điện thoại 0336.723.xxx, qua kiểm tra tài khoản trên xác định ngày 20/12/2023 đã giao dịch nhận số tiền 400.000,đ, tuy nhiên ông C1 không sử dụng tài khoản này và không liên lạc, trao đổi mua bán ma túy với bị cáo L, do đó không liên quan đến hành vi phạm tội với bị cáo.
[8] Về án phí: Do hành vi phạm tội của mình nên cần buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn L tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn L 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2023.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Long.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì công văn do công an thành phố S phát hành còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì ghi: Vật chứng lưu kho vụ Hoàng Văn L, tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 20/12/2023, bên trong gồm có: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc; Mẫu lưu ký hiệu L = 0,28 gam".
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50 màu đen, có số IMEI khe 1: 356646105112106 và IMEI khe 2: 356647105112104, lắp 01 sim thuê bao số 0968049629, điện thoại đã cũ qua sử dụng, không kiểm tra máy móc bên trong.
- Trả lại cho bị cáo L 01 thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Hoàng Văn L.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/6/2024 giữa Cơ quan cảnh
sát điều tra Công an thành phố S, tỉnh Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 điều 21, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hoàng Văn L phải chịu 200.000,đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: áp dụng điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/8/2024)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Lương Anh |
Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 100/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn Long - Tàng trữ trái phép chất ma túy
