|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 100/2024/HS-ST Ngày 27-5-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Môn.
- Bà Hoàng Thị Hồng.
Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 18/2024/HSST-QĐ ngày 04/3/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 27/2024/HSST-QĐ ngày 04/4/2024, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 510/TB-TA ngày 26/04/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thành S, sinh năm 1973
Quê quán: thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
Nơi thường trú: Khu phố L, phường Q, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Nguyễn Khánh H, sinh năm 19 và bà Đoàn Hồng N, sinh năm 19; Gia đình có 03 anh chị em; bị cáo là con út; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị N1, sinh năm 1983 và có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 216/2024/HSST ngày 15/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 16 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Bị cáo hiện đang bị tạm giam trong vụ án hình sự khác.
(Có mặt tại phiên tòa)
* Bị hại: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1965 (Có mặt).
Địa chỉ: Số nhà E, đường L, tổ dân phố V, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1970 (Vắng mặt).
- Anh Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1993 (Vắng mặt).
Đều địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
* Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Khánh H, sinh năm 1945 (Có mặt).
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1960 (Vắng mặt).
Đều địa chỉ: Số nhà D, đường T, tổ E, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyễn Thành S, sinh năm 1973, ở khu phố L, phường Q, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh là đối tượng không có nghề nghiệp. Năm 2012, S đến nhà bố đẻ là Nguyễn Khánh H, sinh năm 1945, ở số nhà D, đường T, phường N, thành phố B thì gặp ông Nguyễn Bá L, sinh năm 1962, trú tại tổ dân phố Đ, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang là người quen của ông H đến chơi. S nói chuyện và tự giới thiệu với ông L là có quan hệ với nhiều lãnh đạo cấp cao trong quân đội nên có thể xin được suất đi học cử tuyển sỹ quan tại các trường trong quân đội nhưng phải chi phí tiền, ai có nhu cầu đi học thì S sẽ xin cho.
Ông Nguyễn Bá L có quen biết ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1965, trú tại số nhà E, đường L, phường H, thành phố B do hai người từng công tác với nhau tại công ty S1 ở xã B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Một thời gian sau, ông L kể lại cho ông K biết về việc Nguyễn Thành S nói có thể xin được suất đi học cử tuyển tại các trường trong Quân đội. Thời điểm này, ông K có cháu là Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1993, trú tại tổ dân phố T, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang đã thi đại học nhưng không đỗ (anh T1 gọi ông K là bác ruột). Do vậy, ông K nhờ ông L đặt vấn đề với S giúp anh T1 đi học trường Q. Sau đó, ông K nói chuyện với T1 và ông Nguyễn Văn T là bố anh T1 thì hai người đều muốn nhờ xin cho anh T1 đi học. Do vậy, ông K nhờ ông L sắp xếp hẹn gặp S để trao đổi trực tiếp.
Khoảng tháng 8/2012, ông K và ông L hẹn gặp Nguyễn Thành S tại quán C trên đường T, phường N, thành phố B. Tại đây, S giới thiệu đang làm trong quân đội, có nhiều mối quan hệ và có thể xin được xuất học cử tuyển của lục quân hoặc hậu cần trong quân đội. Ông K tin tưởng nên đặt vấn đề nhờ S xin cho Nguyễn Ngọc T1 đi học trường Q. S đồng ý và nói chi phí hết 400.000.000 đồng. Ông K nói gia đình không đủ khả năng lo số tiền nhiều như vậy và chỉ lo được 300.000.000 đồng. S nói với ông K để S về hỏi lại ý kiến lãnh đạo rồi sẽ trả lời. Sau đó mọi người ra về. Ngày hôm sau, S gọi điện thoại cho ông K nói do quen biết nên đồng ý sẽ xin cho anh T1 đi học cử tuyển ngành hậu cần quân đội với mức tiền 300.000.000 đồng. S và ông K thống nhất ông K đưa trước cho S 200.000.000 đồng, số tiền 100.000.000 đồng còn lại khi nào anh T1 có quyết định nhập học sẽ thanh toán nốt. Sau đó, ông K thông tin lại cho ông T biết để chuẩn bị tiền đưa cho S.
Buổi sáng ngày 25/8/2012, ông T đến nhà ông K đưa cho ông K 03 cây vàng SJC 9999 trị giá thời điểm đó là 132.000.000 đồng kèm theo hồ sơ xin học của anh T1, số tiền còn lại bị thiếu thì ông T nhờ ông K giúp bỏ ra để đủ 200.000.000 đồng đưa cho S. Sau đó, ông K gọi điện thoại hẹn S đến nhà ông K để đưa tiền và hồ sơ của anh T1. Khoảng 15 giờ cùng ngày, S đến nhà ông K, lúc này ông L cũng đang có mặt ở đây. Ông K đưa cho S 03 cây vàng SJC 9999 cùng 68.000.000 đồng tiền mặt và hồ sơ của T1. Tại đây, S viết giấy biên nhận với nội dung S nhận của ông K 68.000.000 đồng và 03 cây vàng SJC 9999, tạm tính là 200.000.000 đồng; số tiền trên được dùng vào việc để lo xuất đi học cho cháu ông K, hẹn đến ngày 16/9/2012 có giấy báo nhập học thì ông K có trách nhiệm đưa nốt cho S 100.000.000 đồng như đã thỏa thuận. S ký vào mục “người nhận tiền”, ông L ký mục “người làm chứng việc giao nhận tiền” trong giấy biên nhận. S đưa giấy biên nhận cho ông K giữ rồi ra về. S khai trên đường về đã vứt hồ sơ xin học của T1 đi sau đó vào cửa hàng vàng tại thành phố B bán 03 cây vàng SJC 9999 được 132.000.000 đồng sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Sau đó, S điện thoại cho ông K bảo chuyển nốt 100.000.000 đồng còn lại nhưng ông K không đồng ý và nói khi nào anh T1 có giấy gọi đi học thì sẽ chuyển tiền. Quá thời hạn không thấy T1 có giấy báo nhập học nên ông K gọi điện cho S nhưng không liên lạc được. Ông K và ông L đến nhà S thì được gia đình S thông báo S đã bỏ nhà đi và không rõ địa chỉ. Ông Nguyễn Khánh H là bố S hứa sẽ trả lại tiền cho ông K. Do tin tưởng và nể nang nên ông K chưa làm đơn trình báo. Ngày 19/7/2016 do gia đình S không có khả năng trả tiền nên ông K làm đơn trình báo Công an thành phố B và giao nộp giấy biên nhận (bản gốc) đề ngày 25/8/2012 do Nguyễn Thành S viết.
Đối với Nguyễn Thành S sau khi chiếm đoạt tiền, vàng của ông Nguyễn Văn K thì bỏ trốn. Do chưa lấy được lời khai của S nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã tạm đình chỉ giải quyết. Ngày 02/5/2023, Cơ quan điều tra xác minh xác định S bị Cơ quan CSĐT Công an quận C, thành phố Hà Nội khởi tố, tạm giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nên đã ra quyết định phục hồi để giải quyết.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thành S và của ông Nguyễn Bá L trên giấy biên nhận đề ngày 25/8/2012.
Kết luận giám định số 1101/KL-KTHS ngày 15/6/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Chữ ký, chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A – trừ chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Bá L dưới mục “Người làm chứng việc giao nhận tiền – (Ký)”) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thành S trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M5) là do cùng một người ký, viết ra.
Kết luận giám định số 1827/KL-KTHS ngày 29/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Chữ ký mang tên Nguyễn Bá L dưới các mục “Người làm chứng việc giao nhận tiền”, “Người khai” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2) so với chữ ký của Nguyễn Bá L dưới mục “Người khai ký tên” trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M1, M2, M3) là do cùng một người ký ra.
Cơ quan điều tra yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B định giá đối với 03 cây (lượng) vàng SJC 9999. Kết luận định giá tài sản số 194/KL-HĐ ngày 27/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 03 cây (lượng) vàng SJC 9999 tại thời điểm ngày 25/8/2012 trị giá 132.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn K yêu cầu Nguyễn Thành S bồi thường 200.000.000 đồng. Đến nay, bị cáo S chưa bồi thường cho người bị hại. Ông T không yêu cầu ông K phải trả lại 3 cây vàng SJC 9999.
Đối với ông Nguyễn Bá L đã bị chết ngày 23/7/2017 nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý.
Tại Bản cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 23 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu, nhất trí bồi thường cho ông Nguyễn Văn K 200.000.000 đồng.
Bị hại ông Nguyễn Văn K trình bày: Thông qua bạn của ông là ông Nguyễn Bá L, ông có quen biết bị cáo S. Ông được biết bị cáo S đã từng xin cho 2 người theo học tại trường quân đội, là người quen của ông L nên ông đã tin tưởng nhờ bị cáo S xin học giúp cháu ông. Bị cáo S nói chi phí xin học hết 300.000.000 đồng nên ông đã giao cho bị cáo 03 cây vàng và 68.000.000 đồng (tương đương 200.000.000 đồng). Quá thời gian nhập học của các trường đại học mà cháu ông vẫn chưa có giấy báo trúng tuyển nên ông có yêu cầu bị cáo S trả lại tiền nhưng bị cáo S không trả lại ông. Nay ông đề nghị bị cáo S trả lại ông 200.000.000 đồng và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Người làm chứng ông Nguyễn Khánh H trình bày: Ông là bố bị cáo, không biết nội dung thoả thuận giữa bị cáo S, ông L, ông K như thế nào. Ông là người có công với cách mạng nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Những người tham gia tố tụng tại phiên tòa nhất trí và không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành S từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự, Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Văn K số tiền 200.000.000 đồng.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo, bị hại ông K không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo nhận thức được hành vi của bản thân là sai, xin được hưởng mức án nhẹ nhất để có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên trong hồ sơ đã có lời khai những người này nên căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.
[3] Về hành vi của bị cáo theo nội dung bản cáo trạng truy tố: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Thành S dùng thủ đoạn gian dối tự giới thiệu với ông Nguyễn Văn K, trú tại số nhà E, đường L, phường H, thành phố B là có thể xin được xuất đi học cử tuyển sỹ quan trong trường của quân đội nhưng phải chi phí tiền. Ông K tưởng thật nên đặt vấn đề nhờ S xin học cho cháu ruột là Nguyễn Ngọc T1 vào học trong trường Q thì được S đồng ý và nói chi phí là 300.000.000 đồng. Ngày 25/8/2012, Nguyễn Thành S đến nhà ông Nguyễn Văn K. Tại đây, ông K đưa cho S 3 cây vàng SJC 9999 trị giá 132.000.000 đồng (do ông Nguyễn Văn T là bố anh T1 đưa cho trước đó) và tự bỏ ra thêm 68.000.000 đồng tiền mặt để nhờ S xin học cho anh T1. S viết giấy biên nhận và hứa hẹn sẽ xin cho anh T1 đi học. Sau khi nhận tiền, vàng do ông K đưa cho, S không xin học cho anh T1 như đã hứa hẹn mà chiếm đoạt rồi bỏ trốn. S chiếm đoạt tài sản tổng trị giá 200.000.000 đồng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ.
[4] Về tính chất hành vi phạm tội bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu và hoang mang trong quần chúng nhân dân cũng như gây mất trật tự trị an xã hội. Do vậy, cần xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự, áp dụng hình phạt tù giam có thời hạn để đảm bảo giáo dục bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng. Do đó, cần áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[6] Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, nhận thấy mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đề nghị là phù hợp nên cần chấp nhận.
[7] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Văn K số tiền 200.000.000 đồng.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, khoản 1 Điều 589 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136; khoản 1 và khoản 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành S 07 (bảy) năm 03(ba) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo phải bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Văn K số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng).
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phương Thảo |
Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 27/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 100/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành S - LĐCĐTS
