|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 100/2023/HS-ST Ngày: 26/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: | Bà Nguyễn Thị Thanh Bình. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Dương Thanh Bình. |
| Ông Ngô Thanh Lý. |
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Thanh Việt là thư ký TAND tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Hợp – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 300/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Đặng Văn Q,
sinh ngày: 29 tháng 10 năm 1968 tại Bình Định; nơi cư trú: 178 V, KP. Dương Liễu T, TT. B, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Thợ chụp ảnh; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; con ông: Đặng Xuân B, sinh năm 1933 (chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1935; vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1974, con: 03 người, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bùi Thanh S - sinh năm: 1973; trú tại: P, M, Huyện P, tỉnh Bình Định. (Có mặt).
- Hồ Bá H1 - sinh năm: 1974; trú tại: Thôn V, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định. (Vắng mặt).
- Đào Công Q1 - sinh năm: 1970; trú tại: khu phố L, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định. (Vắng mặt).
- Đặng Văn P - sinh năm: 1983; trú tại: Đ, thôn V, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định. (Vắng mặt).
- Đặng Văn T1 - sinh năm: 1969; trú tại: Thôn L, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định. (Vắng mặt).
- Đặng Quốc R - sinh năm: 1986; trú tại: Dương Liễu B, thị trấn B, huyện P, tỉnh Bình Định. (Vắng mặt).
- Lê Phúc T2 - sinh năm: 1979; trú tại: P, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định. (Có mặt).
- Thái Ngọc G - sinh năm: 1983; trú tại: Xóm A, thôn P, M, huyện P, tỉnh Bình Định. (Vắng mặt).
- Trương Ngọc T3 - sinh năm: 1984; trú tại: M, huyện P, tỉnh Bình Định. (Có mặt).
- Nguyễn Đình Q2 - sinh năm: 1981; trú tại: F N, Dương Liễu T4, thị trấn B, huyện P, tỉnh Bình Định. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đặng Văn Q mở tiệm chụp ảnh lấy tên “Nhật Quang” có đăng kinh doanh. Để hoạt động kinh doanh nghề chụp ảnh Q đã mua các loại máy móc, thiết bị như: máy chụp ảnh, máy vi tính, máy Scan, máy in màu, máy ép plastic...Trong quá trình hành nghề, Q có quen biết một số cá nhân đặt vấn đề làm giả các loại giấy tờ. Để làm được các loại giấy tờ giả, Q chụp hình lại các loại giấy tờ thật và S1 đưa lên máy vi tính, rồi dùng phần mềm photoshop chỉnh sửa kích thước xe ô tô và ngày tháng năm cấp, in màu, ép plastic rồi đưa cho các đối tượng đặt làm để sử dụng. Từ cuối năm 2019 đến cuối năm 2022, Đặng Văn Q đã làm giả 16 loại giấy tờ, tài liệu của cơ quan nhà nước cho 11 đối tượng đặt làm giả thu lợi bất chính 6.250.000đ; cụ thể như sau:
- Làm giả giấy tờ cho Trần Ngọc A.
- Làm giả giấy tờ cho Bùi Thanh S.
- Làm giả giấy tờ cho Hồ Bá H1.
- Làm giả giấy tờ cho Đào Công Q3.
- Làm giả giấy tờ cho Đặng Văn P.
- Làm giả giấy tờ cho Đặng Văn T1.
- Làm giả giấy tờ cho Đặng Quốc R.
- Làm giả giấy tờ cho Lê Phúc Trương .
- Làm giả giấy tờ cho Thái Ngọc G.
- Làm giả giấy tờ cho Trương Ngọc T3.
- Làm giả giấy tờ cho Nguyễn Đình Q2.
Trần Ngọc A là tài xế điều khiển xe ô tô khách biển kiểm soát 77B-02637. Xe ô tô này, được Sở Giao thông Vận tải tỉnh B cấp phù hiệu xe chạy hợp đồng, có thời hạn sử dụng đến tháng 07/2023. Trần Ngọc A đem phù hiệu xe đến nhờ Đặng Văn Q làm giả 01 phù hiệu xe có thông tin tương tự, nhằm mục đích tăng thời hạn sử dụng đến tháng 07/2024. Q đồng ý nhận làm và được Anh trả 50.000đ. Sau khi làm xong, Q đưa cho Trần Ngọc A đem về cất giữ nhưng chưa sử dụng thì bị thu giữ.
Bùi Thanh S là chủ sở hữu 02 xe ô tô khách biển số 77B-01897 và 77B-00573. Khoảng tháng 3/2023, Bùi Thanh S đã đem 02 phù hiệu xe chạy hợp đồng đến nhờ Đặng Văn Q làm giả phù hiệu xe để tăng thời hạn xe chạy hợp đồng. Sau khi làm xong, S trả tiền công 150.000đ mỗi xe. S sử dụng dán lên kính trước của xe ô tô để điều khiển chở khách.
Hồ Bá H1 là chủ sở hữu xe ô tô tải biển số 77C-11653, được Cục Đăng kiểm cấp giấy chứng nhận kiểm định xe để chở hàng. Vào tháng 12/2022, H1 nhờ Q làm giả 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô để tăng kích thước thùng xe để vận chuyển hàng. Q đồng ý và chỉnh sửa theo yêu cầu của H1, được H1 trả 500.000đ. H1 chưa sử dụng thì bị phát hiện thu giữ.
Đào Công Quốc là chủ sở hữu xe ô tô tải biển số 77C-10746, xe ô tô này đã thế chấp cho Ngân hàng để vay tiền. Ngân hàng cấp Giấy biên nhận thế chấp kèm theo bản phô tô Giấy chứng nhận đăng ký xe cho Đào Quốc C có thời hạn đến tháng 11/2022. Đến hạn, Đ Công Quốc chưa tất toán được khoản vay trên nên nhờ Đặng Văn Q làm giả để chỉnh sửa thời hạn giá trị giấy biên nhận đến tháng 01/2023. Q nhận làm và chỉnh sửa theo yêu cầu của Q3, được Q3 trả 350.000đ. Đào Công Quốc cất giữ chưa sử dụng thì bị thu giữ.
Đặng Văn P là tài xế lái xe ô tô cho Công ty TNHH T5. Để có đủ thủ tục giấy tờ ra vào Nhà máy L, P đặt Đặng Văn Q làm giả 03 loại giấy tờ “Giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy”,“Giấy chứng nhận đào tạo nghiệp vụ bảo vệ môi trường”, và “ Giấy chứng nhận huấn luyện an toàn kỹ thuật vận chuyển hàng công nghiệp nguy hiểm”. Q nhận làm và P đưa 1.500.000 đồng/03 giấy. P sử dụng các giấy tờ giả trên để Nhà máy lọc dầu Dung Quất cấp thẻ ra vào cổng.
Đặng Văn T1 đặt Đặng Văn Q làm giả Giấy chứng nhận đào tạo nghiệp vụ bảo vệ môi trường và Giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy cho Hồ Thị Mộng N và Trần Công Đ1 để đủ điều kiện bán xăng dầu theo quy định. Q nhận làm giả và được trả tiền công là 1.500.000 đồng. Đặng Văn T1 cất giữ ở cửa hàng xăng dầu chưa sử dụng thì bị cơ quan điều tra thu giữ.
Đặng Quốc R thế chấp giấy tờ xe ô tô tải biển số 77H-00184 cho Ngân hàng để vay tiền. Ngân hàng ghi giấy biên nhận thế chấp thời hạn đến tháng 01/2023. Hết hạn thế chấp nên R đặt Q làm giả một Giấy biên nhận thế chấp, chỉnh sửa thời hạn đến ngày 29/02/2023. Sau khi làm xong R không đến nhận mà đến Ngân hàng làm thủ tục gia hạn thời hạn vay và được cấp giấy biên nhận thế chấp mới. Cơ quan điều tra không thu giữ được giấy biên nhận giả này.
Lê Phúc T2 nhờ Đặng Văn Q làm giả giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 77C-19267 để hạ giới hạn khối lượng vận tải hàng hóa của xe từ 21500/21500kg thành 17900/17900kg. Q nhận làm giả và được Lê Phúc T2 trả tiền công là 600.000 đồng.
Thái Ngọc G nhờ Đặng Văn Q làm giả phù hiệu xe chạy hợp đồng của xe ô tô khách biển số 77F-00155. Q nhận làm giả và được Thái Ngọc G trả tiền công là 150.000 đồng. Thái Ngọc G, chưa sử dụng và đã làm mất.
Trương Ngọc T3 là chủ xe ô tô tải biển kiểm soát 77C-18179 được Cơ quan Nhà nước cấp Giấy chứng nhận kiểm định và tem nộp phí sử dụng đường bộ. Khi lưu hành sợ xảy ra vi phạm bị các cơ quan chức năng thu giữ, nên Trương Ngọc T3 nhờ Đặng Văn Q làm giả 01 tem nộp phí sử dụng đường bộ và 01 Giấy chứng nhận kiểm định giả thì Q đồng ý với giá là 1.150.000đ. Trương Ngọc T3 cất giữ chưa sử dụng và bị thất lạc.
Nguyễn Đình Q2 là chủ xe tải biển kiểm soát 77C-08879, được cơ quan chức năng cấp phù hiệu xe để lưu thông trên đường. Tuy nhiên, Nguyễn Đình Q2 sợ trong quá trình vận chuyển chở hàng xảy ra vi phạm sẽ bị cơ quan chức năng thu giữ nên Nguyễn Đình Q2 đã mang phù hiệu xe ô tô tải biển số 77C-08879 đến nhờ Đặng Văn Q làm giả thêm 01 phù hiệu để dự phòng. Q đồng ý làm và Q2 trả cho Q 150.000đ. Nguyễn Đình Q2 cất giữ chưa sử dụng và bị thất lạc.
Ngày 25/4/2023, Phòng K - Công an tỉnh B giám định và kết luận đối với 10 loại tài liệu mà Cơ quan điều tra đã thu giữ đều là giả.
Tại bản cáo trạng số 112/CT-VKSBĐ-P2 ngày 17/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Đặng Văn Q về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm a khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định luận tội và đề nghị:
Áp dụng:
Điểm a khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Văn Q từ 02 năm 6 tháng đến 03 năm tù.
Về vật chứng:
Tịch thu sung công 01 CPU máy tính, 01 máy Scan, 01 máy ép plastic, 01 máy in màu. Trả lại cho bị cáo 01 laptop.
Tiếp tục tạm giữ của bị cáo Đặng Văn Q số tiền 6.250.000 đồng tiền thu lợi bất chính.
Bị cáo không bào chữa, không tranh luận, xin giảm hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ nên có đủ cơ sở xác định:
Bị cáo Đặng Văn Q đăng ký kinh doanh nghề chụp ảnh nên đã mua các loại máy móc, thiết bị để hành nghề. Trong quá trình hành nghề, một số cá nhân quen biết đặt vấn đề nhờ bị cáo làm giả giấy tờ vì bị cáo có máy móc thiết bị và biết cách làm giả giấy tờ. Vì lợi ích vật chất nên bị cáo đã nhận làm giả giấy tờ theo yêu cầu. Để làm được các loại giấy tờ giả, bị cáo chụp hình lại các loại giấy tờ thật và S1 đưa lên máy vi tính, rồi dùng phần mềm photoshop chỉnh sửa nội dung theo yêu cầu rồi in màu, ép plastic và đưa cho các đối tượng đặt làm để sử dụng. Từ cuối năm 2019 đến cuối năm 2022, bị cáo đã làm giả 16 loại giấy tờ, tài liệu của cơ quan nhà nước, thu lợi bất chính 6.250.000đ. Do đó Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo Đặng Văn Q về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến lĩnh vực quản lý hành chính của Nhà nước nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên xét thấy bị cáo nhất thời phạm tội, bị cáo làm theo yêu cầu của người khác và làm trên cơ sở có giấy tờ thật, bị cáo chỉ chỉnh sửa nội dung. Các giấy tờ bị cáo làm giả chỉ mang tính chất đối phó chứ không mang tích chất giá trị tài sản để đi lừa đảo, do đó tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo ở mức thấp.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo Đặng Văn Q có nhân thân tốt.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Đặng Văn Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo Q tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính là 6.250.000 đồng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Gia đình bị cáo có công cách mạng, là cháu liệt sĩ và cháu của Bà mẹ Việt Nam anh hùng; bị cáo đang bị bệnh lao phải điều trị thường xuyên; nhân thân bị cáo tốt, có nơi cư trú rõ ràng, công việc ổn định. Xét thấy bị cáo có đủ điều kiện được áp dụng Điều 65 BLHS nên HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện chữa bệnh.
[5] Về xử lý vật chứng:
Các máy móc thiết bị cơ quan điều tra đã thu giữ gồm: 01 CPU máy tính, 01 máy Scan, 01 máy ép plastic, 01 máy in màu, 01 laptop là công cụ để bị cáo hành nghề chụp ảnh, nhưng bị cáo có sử dụng để làm giấy tờ giả nên tịch thu sung công 01 máy Scan. Trả lại cho bị cáo 01 CPU máy tính, 01 máy in màu, 01 laptop, 01 máy ép plastic.
Vật chứng thu giữ là tài liệu Đặng Văn Q làm giả lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Tịch thu của bị cáo Đặng Văn Q 6.250.000 đồng tiền thu lợi bất chính.
[6] Về án phí:
Bị cáo phải chịu theo quy định của BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn Q phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS; Điều 106 của BLTTHS:
- + 01 phù hiệu xe hợp đồng 77B-02637;
- + 01 phù hiệu xe hợp đồng 77B-00573;
- + 01 phù hiệu xe hợp đồng 77B-01897;
- + 01 giấy chứng nhận kiểm định xe 77C-11653;
- + 01 giấy biên nhận thế chấp và bản phô tô Giấy chứng nhận đăng ký xe 77C-10746;
- + 01 Giấy chứng nhận đào tạo nghiệp vụ bảo vệ môi trường, 01 Giấy chứng nhận huấn luyện an toàn kỹ thuật vận chuyển hàng công nghiệp nguy hiểm, 01 Giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy đứng tên Đặng Văn P;
- + 01 Giấy chứng nhận đào tạo nghiệp vụ bảo vệ môi trường, 01 Giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy đứng tên Hồ Thị Mộng N;
- + 01 Giấy chứng nhận đào tạo nghiệp vụ bảo vệ môi trường đứng tên Trần Công Đ1.
- Về án phí: Bị cáo Đặng Văn Q phải chịu 200.000đ án phí HSST.
- Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn Q 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đặng Văn Q cho UBND thị trấn B, huyện P, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Tịch thu sung công của bị cáo Đặng Văn Q: 01 máy Scan.
Trả lại cho bị cáo Đặng Văn Q: 01 CPU máy tính, 01 máy ép plastic, 01 máy in màu, 01 laptop.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/11/2023 giữa Cơ quan CSĐT công an tỉnh B và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Định).
- Vật chứng thu giữ là tài liệu Đặng Văn Q làm giả lưu hồ sơ vụ án gồm:
Tịch thu của bị cáo Đặng Văn Q 6.250.000 đồng tiền thu lợi bất chính. (Theo Ủy nhiệm chi Ký hiệu: C4-02a/NS lập ngày 20/11/2023 tại Kho bạc Nhà nước tỉnh B).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh Bình |
Bản án số 100/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 100/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đặng Văn Q đăng ký kinh doanh nghề chụp ảnh nên đã mua các loại máy móc, thiết bị để hành nghề. Trong quá trình hành nghề, một số cá nhân quen biết đặt vấn đề nhờ bị cáo làm giả giấy tờ vì bị cáo có máy móc thiết bị và biết cách làm giả giấy tờ. Vì lợi ích vật chất nên bị cáo đã nhận làm giả giấy tờ theo yêu cầu. Để làm được các loại giấy tờ giả, bị cáo chụp hình lại các loại giấy tờ thật và S1 đưa lên máy vi tính, rồi dùng phần mềm photoshop chỉnh sửa nội dung theo yêu cầu rồi in màu, ép plastic và đưa cho các đối tượng đặt làm để sử dụng. Từ cuối năm 2019 đến cuối năm 2022, bị cáo đã làm giả 16 loại giấy tờ, tài liệu của cơ quan nhà nước, thu lợi bất chính 6.250.000đ.
