Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN H

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 100 /2023/HS-ST

Ngày 06 tháng 12 năm 2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H – BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sự

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Trứ

Ông Trương Đức Lâm

Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Đông - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa trực tuyến xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 98/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo: Họ và tên: Hoàng Văn B; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1969; Nơi cư trú: Thôn X, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 7/10; Họ và tên cha: Hoàng Văn Bảo, đã chết; Họ và tên mẹ: Ngô Thị Sợi, đã chết; Họ và tên vợ: Ngô Thị Liên, đã chết; Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1992; Anh, chị em: Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; Tiền án, Tiền sự: Không có; Nhân thân: Tại Bản án số 107/HSST ngày 22/7/1993 của TAND tỉnh Hà Bắc xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản của công dân” và 04 năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/1998. Chấp hành xong án phí và bồi thường ngày 16/9/1999. Tại Quyết định số 1988/QĐ-UB ngày 02/12/2004 của UBND tỉnh Bắc Giang quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 24 tháng. Chấp hành xong ngày 06/12/2006. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 14/QĐ ngày 26/01/2018 của Công an huyện H xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC ngày 02/7/2021 của Công an huyện H xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/9/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang.

(Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang)

2.2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1974 (vắng mặt)
  • Nơi cư trú: thôn Tam Đồng, xã Đoan Bái, huyện H, tỉnh Bắc Giang
  • - Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985 (vắng mặt)
  • Nơi cư trú: thôn Chùa, xã Lương Phong, huyện H, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 15 phút ngày 23/9/2023 tại thôn Cẩm Trung, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Tổ công tác Công an huyện H phối hợp cùng Công an xã X kiểm tra hành chính phát hiện Nguyễn Văn T, sinh năm 1974 ở thôn Tam Đồng, xã Đoan Bái, huyện H, tỉnh Bắc Giang đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Thu giữ tại mặt đất phía trước mặt Tú có 01 mảnh giấy bạc trên một mặt có bám dính chất màu nâu; 02 đoạn ống nhựa màu trắng một đầu hàn kín, một đầu để hở; 01 bật lửa ga màu đỏ. Tất cả được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu “KT” Tú khai nhận: Bản thân Tú là người nghiện ma tuý nên khoảng hơn 06 giờ ngày 23/9/2023, Tú nhờ anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985 ở thôn Chùa, xã Lương Phong, huyện H, tỉnh Bắc Giang chở đến nhà Hoàng Văn B, sinh năm 1969 ở Thôn X, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Tại nhà Bình, Tú đưa cho Bình 200.000 đồng tiền ma tuý thì được Bình bán cho cho 02 đoạn ống nhựa màu trắng, được hàn kín hai đầu chứa ma tuý heroine. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Tú tiếp tục nhờ anh Nguyễn Văn T chở đến khu vực cánh đồng thuộc thôn Cẩm Trung, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Tại đây, Tú lấy số ma tuý mua của Bình ra để sử dụng. Khi vừa sử dụng hết số ma tuý trên thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện hành vi sử dụng ma tuý của Tú.

Tiến hành kiểm tra điện thoại của anh Nguyễn Văn T, Cơ quan điều tra phát hiện 01 đoạn video có độ dài 18 giây ghi lại hành vi của Bình bán ma tuý cho Tú.

Cơ quan điều tra cho Tú và anh Nguyễn Văn T nhận diện đối tượng, kết quả: Tú và anh Nguyễn Văn T đều nhận diện được Hoàng Văn B, sinh năm 1969 ở Thôn X, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang là người đã bán ma tuý cho Tú.

Hồi 12 giờ 40 phút ngày 24/3/2023, Cơ quan điều tra tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoàng Văn B: Thu giữ tại tay phải của Bình 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ, bên trong có 08 đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu, trong đó có 01 đoạn màu trắng, 04 đoạn màu xanh, 03 đoạn màu cam, bên trong các đoạn đều chứa chất cục bột màu trắng nghi là ma tuý (được niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu “GN”); Thu giữ tại túi quần sau bên phải Bình đang mặc số tiền 500.000 đồng.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Văn B, thu giữ tại góc tường trong buồng ngủ của Hoàng Văn B: 01 dao lam loại CROMA; 01 kéo kim loại, chuôi bọc nhựa màu đen, ghi; 18 đoạn ống nhựa, mỗi đoạn đều được hàn kín một đầu, một đầu để hở, trong đó có 10 đoạn màu xanh, 03 đoạn màu trắng, 05 đoạn màu cam; 01 bật lửa ga màu đỏ.

Tại Cơ quan điều tra, Bình khai nhận: Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 23/9/2023, Bình đi xe ôm đến khu vực phố Thanh Xuyên, phường Trung Thành, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên và mua của một người không rõ tên tuổi, địa chỉ 1.400.000 đồng tiền ma tuý thì được người này đưa cho 01 gói giấy bên trong chứa ma tuý heroine. Sau đó, Bình mang ma tuý về nhà và dùng kéo, dao lam và bật lửa để chia nhỏ ma tuý vào các đoạn ống nhựa. Lúc này, Nguyễn Văn T đến nhà Bình và mua 200.000 đồng ma tuý thì Bình đưa cho Tú 02 đoạn ống nhựa màu trắng đều chứa ma tuý heroine. Sau khi Tú đi về, Bình cho các đoạn ống nhựa chứa ma tuý vào 01 túi nilon màu trắng và cất giấu vào túi quần để sử dụng dần, nếu có ai hỏi mua thì Bình sẽ bán. Sau đó, Cơ quan điều tra tiến hành giữ người khẩn cấp và tiến hành khám xét nơi ở của Bình và thu giữ số ma tuý trên.

Tiến hành kiểm tra việc sử dụng ma tuý của Bình và Tú, kết quả: Bình và Tú dương tính với chất ma tuý.

Tại kết luận giám định số 1791/KL-KTHS ngày 27/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận:

“5.1. Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “KT” được niêm phong gửi giám định:

Trên 01 (một) mảnh giấy bạc có tìm thấy chất ma túy bám dính, loại Heroine (Heroin), không xác định được khối lượng mẫu.

5.2. Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “GN” được niêm phong gửi giám định:

Trong 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ:

+ Chất cục bột màu trắng đựng trong 08 (tám) đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu (trong đó có: 04 (bốn) đoạn màu xanh, 01 (một) đoạn màu trắng, 03 (ba) đoạn màu cam) đều là ma túy, loại Heroine (Heroin), tổng khối lượng 0,507 gam.

(Heroine (Heroin) có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tủy và tiền chất).

Tại Kết luận giám định số 1908/KL-HTHS ngày 11/10/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: “Không phát hiện dấu vết cắt ghép nội dung hình ảnh trong file video có tên “WWZC5879.MP4", dung lượng: 2,73MB; thời lượng 00 phút 18 giây, được lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định”.

* Tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận về hành vi phạm tội của mình như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H trình bày lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:

-Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Hoàng Văn B từ 3 năm đến 3 năm 6 tháng tù giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/9/2023.

- Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập nên không bị áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

-Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tổ tụng hình sự:

-Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì kí hiệu “ KT” đựng vật chứng đã niêm phong, hoàn lại sau giám định; 01 dao lam loại Croma; 01 kéo kim loại, chuôi bọc nhựa màu đen, ghi; 02 bật lửa ga màu đỏ; 20 đoạn ống nhựa đều được hàn kín một đầu, một đầu để hở ( trong đó: 10 đoạn màu xanh, 5 đoạn màu trắng, 05 đoạn màu cam)

Sung công nhà nước số tiền 200.000 đồng do bị cáo Bình bán ma tuý cho Tú mà có;

-Trả lại cho bị cáo: Số tiền 300.000 đồng, nhưng tạm giữ số tiền 300.000 đồng, để đảm bảo cho việc thi hành án.

-Về trách nhiệm dân sự: Không có.

-Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của UBTVQH: Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, tại giai đoạn điều tra và truy tố đã có lời khai, nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh: Lời khai của bị cáo Hoàng Văn B tại phiên tòa hôm nay phù hợp với diễn biến hành vi phạm tội, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết quả giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xét, thấy đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 23/9/2023, tại nhà ở của Hoàng Văn B, sinh năm 1969 ở Thôn X, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Hoàng Văn B đã có hành vi bán ma tuý Heroine cho Nguyễn Văn T, sinh năm 1974 ở thôn Tam Đồng, xã Đoan Bái, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoàng Văn B, thu giữ 0,507 gam ma tuý, loại Heroine. Bình khai mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Văn B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Bắc Giang truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Do ham chơi, không chịu lao động, bị cáo đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trị an xã hội. Ma túy là hiểm họa cho xã hội, làm sói mòn đạo đức và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Xét thấy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập nên không bị áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

[6] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Hoàng Văn B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử thấy cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[7] Xét về về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

-Về nhân thân: Bị cáo Hoàng Văn B có nhân thân xấu, do trước đó bị cáo đã bị xét xử về các hành vi khác, bản thân lại nghiện ma túy, mà không lấy đó làm bài học, nay lại tiếp tục phạm tội.

-Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hoàng Văn B không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[8] Đối với người đã bán ma tuý cho Bình, do Bình không biết rõ tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.

[9] Đối với ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1974 ở thôn Tam Đồng, xã Đoan Bái, huyện H, tỉnh Bắc Giang có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, kiểm tra Tú dương tính với chất ma tuý. Do không xác định được số ma tuý Tú đã sử dụng nên Công an huyện H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 118/QĐ ngày 26/10/2023 đối với Tú về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

[10] Đối với anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985 ở thôn Chùa, xã Lương Phong, huyện H, tỉnh Bắc Giang có hành vi chở Tú đến nhà Hoàng Văn B để mua ma tuý và chở Tú đến khu vực cánh đồng thuộc thôn Cẩm Trung, xã X, huyện H, tỉnh Bắc Giang để sử dụng ma tuý. Tuy nhiên, anh Nguyễn Văn T không biết hành vi của Tú nên không phạm tội.

[11] Về trách nhiệm dân sự: Không có

[12] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • -Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì kí hiệu “ KT” đựng vật chứng đã niêm phong, hoàn lại sau giám định; 01 dao lam loại Croma; 01 kéo kim loại, chuôi bọc nhựa màu đen, ghi; 02 bật lửa ga màu đỏ; 20 đoạn ống nhựa đều được hàn kín một đầu, một đầu để hở ( trong đó: 10 đoạn màu xanh, 5 đoạn màu trắng, 05 đoạn màu cam)
  • Sung công nhà nước số tiền 200.000 đồng do bị cáo Bình bán ma tuý cho Tú mà có;
  • -Trả lại cho bị cáo: Số tiền 300.000 đồng, nhưng tạm giữ số tiền 300.000 đồng, để đảm bảo cho việc thi hành án.

[13] Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và quy định tại Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;

[14] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về trách nhiệm hình sự:

    Căn cứ Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Hoàng Văn B 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (24/9/2023).

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • -Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì kí hiệu “ KT” đựng vật chứng đã niêm phong, hoàn lại sau giám định; 01 dao lam loại Croma; 01 kéo kim loại, chuôi bọc nhựa màu đen, ghi; 02 bật lửa ga màu đỏ; 20 đoạn ống nhựa đều được hàn kín một đầu, một đầu để hở ( trong đó: 10 đoạn màu xanh, 5 đoạn màu trắng, 05 đoạn màu cam)
    • Sung công nhà nước số tiền 200.000 đồng do bị cáo Bình bán ma tuý cho Tú mà có;
    • -Trả lại cho bị cáo: Số tiền 300.000 đồng, nhưng tạm giữ số tiền 300.000 đồng, để đảm bảo cho việc thi hành án.
  3. Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và quy định tại Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016. Buộc bị cáo Hoàng Văn B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện H;
  • - Công an huyện H;
  • - Chi cục THADS huyện H;
  • - Trại tạm giam;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Sự

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2023/HS-ST ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H – TỈNH BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm (tội mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 100/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H – TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hoàng văn bình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger