|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 100/2024/HS-ST Ngày 26 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quýnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đỗ Thị Lan - Chức vụ: nguyên Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Cẩm Phả;
2. Ông Nguyễn Thái Duy – Chức vụ: Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thành phố Cẩm Phả.
Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Thắng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST-HS ngày 09/8/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lê Hoàng S, tên gọi khác: không; sinh ngày 27/5/1995, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ C, khu Đ, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: tổ F, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Tuấn A và bà Trần Thị Thanh T; vợ con: chưa; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: từ ngày 16/12/2008 đến ngày 01/8/2010 và từ ngày 02/11/2010 đến ngày 01/7/2012 đi chấp hành 02 Quyết định áp dụng biện pháp xử lý đưa vào Trường G (nay là thành phố) Cẩm Phả tại Trường G1 – Cục C; ngày 20/8/2013, Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 14/3/2016 chấp hành xong bản án; bị cáo bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 02/5/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố C, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Trọng H, tên gọi khác: không; sinh ngày 22/01/2007 (phạm tội khi mới 17 tuổi 02 tháng 9 ngày), tại K, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: tổ F, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn D và bà Phạm Thị T1; vợ con: chưa; tiền án, tiền sự: không; nhân than: ngày 08/4/2022 Công an thành phố cẩm Phả xử phạt hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” về hành vi đánh anh Nguyễn Gia B; ngày 09/4/2022 Công an thành phố C xử phạt hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” về hành vi đánh anh Nguyễn Triệu Đ; từ ngày 17/4/2022 đến ngày 02/6/2022 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 01 ngày 17/4/2022 của UBND phường C; ngày 13/7/2022 Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng số 02, Cục C; ngày 19/4/2024, Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả xử phạt 15 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” (thực hiện hành vi phạm tội ngày 15/10/2023), thời hạn tù tính từ ngày đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam 03/4/2024, hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Trọng H là: ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1961 và bà Phạm Thị T1, sinh năm 1965 (là bố mẹ nuôi của bị cáo); cùng nơi cư trú: tổ F, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trọng H là bà Phạm Thị T1 (mẹ nuôi của bị cáo H), đều có mặt tại phiên toà.
* Bị hại: anh Trần Văn H1, sinh năm: 1993. Nơi cư trú: tổ H, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, có đơn xin vắng mặt tại phiên toà.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Hoàng Văn Đ1, sinh năm: 1992; nơi thường trú: tiểu khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ở: tổ A, khu A, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, có đơn xin vắng mặt tại phiên toà.
- - Anh Đặng Minh T2, sinh năm: 1973; nơi cư trú: tổ A, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên toà.
- - Cháu Đinh Gia H2, sinh ngày 25/3/2008 và chị Phạm Thị T3, sinh năm: 1985; cùng nơi cư trú: tổ B, khu E, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; cùng nơi ở: tổ B, khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Người đại diện hợp pháp của Đinh Gia H2: chị Phạm Thị T3, có đơn xin vắng mặt tại phiên toà.
- + Cháu Vũ Như T4, sinh ngày 19/11/2007; người đại diện hợp pháp cho Vũ Như T4 là anh Vũ Như Đ2, sinh năm 1980; cùng nơi thường trú: tổ E, khu Đ, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; cùng nơi ở: tổ C, khu L, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, có đơn xin vắng mặt tại phiên toà.
- + Anh Trần Văn H3, sinh năm 1975, nơi cư trú: tổ dân phố H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt tại phiên toà.
- + Chị Trần Thị Thanh T, sinh năm: 1971. Nơi cư trú: tổ C, khu Đ, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên toà.
- Người làm chứng:
- + Chị Nguyễn Thị Huyền T5, các anh: Lưu Ngọc P, Tô Văn T6, Hà Tiến D1, đều vắng mặt.
- + Cháu Lê Trung Đ3, sinh ngày 28/11/2007; người đại diện hợp pháp chị Lê Phương A1, đều vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Hoàng S và Nguyễn Trọng H cư trú cùng phường nên quen biết nhau, do không có tiền ăn tiêu, khoảng 01 giờ 20 phút ngày 31/3/2024, S gọi điện rủ H đi trộm cắp thì H đồng ý. S đón và chở H bằng xe mô tô nhãn hiệu Wave, kiểm soát (BKS) 20B2-111.48 (mượn từ trước của bạn là Vũ Như T4) đi đến phòng trọ của anh Hoàng Văn Đ1 tại tổ A, khu A, phường C, thành phố C, thấy không có người trông coi S đã mở cửa, cùng H vào trộm cắp 06 chiếc bếp gas, mỗi người bê 03 bếp ra ngoài mang đi cất giấu (03 cái giấu tại khu đất thuộc tổ B, khu A, phường C, thành phố C; 03 bếp mang về giấu tại nơi ở của S). Sau đó S tiếp tục rủ H đi trộm cắp ở xưởng sản xuất nội thất của anh Trần Văn H1 ở tổ C, khu D, phường C, thành phố C, S cầm theo 02 chiếc đèn pin, 01 chiếc kìm cộng lực (bọc trong quần vải bò cũ màu xanh), 02 bao dứa, 01 túi đựng đồ (dạng túi thợ điện), dây cao su. S phân công H đứng trước cửa xưởng cảnh giới, dùng đèn pin chiếu vào camera để tránh bị ghi hình còn S dùng kìm cộng lực cắt khóa, mở cửa vào trộm cắp: 03 máy khoan pin, 01 sạc pin máy khoan, 01 máy khoan điện, 01 máy khoan bê tông, 01 máy hàn kim loại, 01 máy cắt sắt, 02 máy ép hơi nén khí, 01 máy cắt nhựa cho vào 02 bao dứa, mang ra ngoài cất giấu rồi S gọi điện cho Đinh Gia H2 để mượn xe mô tô BKS Wave BKS 14M1-060.93. Sau khi mượn được xe, S điều khiển xe mượn của anh T4, H điều khiển xe mượn của H2 đến nơi cất giấu tài sản trộm cắp được buộc lên yên sau xe rồi cùng chở về nhà S cất giấu. Đến 10 giờ cùng ngày, S gọi điện thoại liên hệ và bán cho anh Đặng Minh T2 (người chuyên thu mua đồ cũ) những tài sản trộm cắp được của anh H1 với giá 3.900.000 đồng (S giữ lại 01 máy nén khí nhãn hiệu ETOP). Còn 06 bếp gas trộm cắp của anh Đ1 thì S bán cho 01 người thu mua đồng nát (không rõ lai lịch, địa chỉ) được 900.000 đồng. S chia cho H 1.000.000 đồng và trả xe cho anh T4, đưa anh T4 50.000 đồng, cho anh H2 100.000 đồng để đổ bù lượng xăng H đã sử dụng.
Số tài sản mua được, anh T2 đem về cửa hàng chụp ảnh đăng bán trên trang mạng xã hội facebook, còn anh H1 sau khi phát hiện bị mất tài sản đã đi tìm thì phát hiện tại cửa hàng của anh T2 lên đã trình báo Công an thành phố C.
Ngày 03/4/2024 bị cáo Nguyễn Trọng H đến Cơ quan Điều tra để đầu thú và bị bắt tạm giữ, tạm giam; ngày 02/5/2024, Cơ quan Điều tra giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Hoàng S. Cơ quan Điều tra đã thu giữ các vật chứng: chị Nguyễn Thị Huyền T5 (bạn gái ở cùng nhà với S) giao nộp 01 máy nén khí nhãn hiệu ETOP và 01 kìm cộng lực; anh T2 giao nộp: 02 máy khoan pin Makita, 01 máy sạc pin Makita, 01 máy khoan điện Makita, 01 máy khoan bê tông PEFA ZIC, 01 máy hàn Jasic, 01 máy cắt sắt Crown, 01 máy ép hơi Kamatsu, 01 máy cắt nhựa Jetman và 01 máy khoan pin Toyoma; anh H1 giao nộp 01 khóa cửa đã bị cắt đứt phần móc khóa; chị Phạm Thị T3 (mẹ Đinh Gia H2) và anh Vũ Như Đ2 (bố của Vũ Như T4) đã giao nộp 02 xe mô tô BKS 14M1-060.93 và 20B2-111.48; thu giữ của H 01 điện thoại iphone XS gắn 01 sim.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 81/KL-HĐĐGTX ngày 10/4/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, kết luận: 03 máy khoan pin, 01 sạc pin máy khoan, 01 máy khoan điện, 01 máy khoan bê tông, 01 máy hàn kim loại, 01 máy cắt sắt, 02 máy ép hơi nén khí, 01 máy cắt nhựa của anh H1 bị chiếm đoạt có tổng trị giá 5.650.000 đồng.
Bản cáo trạng số: 1308/CT-VKSCP ngày 09/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo Lê Hoàng S và Nguyễn Trọng H về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hoàng S1 khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án đã nêu, bị cáo thừa nhận biết bị cáo H là người chưa thành niên nhưng vào rạng sáng ngày 31/3/2024 vẫ rủ bị cáo H đi trộm cắp tài sản của anh Đ1 và anh H1. Sau khi trộm cắp được đã mang đi bán để lấy tiền ăn tiêu và còn chia cho: H 1.000.000 đồng, T4 50.000 đồng và H2 100.000 đồng, chiếc điện thoại liên lạc với bị cáo H để rủ đi phạm tội bị cáo đã bán đi lấy tiền ăn tiêu, quá trình đi khỏi địa phương bị cáo không thực hiện hành vi phạm tội nào khác, khi mượn xe mô tô của Vũ Như T4 và Đinh Gia H2 bị cáo không nói cho biết việc đi trộm cắp tài sản, không bàn bạc với chị T5 về việc phạm tội và cất giấu tài sản trộm cắp được. Sau khi phạm tội bị cáo đã vất 02 bao dứa, 01 túi đựng đồ (dạng túi thợ điện), dây cao su và 02 đèn pin đi và không tìm thấy. Bị cáo thừa nhận đã có nhân thân xấu đúng như phần lý lịch đã nêu và đồng ý với bản kết luận định giá tài sản về giá trị tài sản trộm cắp được. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đã động viên mẹ bị cáo bồi thường cho anh Hoàng Văn Đ1 và anh Đặng Minh T2, bị cáo không yêu cầu Vũ Như T4 và Đinh Gia H2 trả lại số tiền đã đưa để đổ xăng. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không bị oan.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trọng H khai nhận hành vi phạm tội cụ thể như sau: khoảng 01 giờ 20 phút ngày 31/3/2024 bị cáo S1 gọi điện rủ bị cáo đi trộm cắp tài sản, bị cáo đồng ý đi cùng và đã cùng với bị cáo S1 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Đ1 và anh H1 đúng như nội dung vụ án đã nêu. Quá trình trộm cắp tài sản, bị cáo S1 là người khởi xướng, phân công nhiệm vụ cho bị cáo, bị cáo S1 có chia cho số tiền 1.000.000 đồng. bị cáo đồng ý với kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá về giá trị các tài sản đã trộm cắp. Sau khi phạm tội, do biết hành vi bị phát hiện bị cáo đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra để đầu thú. Bị cáo thừa nhận có nhân thân xấu, hiện đang phải chấp hành bản án về tội “gây rối trật tự nơi công cộng” của Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả nhưng vẫn động viên mẹ nuôi (bà Phạm Thị T1) cùng với mẹ bị cáo S1 bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không bị oan.
Người đại diện hợp pháp và là người bào chữa của bị cáo Nguyễn Trọng H có mặt tại phiên tòa có quan điểm: việc truy tố và xét xử đối với bị cáo H là đúng, tuy nhiên bị cáo phạm tội ở lứa tuổi chưa thành niên, nhận thức hạn chế, thiếu sự quan tâm của bố mẹ, hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, xử bị cáo H với mức án thấp nhất để bị cáo được yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội. Bà T1 đã cùng với mẹ bị cáo S1 bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bà không yêu cầu bị cáo phải trả lại.
Anh Trần Văn H1 là bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại hồ sơ vụ án và quan điểm thể hiện tại đơn xin vắng mặt cụ thể như sau: anh bị mất các tài sản như 01 máy nén khí nhãn hiệu ETOP, 02 máy khoan pin Makita, 01 máy xạc pin Makita, 01 máy khoan điện Makita, 01 máy khoan bê tông PEFA ZIC, 01 máy hàn Jasic, 01 máy cắt sắt Crown, 01 máy ép hơi Kamatsu, 01 máy cắt nhựa J và 01 máy khoan pin Toyoma vào đêm ngày 31/3/2024, đến nay anh đã nhận lại các tài sản nói trên nên không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường dân sự cho anh. Về phần hình phạt đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Anh Hoàng Văn Đ1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vắng mặt tại phiên tòa và có lời khai tại hồ sơ vụ án thể hiện: vào ngày 01/4/2024 anh phát hiện bị mất 06 chiếc bếp gas đôi, có mặt kính màu đen, anh không nhớ chủng loại, nhãn hiệu, anh mua lại và để ở phòng trọ từ giữa năm 2023. Sau khi cơ quan Công an thông báo về việc bắt giữ đối tượng trộm cắp tài sản thì gia đình các bị cáo đã bồi thường cho anh số tiền 700.000 đồng, anh không đề nghị gì khác.
Anh Đặng Minh T2 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vắng mặt tại phiên tòa, có lời khai tại hồ sơ vụ án thể hiện: anh kinh doanh cửa hàng thu mua đồ cũ, ngày 31/3/2024 anh có mua của bị cáo S1 một số máy móc gồm: 02 máy khoan pin Makita, 01 máy xạc pin Makita, 01 máy khoan điện Makita, 01 máy khoan bê tông PEFA ZIC, 01 máy hàn Jasic, 01 máy cắt sắt Crown, 01 máy ép hơi Kamatsu, 01 máy cắt nhựa J và 01 máy khoan pin Toyoma, hai bên thoả thuận giá mua bán là 3.900.000 đồng. Sau khi trả đủ số tiền này anh đã chuyển số máy móc mua về cửa hàng rồi đăng lên trang Facebook cá nhân để rao bán thì anh Trần Văn H1 có liện hệ và nói rằng số máy móc trên là tài sản của anh H1 bị trộm cắp và Cơ quan Công an đến làm việc. Anh không biết đó là tài sản do bị cáo S1 trộm cắp mà có. Gia đình bị cáo S1 đã đền bù cho anh số tiền 3.000.000 đồng, anh không đề nghị gì khác.
Cháu Đinh Gia H2 và chị Phạm Thị T3 (mẹ của Đinh Gia H2) là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, có lời khai tại hồ sơ vụ án và đơn xin xét xử vắng mặt thể hiện: cháu H2 có mối quan hệ xã hội với bị cáo S1, khoảng 03 giờ ngày 31/3/2024 bị cáo S1 có nhắn tin hỏi mượn xe máy đi chở ít đồ, H2 đồng ý cho mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 14M1-060.93 (xe đăng ký của chị Phạm Thị T3). Đến 04 giờ cùng ngày thì bị cáo S1 trả xe, chiều ngày 01/4/2024 H2 nhận được số tiền 100.000 đồng của bị cáo S1 chuyển khoản trả tiền xăng, H2 đã tiêu hết và không biết việc bị cáo S1 dùng xe đi trộm cắp tài sản. Chị T3 có lời khai khẳng định chiếc xe mô tô Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 14M1-060.93 chị mua lại nhưng chưa làm thủ tục sang tên, chị không biết việc H2 tự ý cho bạn mượn xe vào ngày 31/3/2024, chị T3 đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C trả lại chiếc xe.
Cháu Vũ Như T4 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vắng mặt tại phiên tòa, có lời khai tại hồ sơ vụ án và đơn xin xử án vắng mặt thể hiện: cháu T4 có mối quan hệ xã hội với bị cáo Lê Hoàng S, ngày 31/3/2024 T4 có cho bị cáo S mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 20B2-111.48 (chủ sở hữu hợp pháp là anh Trần Văn H3 thông qua anh Bùi Tiến D2 để mua trả góp hộ cho anh Vũ Như Đ2), đến khoảng 13 giờ ngày 01/4/2024 T4 đến nhà bị cáo S nhận lại xe, bị cáo S đã đưa cho T4 số tiền 50.000 đồng (cho tiền đổ xăng), số tiền này T4 đã đi đổ xăng hết, T4 không biết việc bị cáo S dùng xe đi trộm cắp tài sản.
Anh Trần Văn H3 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vắng mặt tại phiên tòa, có lời khai tại hồ sơ vụ án thể hiện: chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 20B2-111.48 anh mua lại của anh Lưu Ngọc P sau đó anh bán trả góp cho anh Hà Tiến D1 với giá 15.500.000 đồng nhưng đến nay anh D1 chưa trả hết số tiền 10 triệu đồng trả góp và tiền lãi theo cam kết nên chiếc xe thuộc quyền sở hữu của anh, anh đề nghị trả lại chiếc xe để anh bán thanh lý thu hồi vốn. Anh H3 đã được Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 20B2-111.48.
Chị Trần Thị Thanh T là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có lời khai tại phiên toà: chị là mẹ đẻ của bị cáo Lê Hoàng S, chị đã bỏ ra số tiền 3.000.000 đồng cùng với bà T1 bỏ ra 700.000 đồng (mẹ nuôi của bị cáo Nguyễn Trọng H) để đền bù cho anh T2 và anh Đ1, việc đền bù là hoàn toàn tự nguyện, chị không yêu cầu bị cáo S trả lại số tiền này.
Liên quan đến chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 20B2-111.48, những người làm chứng anh Lưu Ngọc P, anh Hà Tiến D1, anh Vũ Như Đ2 và chị Nguyễn Thị N có lời khai phù hợp với nguồn gốc của chiếc xe như lời khai của anh Trần Văn H3, anh Đ2 đồng ý trả lại xe cho anh H3. Người làm chứng là chị Nguyễn Thị Huyền T5, vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại hồ sơ vụ án thể hiện: chị và Lê Hoàng S có quan hệ yêu đương và sinh sống cùng nhau, sáng ngày 31/3/2024 khi ngủ dậy chị thấy ở ngoài phòng khách có chiếc máy ép hơn nén khí nhãn hiệu Etop, 01 chiếc kìm cộng lực được bọc trong một chiếc quần dài, ngoài ra còn nhiều thùng, bao bên trong có đựng nhiều đồ vật máy móc khác, những đồ vật này do S mang về chị không biết tên gọi cụ thể là gì, chị không để ý vì đây là việc riêng của S.
Người làm chứng là cháu Lê Trung Đ3 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại tại hồ sơ vụ án thể hiện: sáng ngày 31/3/2024 cháu Đ3 đến nhà bị cáo S chơi, bị cáo S nhờ Đ3 bê đồ giúp từ trong nhà ra xe ô tô bán tải, Đ3 không biết đó là tài sản do bị cáo S trộm cắp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố: bị cáo Lê Hoàng S, Nguyễn Trọng H về tội “Trộm cắp tài sản” theo theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17, 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Hoàng S;
- + Xử phạt Lê Hoàng S từ 07 (bảy) đến 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 02/5/2024.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 6 Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101; Điều 17, 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Trọng H;
- + Xử phạt Nguyễn Trọng H từ 04 (bốn) đến 05 (năm) tháng tù, tổng hợp với hình phạt 15 (mười lăm) tháng tù theo bản án số 36/2024/HSST ngày 19/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả về tội “Gây rối trật tự công cộng”, buộc bị cáo phải chấp hành từ 19 (mười chín) đến 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (03/4/2024).
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo và xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động thu giữ của bị cáo H; tịch thu tiêu huỷ 01 sim điện thoại thu giữ của bị cáo H, 01 chiếc khoá bị cắt do anh H1 giao nộp và 01 kìm cộng lực thu giữ tại nhà bị cáo S
Tại phần tranh luận: người đại diện hợp pháp đồng thời là người bào chữa của bị cáo Nguyễn Trọng H có quan điểm: việc truy tố và xét xử đối với bị cáo H là đúng, tuy nhiên bị cáo phạm tội ở lứa tuổi chưa thành niên, nhận thức còn hạn chế, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, xử bị cáo H với mức án thấp nhất.
- Bị cáo H nhất trí với quan điểm của người bào chữa, bị cáo S không tranh luận với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên và không tranh luận với nhau. Các bị cáo đều thấy ân hận với hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo yên tâm cải tạo tốt, thành người có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người đại diện hợp pháp và đồng thời là người bào chữa cho bị cáo H, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đều không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với: Biên bản tiếp nhận nguồn tin tội phạm lập hồi 14 giờ 15 phút ngày 01/4/2024; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Bản ảnh hiện trường; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Bản ảnh vật chứng; Bản ảnh xác định địa điểm; Biên bản và bản ảnh thực nghiệm điều tra; Biên bản về việc trả lại đồ vật; Bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 45 ngày 30/7/2020; Ngoài ra lời khai của bị cáo còn phù hợp với lời khai của bị hại và những người làm chứng cùng với các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 03 giờ ngày 31/3/2024, tại tổ C, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Lê Hoàng S và Nguyễn Trọng H đã cắt khoá cửa để trộm cắp 03 máy khoan pin, 01 sạc pin máy khoan, 01 máy khoan điện, 01 máy khoan bê tông, 01 máy hàn kim loại, 01 máy cắt sắt, 02 máy ép hơi nén khí, 01 máy cắt nhựa trong xưởng sản xuất nội thất của anh Trần Văn H1 với tổng trị giá tài sản S và H trộm cắp là 5.650.000 đồng, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đúng như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đã truy tố đối với bị cáo nên chấp nhận lời luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác đã được pháp luật bảo vệ, mà còn xâm phạm đến trật tự công cộng, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản, gây bất bình trong xã hội. Các bị cáo đều ý thức được tài sản của người khác là bất khả xâm phạm nhưng do thiếu rèn luyện, lười lao động nên đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhằm mục đích đem bán để lấy tiền ăn tiêu, vì vậy hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải xử lý nghiêm để cải tạo giáo dục riêng các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng: cả hai bị cáo đều có nhân thân xấu đúng như phần lý lịch của các bị cáo đã nêu nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm lại tiếp tục phạm tội chứng tỏ bị cáo thiếu ý thức rèn luyện bản thân. Bị cáo S là người trưởng thành nhưng không gương mẫu, biết bị cáo H chưa đủ tuổi thành niên nhưng vẫn rủ bị cáo H đi phạm tội trộm cắp tài sản nên bị cáo S phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình “xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử cũng xem xét, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tài sản trộm cắp đã được trả lại cho người bị hại, tích cực tác động để gia đình bồi thường khắc phục hậu quả, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, bị cáo H sau khi phạm tội đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C để đầu thú nên được hưởng tình tiết quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo H khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi - là người chưa thành niên, nên khi xem xét quyết định hình phạt cần cân nhắc, áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự quy định về đường lối xét xử đối với người chưa thành niên phạm tội, xử phạt các bị cáo ở mức nhẹ hơn so với mức áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương tự. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị về mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, cần bắt các bị cáo cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
Đối với bị cáo H, trước khi bị đưa ra xét xử về hành vi “Trộm cắp tài sản” còn bị Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử về tội “gây rối trật tự công công”, hiện đang phải chấp hành bản án số 36/2024/HSST ngày 19/4/2024 với mức án là 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị giam giữ (03/4/2024) nên căn cứ vào khoản 1 Điều Điều 56 Bộ luật Hình sự, cần phải tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành mức án của cả 02 bản án.
[5] Hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo S có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo H chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo trộm cắp đã kịp thời được thu hồi để trả lại cho bị hại, các tài sản thu giữ của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng đã được trả lại theo đúng quy định, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Vật chứng vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu hồi vật chứng là 03 máy khoan pin, 01 sạc pin máy khoan, 01 máy khoan điện, 01 máy khoan bê tông, 01 máy hàn kim loại, 01 máy cắt sắt, 02 máy ép hơi nén khí, 01 máy cắt nhựa đã trả lại cho anh H1; 02 chiếc xe mô tô BKS: 14M1-060.93 thu giữ của chị Phạm Thị T3 và 20B2-111.48 thu giữ của anh Vũ Như Đ2 cũng đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp nên Hội đồng xét xử không xem xét. Ngoài ra còn thu giữ của bị cáo H 01 điện thoại di động, bị cáo sử dụng vào việc liên hệ với bị cáo S để đi phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước; anh H1 giao nộp 01 ổ khoá cửa bị cắt, 01 chiếc sim điện thoại thu giữ của bị cáo H đều không còn giá trị sử dụng và 01 kìm cộng lực bị cáo S dùng làm công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ. Số tiền bị cáo S, H, cháu Vũ Như T4, cháu Đinh Gia H2 có được từ việc bán tài sản trộm cắp cho anh Đặng Minh T2 do gia đình các bị cáo đã bồi thường và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì khác nên không buộc các bị cáo, cháu T4 và cháu H2 phải nộp lại.
[8] Các vấn đề khác:
Đối với hành vi trộm cắp 06 bếp gas của Lê Hoàng S và Nguyễn Trọng H, S đã bán cho người không rõ lai lịch địa chỉ, do không xác định được nguồn gốc, xuất xứ và thời gian đưa vào sử dụng nên không có cơ sở để định giá.
Đối với Vũ Như T4, Đinh Gia H2 cho bị cáo S mượn xe và được S trả tiền mua xăng; chị Nguyễn Thị Huyền T5 ở cùng với S; anh Đặng Minh T2 mua tài sản của S, nhưng đều không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của S nên không đề cập xử lý.
[9] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa cho bị cáo H, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17, 58 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: bị cáo Lê Hoàng S phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt Lê Hoàng S 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 02/5/2024;
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 6 Điều 91; Điều 98; khoản 1 Điều 101; Điều 17, 58 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Trọng H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt Nguyễn Trọng H 05 (năm) tháng tù, tổng hợp với hình phạt 15 (mười lăm) tháng tù theo bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HSST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả về tội “Gây rối trật tự công cộng”, buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 03/4/2024.
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) ổ khoá Việt Tiệp, phần móc của ổ khoá bị đứt, gẫy; 01 (một) kìm cộng lực dài 01m, tay cầm màu đen bọc bên ngoài quần bò màu xanh; 01 (một) chiếc sim (không xác định số sim) trên sim có 5 dãy số: 8984, 0480, 0092, 2495, 932 thu giữ của bị cáo H.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, tối màu; điện thoại đã qua sử dụng, đã cũ (thu giữ của Nguyễn Trọng H).
Tình trạng vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 151/BB-THA ngày 23/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc các bị cáo Lê Hoàng S, Nguyễn Trọng H mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Án xử sơ thẩm công khai có mặt: các bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa của bị cáo H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Trần Thị Thanh T; vắng mặt: bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Hoàng Văn Đ1, anh Đặng Minh T2; cháu Đinh Gia H2 và chị Phạm Thị T3, cháu Vũ Như T4 và anh Vũ Như Đ2, anh Trần Văn H3. Báo cho biết, người có mặt được quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án; người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã Ký) Nguyễn Thị Quýnh |
Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 100/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ Lê Hoàng S và Nguyễn Trọng H phạm tội: ""Trộm cắp tài sản""
