Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƠN TRẠCH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/HS-ST

Ngày 26 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Vũ Ngọc Hiệp

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Kim Xuyến

Ông Hoài Đức Huệ

- Thư ký Tòa án: Bà Đỗ Đình Linh Chi– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đình Tứ – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Hồ Văn T, sinh năm 1983, tại tỉnh Tiền Giang; Nơi đăng ký thường trú: 174/20/9 P, phường A, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Văn Đ, sinh năm 1964 và bà Tăng Thị Bé P, sinh năm 1964; Bị cáo là con đầu trong gia đình có 02 anh em; Bị cáo có vợ là Phan Thị Thu T1 (sinh năm 1984) và 02 con (lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2017); Tiền sự: Không; Tiền án: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2023, sau đó chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện N (bị cáo có mặt).

2. Đào Hữu B, sinh năm 1988 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: 2 H, Phường A, Quận A; Nơi ở hiện tại: Ấp F, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đào Hữu S, sinh năm 1956 và bà Phan Thị C, sinh năm 1959; Bị cáo là con thứ 03 trong gia đình có 05 chị em; Bị cáo có vợ là Trương Thị Yến N, sinh năm 1986 ( đã ly hôn) và 02 con (con lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2012; Tiền sự: Không; Tiền án: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/12/2023 đến ngày 05/01/2024 được hủy bot tạm giữ, hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo có mặt).

Bị hại: Miễu Bà Cát L

Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai

Người đại diện: Ông Phạm Văn P1, sinh năm 1952

Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 07 giờ ngày 25/12/2023, Hồ Văn T đang ở nhà tại số nhà A đường P, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh thì Trương Ngọc Đ1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Vision màu xám đen, mang biển kiểm soát: 59C1-271.77 đến rủ T xuống huyện N để tìm kiếm tài sản để trộm cắp bán kiếm tiền tiêu xài, T đồng ý. Khi đi qua phà C thì Đ1 và T phát hiện tại “Miễu Bà” gần phà Cát lái không có người trông coi nên dừng xe lại. T đứng ngoài còn Đ1 đi vào khu vực bàn thờ lấy xuống 01 lư hương và 01 bộ chân đèn bằng đồng rồi đi ra ngoài đưa cho T bỏ vào 01 bao tải màu trắng, sau đó T điều khiển xe mô tô chở Đ1 tìm nơi tiêu thụ. Trên đường đi Đ1 gọi điện thoại cho Đào Hữu B và nói với B vừa trộm được đồ vật nêu trên nên hỏi B có mua không thì B trả lời là không, nên Đ1 nói với B cho Đ1 gửi lại nhà B, nếu có ai hỏi mua thì nhờ Bình bán hộ, nếu không bán được thì mấy hôm nữa Đ1 lấy lại. B đồng ý.

Đến khoảng 16 giờ ngày 27/12/2023, T nhận thức thấy hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật nên đến Công an P3, quận B, thành phố Hồ Chí Minh để đầu thú. Công an phường P3, quận B chuyển hồ sơ cùng tang vật đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N để điều tra theo thẩm quyền.

Khoảng 20 giờ cùng ngày, Đào Hữu B đến Cơ quan điều tra Công an huyện N đầu thú. Riêng đối với Trương Ngọc Đ1 đã bỏ trốn.

Tang vật thu giữ gồm có:

  • + 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu xám đen, biển kiểm soát: 59C1-271.77, là tài sản cá nhân của anh Trương Ngọc B1 K, anh K không biết việc Đ1 sử dụng xe đi trộm cắp nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N đã xử lý vật chứng trả lại cho anh K.
  • + 01 lư hương, 02 chân đèn bằng đồng, có tổng trọng lượng 20kg, là tài sản của Hội Miễu Bà Cát L, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N đã xử lý vật chứng trả lại cho ông Phạm Minh P2 đại diện hội trưởng Miễu Bà Cát L.
  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu xám gắn sim nhà mạng Mobiphone thu giữ của Đào Hữu B.
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xám đen, gắn sim nhà mạng Mobiphone; 01 áo khoác dài tay màu đen; 01 quần Jean màu xanh; 01 đôi dép xỏ quai màu xanh; 01 mủ bảo hiểm màu xanh, sọc trắng thu giữ của Hồ Văn T.

Tại Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 03/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N kết luận: 01 bộ Lư đồng dùng để thờ cúng, loại đã qua sử dụng (01 lư hương, 02 chân đèn) giá trị sử dụng còn lại 50%, có giá trị là 7.750.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều không có ý kiến hay khiếu nại gì về các Kết luận định giá tài sản nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số: 90/CT-VKS - NT ngày 26/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai truy tố Hồ Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Đào Hữu B về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

- Về trách nhiệm hình sự:

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt Hồ Văn T từ 06 (sáu) đến 08 (tám) tháng tù.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 323; Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt Đào Hữu B từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên không đặt ra giải quyết.

- Xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu xám thu giữ của Đào Hữu B là phương tiện dùng vào việc phạm tội.
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xám đen thu giữ của Hồ Văn T là phương tiện dùng vào việc phạm tội.

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 sim điện thoại nhà mạng Mobiphone; 01 áo khoác dài tay màu đen; 01 quần Jean màu xanh; 01 đôi dép xỏ quai màu xanh; 01 mủ bảo hiểm màu xanh, sọc trắng thu giữ của Hồ Văn T là phương tiện dùng vào việc phạm tội.
  • + 01 sim điện thoại nhà mạng Mobiphone thu giữ của Đào Hữu B là phương tiện dùng vào việc phạm tội.

- Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với Trương Ngọc Đ1 hiện nay Đ1 đã bỏ trốn khỏi địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N ra Quyết định truy nã số: 717/QĐ-CSHS ngày 12/3/2024 và Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, điều tra bị can số:718,719/QĐ-CSHS ngày 14/3/2024 đối với bị can Trương Ngọc Đ1, khi nào bắt được xử lý sau.

Các bị cáo không có ý kiến gì đối với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch. Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo Hồ Văn T tại phiên tòa: Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo Đào Hữu B tại phiên tòa: Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Về việc vắng mặt của bị hại:

Bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Bị hại đã có lời khai tại hồ sơ, đồng thời bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 292 bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.

[2] Về hành vi của bị cáo: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai bị hại và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có tại hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở xác định:

Vào lúc 07 giờ ngày 25/12/2023, Trương Ngọc Đ1 điều khiển mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Vision màu xám đen, mang biển kiểm soát: 59C1-271.77 chở Hồ Văn T đến “Miễu Bà” thuộc ấp C, xã P, huyện N, tại đây T và Đ1 đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 bộ Lư đồng dùng để thờ cúng, loại đã qua sử dụng (01 lư hương, 02 chân đèn) trị giá 7.750.000 đồng.

Sau khi trộm cắp được Đ1 đã gọi điện cho Đào Hữu B để nhờ B giữ hộ, B biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý.

Đến ngày 27/12/2023, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên T và B đến cơ quan Công an đầu thú. Còn Đ1 đã bỏ trốn.

Từ những phân tích và nhận định như trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

  • - Bị cáo Hồ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • - Bị cáo Đào Hữu B phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[3] Về nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

[3.1] Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt

[3.1] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tội phạm mà bị cáo đã thực hiện là ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội.

Đối với bị cáo Hồ Văn T: Bị cáo là đồng phạm giúp sức tích cực thực hiện hành vi trộm cắp, trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Đối với bị cáo Đào Hữu B: Bị cáo biết rõ tài sản do trộm cắp mà có nhưng không trình báo mà vẫn giữ giùm cho bị cáo T. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo. Tuy nhiên, cũng xét cho hành vi của bị cáo không phải là người trực tiếp trộm cắp, chiếm đoạt tài sản của người khác, mà vì nể cả bạn bè nên bị cáo đã giữ dùm bị cáo T. Tài sản bị cáo chứa chấp có giá trị không lớn và đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; Trong thời gian tại ngoại, bị cáo không có vi phạm gì, thể hiện việc tự cải tạo bản thân tốt. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt phạt tiền theo quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Sau khi thực hiện hành vi, các bị cáo đã đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên không xét.

[7] Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:

  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu xám thu giữ của Đào Hữu B là phương tiện dùng vào việc phạm tội.
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xám đen thu giữ của Hồ Văn T là phương tiện dùng vào việc phạm tội.

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 sim điện thoại nhà mạng Mobiphone; 01 áo khoác dài tay màu đen; 01 quần Jean màu xanh; 01 đôi dép xỏ quai màu xanh; 01 mủ bảo hiểm màu xanh, sọc trắng thu giữ của Hồ Văn T là phương tiện dùng vào việc phạm tội.
  • + 01 sim điện thoại nhà mạng Mobiphone thu giữ của Đào Hữu B là phương tiện dùng vào việc phạm tội.

[8] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo Hồ Văn T, Đào Hữu B mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định;

[9] Đối với Trương Ngọc Đ1 hiện nay Đ1 đã bỏ trốn khỏi địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N ra Quyết định truy nã số: 717/QĐ-CSHS ngày 12/3/2024 và Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, điều tra bị can số:718,719/QĐ-CSHS ngày 14/3/2024 đối với bị can Trương Ngọc Đ1, khi nào bắt được xử lý sau.

[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 136, 260, 292, 298, 299, 326, 327, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  1. Về tội danh:
    1. Tuyên bố bị cáo Hồ Văn T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
    2. Tuyên bố bị cáo Đào Hữu B phạm tội “ Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  2. Về hình phạt:
    1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
      Xử phạt bị cáo Hồ Văn T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2023.
    2. Áp dụng khoản 1 Điều 323; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
      Xử phạt bị cáo Đào Hữu B 10.000.000 đồng.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên không xét.
  4. Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu xám; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xám đen là phương tiện dùng vào việc phạm tội.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 sim điện thoại nhà mạng Mobiphone; 01 áo khoác dài tay màu đen; 01 quần Jean màu xanh; 01 đôi dép xỏ quai màu xanh; 01 mủ bảo hiểm màu xanh, sọc trắng thu giữ của Hồ Văn T là phương tiện dùng vào việc phạm tội.
    • + 01 sim điện thoại nhà mạng Mobiphone thu giữ của Đào Hữu B là phương tiện dùng vào việc phạm tội.

    (Vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02 tháng 4 năm 2024).

  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc các bị cáo Hồ Văn T, Đào Hữu B mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án/.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Nhơn Trạch;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai
  • - Công an huyện Nhơn Trạch;
  • - Chi cục thi hành án DS huyện Nhơn Trạch;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Vũ Ngọc Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH - TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự: trộm cắp tài sản và chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 100/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Trộm cắp tài sản và Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Hồ Văn T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”. Tuyên bố bị cáo Đào Hữu B phạm tội “ Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger