Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VĨNH CHÂU

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/DS-ST

Ngày: 25/7/2024

Về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lâm Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Thái Trung Nghĩa
  • Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa: Ông Âu Hoàng Mến- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 408/2023/TLST-DS, ngày 08 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N;

Địa chỉ trụ sở chính: Số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp: Bà Huỳnh Ngọc T là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền số 318/GUQ-NHNo-VC ngày 25/7/2024) (bà T có mặt).

Địa chỉ: Số D đường N, khóm A, phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Dương T1; sinh năm: 1954 (có mặt)

Địa chỉ: ấp X, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lý Thị B; sinh năm: 1955 (vắng mặt)

    Địa chỉ: ấp X, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

  2. Ông Dương Q; sinh năm: 1981 (vắng mặt)

    Địa chỉ: ấp X, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

  3. Ông Dương P; sinh năm: 1983 (vắng mặt)

    Địa chỉ: ấp X, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 30/9/2023 của nguyên đơn Ngân hàng N cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – bà Huỳnh Ngọc T trình bày:

Ngày 15/05/2020, Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V với Ông Dương T1 đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-202000579. Theo Hợp đồng Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V, Sóc Trăng cho ông Dương T1 vay số tiền 265.000.000 đồng; mục đích vay: Nuôi tôm.; lãi suất 10%/ năm; thanh toán trả lãi hàng quý, trả nợ gốc theo phân kỳ vào ngày 10/01/2021, thời hạn vay là 08 tháng.

Hợp đồng tín dụng trên được bảo đảm bằng Hợp đồng thế chấp sau:

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 06/LH/2017/HĐTC ngày 31/03/2017, kèm theo hợp đồng sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/HĐSĐBS ngày 15/05/2020 được ký kết giữa ông Dương T1, bà Lý Thị B và Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V, Sóc Trăng; tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 122092, có diện tích 22.801m² (loại đất: 1L), thửa số 11, 17, 50; tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp X, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, do Ủy ban nhân dân huyện V (Nay là UBND thị xã V) cấp cho hộ Dương Tưa ngày 03/02/1998.

Tính đến hết ngày 25/7/2024, tổng nợ của ông Dương T1 tại Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V là: 397.941667 đồng (trong đó nợ gốc: 265.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 85.388.889 đồng, nợ lãi quá hạn 47.552.778 đồng).

Ngân hàng N Chi nhánh thị xã V đã nhiều lần làm việc trực tiếp và có văn bản yêu cầu ông Dương T1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên theo Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-202000579 ngày 15/05/2020, yêu cầu ông Dương T1, Bà Lý Thị B thực hiện nghĩa vụ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 06/LH/2017/HĐTC ngày 31/03/2017. Tuy nhiên, tính đến nay, Ông Dương T2 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng N.

Nay ngân hàng N yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc ông Dương T2 và bà Lý Thị B phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N toàn bộ số tiền 397.941667 đồng (trong đó nợ gốc: 265.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 85.388.889 đồng, nợ lãi quá hạn 47.552.778 đồng). Đồng thời, yêu cầu ông Dương T1 và bà Lý Thị B phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-202000579 ngày 15/05/2020, kể từ ngày 26/7/2024 cho đến khi ông Dương T1 và bà Lý Thị B trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N.

Trường hợp Ông Dương T1 và bà Lý Thị B không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản mà hai bên đã ký kết để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn ông Dương T1 trình bày: Ông thừa nhận có vay Ngân hàng N – Chi nhánh thị xã V số tiền nợ gốc 265.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-202000579 ngày 15/05/2020 và thống nhất thanh toán số tiền nợ gốc và lãi suất phát sinh theo hợp đồng. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế khó khăn nên yêu cầu được trả dần số tiền nêu trên.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Lý Thị B trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của ông Dương T1, bà là vợ ông T1, việc ông T1 vay vốn ngân hàng là để phục vụ sinh hoạt và kinh tế trong gia đình nên bà thống nhất cùng ông T1 thanh toán số tiền còn nợ cho ngân hàng nhưng do kinh tế khó khăn nên yêu cầu được trả dần số tiền mà ngân hàng yêu cầu.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Dương T1 và bà Lý Thị B phải trả nguyên đơn Ngân hàng N số tiền 397.941667 đồng (trong đó nợ gốc: 265.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 85.388.889 đồng, nợ lãi quá hạn 47.552.778 đồng) và ông ông T1, bà B phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 26/7/2024 theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp ông Dương T1 và bà Lý Thị B không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Đồng thời quyết định về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí thẩm định đo đạc theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ngân hàng N khởi kiện tranh chấp về hợp đồng tín dụng với bị đơn là ông Dương T1 có địa chỉ tại ấp X, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

[2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lý Thị B, ông Dương Q và ông Dương P đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[3] Về nội dung: Việc thỏa thuận vay tiền của bị đơn ông Dương T1 tại Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-202000579 ngày 15/05/2020 là tự nguyện, bình đẳng nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch dân sự, phù hợp với quy định tại các Điều 116, 117 của Bộ luật dân sự năm 2015, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại các Điều 119, 398, 463 của Bộ luật dân sự năm 2015. Đồng thời, các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn 10%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn là phù hợp với quy định tại Điều 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng. Sau khi các bên ký kết hợp đồng, ông T1 còn nợ lại tiền nợ gốc là 265.000.000 đồng và tiền lãi chưa thanh toán kể từ ngày 23/5/2021 cho đến nay nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ mà hai bên đã ký kết. Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu bị đơn ông Dương T1 thanh toán nợ nhưng ông T1 không thanh toán theo hợp đồng mà hai bên thỏa thuận. Do vậy, bị đơn ông Dương T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, là bên có lỗi trong việc thực hiện các thỏa thuận đã ký kết nên ngân hàng N yêu cầu bị đơn ông Dương T1 phải trả số tiền nợ gốc và nợ lãi tính kể từ ngày ông T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ ngày 23/5/2021 đến ngày xét xử 25/7/2024 số tiền là 397.941667 đồng (trong đó nợ gốc: 265.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 85.388.889 đồng, nợ lãi quá hạn 47.552.778 đồng) và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 26/7/2024 theo lãi suất trong hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-202000579 ngày 15/05/2020 mà hai bên đã ký kết là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Xét về trách nhiệm liên đới: Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Lý Thị B trình bày, bà là vợ ông Dương T1, việc ông T1 vay vốn ngân hàng là để phục vụ sinh hoạt và kinh tế trong gia đình nên bà thống nhất cùng ông T1 thanh toán số tiền còn nợ cho ngân hàng nhưng do kinh tế khó khăn nên yêu cầu được trả dần số tiền mà ngân hàng yêu cầu. Căn cứ vào khoản 1 Điều 27 và khoản 1 Điều 30 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về trách nhiệm liên đới của vợ chồng khi một bên vợ hoặc chồng thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình nên việc Ngân hàng N yêu cầu bà Trịnh Thị B1 liên đới cùng ông Dương T1 trả tiền nợ vay ngân hàng là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N, ông Dương T1 và bà Lý Thị B đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số số 06/LH/2017/HĐTC ngày 31/03/2017, kèm theo hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/HĐSĐBS ngày 15/05/2020, dùng tài sản là thửa số 11, 17, 50 tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp X, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, do Ủy ban nhân dân huyện V (Nay là UBND thị xã V) cấp cho hộ Dương Tưa ngày 03/02/1998 để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Xét thấy, theo biên bản thẩm định tại chỗ đối với 03 thửa đất thế chấp nêu trên thì hiện không có tài sản gì trên đất, toàn bộ 03 thửa đất do hộ ông Dương T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án, tất cả các thành viên trong hộ ông Dương T1 gồm bà Lý Thị B, ông Dương Q và ông Dương P cũng không có phản đối cũng như không có ý kiến gì về việc ông T1 thế chấp quyền sử dụng đất. Mặt khác, Hợp đồng thế chấp 06/LH/2017/HĐTC ngày 31/03/2017, kèm theo hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/HĐSĐBS ngày 15/05/2020 giữa ngân hàng với bị đơn ông Dương T1 và bà Lý Thị B phù hợp theo quy định tại Điều 317, 318 của Bộ luật dân sự 2015, nội dung hợp đồng thế chấp có quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp và bên nhận thế chấp và có đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, nên Hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành.

[6] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp với số tiền là 750.000 đồng, ông Dương T1 và bà Lý Thị B phải chịu theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do nguyên đơn ngân hàng N đã tạm ứng thanh toán nên buộc ông Dương T1 và và Lý Thị B phải trả lại số tiền này cho nguyên đơn.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Dương T1 và bà Lý Thị B phải chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 116, 117, 119, 317, 318, 398, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự.

Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ngân hàng N về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Dương T1.

    Buộc ông Dương T1 liên đới cùng bà Lý Thị B thanh toán cho Ngân hàng N số tiền 397.941667 đồng (trong đó nợ gốc: 265.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 85.388.889 đồng, nợ lãi quá hạn 47.552.778 đồng). Ông Dương T1 và bà Lý Thị B phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 26/7/2024 theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng số 7606-LAV-202000579 ngày 15/05/2020 mà hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ.

  2. Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp ông Dương T1 và bà Lý Thị B không thanh toán hoặc thanh toán không hết nợ, nguyên đơn ngân hàng N được quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lý Thị B, ông Dương Q, ông Dương P có nghĩa vụ cùng với bị đơn ông Dương T1 bàn giao tài sản thế chấp, cụ thể: Thửa đất số 11 (mục đích sử dụng: 1L), diện tích 10.410m², thửa 17 (mục đích sử dụng: 1L), diện tích 8.610m² và thửa 50 (mục đích sử dụng: 1L), diện tích 3.781m² đều thuộc tờ bản đồ số 06 tọa lạc ấp X, xã L, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 122092 do Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân thị xã V, tỉnh Sóc Trăng) cấp cho hộ ông Dương T1 ngày 03/02/1998 để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số số 06/LH/2017/HĐTC ngày 31/03/2017, kèm theo hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/HĐSĐBS ngày 15/05/2020.
  3. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm:
      • - Bị đơn ông Dương T1 và bà Lý Thị B liên đới chịu 19.897.083 đồng.
      • - Nguyên đơn ngân hàng N và P1 triên Nông thôn Việt Nam không phải chịu án phí, hoàn trả cho ngân hàng N và P1 triên Nông thôn Việt Nam số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.123.177 theo biên lai thu số 0000327 ngày 24 tháng 11 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
    2. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ông Dương T1 và bà Lý Thị B phải chịu là 750.000 đồng. Do nguyên đơn ngân hàng N đã đóng tạm ứng số tiền này nên ông Dương T1 và bà Lý Thị B có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng N số tiền 750.000 đồng.
  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Vĩnh Châu;
  • - Phòng KTNV&THATAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/DS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 100/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger