TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG Bản án số: 100/2024/DS-ST Ngày: 25 - 4 - 2024 V/v tranh chấp về hợp đồng tín dụng | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Ngọc Bờ.
- Bà Trương Thị Thu Thủy.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Ngô Thái Trân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Kim Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 269/2023/TLST-DS ngày 18 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2024/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 204/2024/QĐST-DS ngày 05 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
Ngân hàng TMCP K. Địa chỉ trụ sở: Số D P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M, chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trung V, chức vụ: Phó Tổng Giám đốc, theo Quyết định số: 3366/QĐ-NHKL ngày 21/8/2023 của Tổng Giám đốc.
Người được ông Lê Trung V ủy quyền lại: Ông Phạm Đông X, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ thuộc Phòng Xử lý nợ Ngân hàng TMCP K, theo Quyết định số: 3580/QĐ-NHKL ngày 11/9/2023 (có mặt)
2. Bị đơn:
- - Ông Phạm Thanh H, sinh năm 1969 (vắng mặt)
- - Bà Đỗ Thu T, sinh năm 1970 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 14/12/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Đông X đại diện cho Ngân hàng TMCP K, trình bày:
Ông Phạm Thanh H, bà Đỗ Thu T ký kết với Ngân hàng TMCP K - chi nhánh A hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số: 54/19/HĐHM/1200-2552 ngày 17/01/2019, hạn mức cho vay là 110.000.000 đồng, thời hạn hiệu lực của hợp đồng hạn mức là 60 tháng kể từ ngày ký hợp đồng.
Ngày 27/01/2022, ông H và bà T ký kết với Ngân hàng TMCP K - chi nhánh A hợp đồng tín dụng từng lần số: 101/22/HĐTD/1200-3548, cụ thể như sau: Số tiền vay 110.000.000 đồng; mục đích bổ sung vốn thuê đất nông nghiệp; thời hạn vay 12 tháng kể từ ngày nhận nợ đầu tiên, ngày giải ngân 27/01/2022. Lãi suất vay 12,9%/năm áp dụng đối với khế ước nhận nợ giải ngân trong vòng 03 tháng kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng, các khế ước nhận nợ giải ngân sau thời gian này, lãi suất vay bằng (=) lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng, lãnh lãi cuối kỳ của BLS HĐ KHCN tại thời điểm giải ngân cộng (+) 3,8%/năm và không được thấp hơn lãi suất vay tối thiểu hiện hành của biểu lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân (cùng loại hình và phương thức vay). Lãi suất vay được cố định trong 03 tháng kể từ ngày giải ngân theo từng khế ước nhận nợ. Lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Mức phạt chậm trả lãi: 10%/năm. Hình thức thanh toán: lãi trả hàng tháng, gốc trả cuối kỳ.
Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ vay, ông Phạm Thanh H ký kết với Ngân hàng TMCP K – chi nhánh A hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 54/19/HĐTC-BĐS/1200-2552 ngày 17/01/2019, được công chứng tại Văn phòng C, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, diện tích 661 m² thuộc thửa số 03, tờ bản đồ số 59, loại đất ở nông thôn, tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH03469 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 06/10/2014 cho ông Phạm Thanh H. Hợp đồng thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện C ngày 18/01/2019.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H và bà T liên tục vi phạm hợp đồng, không thanh toán nợ cho Ngân hàng khi đến hạn, Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở nhưng ông H và bà T không thanh toán nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, hiện tại hợp đồng đã quá hạn thanh toán nhưng ông H, bà T vẫn chưa thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng TMCP K yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- - Buộc ông Phạm Thanh H và bà Đỗ Thu T trả tổng số tiền nợ vay tạm tính đến ngày 15/3/2024 là 150.352.707 đồng, trong đó bao gồm: nợ gốc 110.000.000 đồng, lãi trong hạn 14.190.000 đồng, lãi quá hạn 24.084.123 đồng, tiền phạt chậm trả lãi 2.078.583 đồng. Yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh kể từ ngày 16/3/2024 cho đến khi trả dứt nợ theo lãi suất quy định trong hợp đồng tín dụng đã ký kết.
- - Yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 54/19/HĐTC-BĐS/1200-2552 ngày 17/01/2019 được ký kết giữa ông Phạm Thanh H và Ngân hàng TMCP K – chi nhánh A. Trường hợp ông H và bà T không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thanh toán nợ.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các văn bản tố tụng khác nhưng ông Phạm Thanh H và bà Đỗ Thu T vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến về vụ án.
Tại phiên tòa,
Ông Phạm Đông X, đại diện cho Ngân hàng TMCP K, trình bày: Phù hợp với lời khai của mình và ý kiến, yêu cầu của nguyên đơn trước khi mở phiên tòa. Ông X xác định ông H và bà T không có thế chấp nhà ở gắn liền với đất do chưa có chứng nhận quyền sở hữu nhà ở. Yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- - Buộc ông Phạm Thanh H và bà Đỗ Thu T có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền nợ vay tổng cộng là: 154.226.901 đồng, trong đó bao gồm:
- + Nợ gốc: 110.000.000 đồng
- + Nợ lãi trong hạn tính đến ngày 27/01/2023: 14.345.266 đồng
- + Nợ lãi quá hạn tính từ ngày 28/01/2023 đến ngày 25/4/2024: 27.624.345 đồng
- + Tiền phạt chậm trả lãi tính đến ngày 25/4/2024: 2.257.290 đồng
- - Yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh kể từ ngày 26/4/2024, theo hợp đồng tín dụng từng lần số: 101/22/HĐTD/1200-3548 ngày 27/01/2022 được ký kết giữa ông H và bà T với Ngân hàng TMCP K - chi nhánh A, cho đến khi ông H và bà T thanh toán xong toàn bộ số nợ vay cho Ngân hàng TMCP K.
- - Yêu cầu công nhận và tiếp tục duy trì hiệu lực của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 54/19/HĐTC-BĐS/1200-2552 ngày 17/01/2019 được ký kết giữa ông Phạm Thanh H và Ngân hàng TMCP K – chi nhánh A, để đảm bảo cho việc thi hành án. Trường hợp ông H và bà T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ nợ vay, đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 661 m², thuộc thửa số 03, tờ bản đồ số 59, loại đất ở nông thôn, tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH03469 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 06/10/2014 cho ông Phạm Thanh H.
- - Yêu cầu ông H và bà T phải chịu toàn bộ án phí và chi phí tố tụng theo quy định pháp luật.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án:
- - Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K, buộc ông H và bà T có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng TMCP K khoản nợ vay tổng cộng là: 154.226.901 đồng, trong đó bao gồm:
- + Nợ gốc: 110.000.000 đồng
- + Nợ lãi trong hạn tính đến ngày 27/01/2023: 14.345.266 đồng
- + Nợ lãi quá hạn tính từ ngày 28/01/2023 đến ngày 25/4/2024: 27.624.345 đồng
- + Tiền phạt chậm trả lãi tính đến ngày 25/4/2024: 2.257.290 đồng
- - Đề nghị tiếp tục tính lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi ông H và bà T thanh toán xong các khoản nợ vay, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục trả cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Toà án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- - Đề nghị công nhận và tiếp tục duy trì hiệu lực của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 54/19/HĐTC-BĐS/1200-2552 ngày 17/01/2019 được ký kết giữa ông Phạm Thanh H và Ngân hàng TMCP K – chi nhánh A, để đảm bảo cho việc thi hành án. Trường hợp ông H và bà T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ nợ vay.
- - Về án phí và chi phí tố tụng, đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa các đương sự về hợp đồng tín dụng; bị đơn cư trú tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của bị đơn ghi trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp; bị đơn không có thông báo cho nguyên đơn hoặc Tòa án biết về việc thay đổi địa chỉ nơi cư trú. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông H và bà T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về xác định chứng cứ trong vụ án: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông H và bà T, trong đó có nêu rõ nội dung khởi kiện và yêu cầu của nguyên đơn, cùng chứng cứ kèm theo là hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản và giấy tờ giải ngân, nhưng ông H và bà T không có ý kiến phản đối hay có yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp và các chứng từ giải ngân mà nguyên đơn cung cấp để làm chứng cứ để giải quyết vụ án.
[3] Về hợp đồng tín dụng: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của ông Phạm Đông X trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, có cơ sở xác định: Ông H và bà T có xác lập hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP K, theo hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số: 54/19/HĐHM/1200-2552 ngày 17/01/2019 và hợp đồng tín dụng từng lần số: 101/22/HĐTD/1200-3548 ngày 27/01/2022 được ký kết giữa ông H và bà T với Ngân hàng TMCP K - chi nhánh A. Tính đến ngày 25/4/2024, ông H và bà T còn nợ Ngân hàng TMCP K khoản nợ vay tổng cộng là: 154.226.901 đồng, trong đó bao gồm:
- + Nợ gốc: 110.000.000 đồng
- + Nợ lãi trong hạn tính đến ngày 27/01/2023: 14.345.266 đồng
- + Nợ lãi quá hạn tính từ ngày 28/01/2023 đến ngày 25/4/2024: 27.624.345 đồng
- + Tiền phạt chậm trả lãi tính đến ngày 25/4/2024: 2.257.290 đồng
Xét thấy, hợp đồng tín dụng giữa các bên được xác lập trên cơ sở tự nguyện, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, hình thức giao dịch phù hợp với quy định tại Điều 91, Điều 94 của Luật Các tổ chức tín dụng, nên được pháp luật công nhận, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông H và bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng đã ký kết nên Ngân hàng TMCP K yêu cầu ông H và bà T trả các khoản nợ vốn, lãi và phạt chậm trả lãi nêu trên là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Kể từ ngày 26/4/2024 (ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm) cho đến khi thi hành án xong, ông H và bà T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn và tiền phạt chậm trả lãi phát sinh, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng số: 101/22/HĐTD/1200-3548 ngày 27/01/2022 được ký kết giữa ông H và bà T với Ngân hàng TMCP K - chi nhánh A. Trường hợp trong hợp đồng các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục trả cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Toà án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
[4] Về hợp đồng thế chấp tài sản: Khi hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 54/19/HĐTC-BĐS/1200-2552 ngày 17/01/2019 được ký kết giữa ông Phạm Thanh H và Ngân hàng TMCP K - chi nhánh A, các bên đã thực hiện đúng nội dung, hình thức và trình tự thủ tục, có công chứng hợp đồng và đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan đăng ký đất đai theo đúng quy định tại các điều 119, 317 và 319 của Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 3 Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013 và điểm a khoản 1 Điều 4 của Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2017 của Chính phủ quy định về đăng ký biện pháp bảo đảm, nên hợp đồng thế chấp là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Do đó, Hội đồng xét xử công nhận và duy trì hiệu lực của hợp đồng thế chấp nêu trên để đảm bảo cho việc thi hành án. Trường hợp ông H và bà T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ nợ vay.
[5] Về chi phí tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K được chấp nhận toàn bộ nên Ngân hàng TMCP K không phải chịu chi phí tố tụng. Ông H và bà T phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 400.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do Ngân hàng TMCP K đã tạm ứng đủ chi phí tố tụng này nên ông H và bà T có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền 400.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông H và bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên ông H và bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Trả lại cho Ngân hàng TMCP K toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 92, 147, 157, 158, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 117, 118, 119, 317 và 319 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các điều 91, 94 và 95 của Luật Các tổ chức tín dụng;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 8 của Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K.
Buộc ông Phạm Thanh H và bà Đỗ Thu T có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền nợ vay tổng cộng là 154.226.901 đồng (Một trăm năm mươi bốn triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn chín trăm lẻ một đồng), trong đó bao gồm:
- - Nợ gốc: 110.000.000 đồng (Một trăm mười triệu đồng)
- - Nợ lãi trong hạn tính đến ngày 27/01/2023: 14.345.266 đồng (Mười bốn triệu ba trăm bốn mươi lăm nghìn hai trăm sáu mươi sáu đồng)
- - Nợ lãi quá hạn tính từ ngày 28/01/2023 đến ngày 25/4/2024: 27.624.345 đồng (Hai mươi bảy triệu sáu trăm hai mươi bốn nghìn ba trăm bốn mươi lăm đồng)
- - Tiền phạt chậm trả lãi tính đến ngày 25/4/2024: 2.257.290 đồng (Hai triệu hai trăm năm mươi bảy nghìn hai trăm chín mươi đồng)
Kể từ ngày 26/4/2024 (ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm) cho đến khi thi hành án xong, ông Phạm Thanh H và bà Đỗ Thu T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn và tiền phạt chậm trả lãi phát sinh, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng số: 101/22/HĐTD/1200-3548 ngày 27/01/2022 được ký kết giữa ông H và bà T với Ngân hàng TMCP K - chi nhánh A. Trường hợp trong hợp đồng các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục trả cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Toà án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Công nhận và duy trì hiệu lực của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 54/19/HĐTC-BĐS/1200-2552 ngày 17/01/2019 được ký kết giữa ông Phạm Thanh H và Ngân hàng TMCP K - chi nhánh A, để đảm bảo cho việc thi hành án. Trường hợp ông Phạm Thanh H và bà Đỗ Thu T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế để xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ, đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 661m² thuộc thửa đất số 03, tờ bản đồ số 59, toạ lạc tại xã B, huyện C, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BX515387, số vào sổ cấp giấy GCN: CH03469 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 06/10/2014 cho ông Phạm Thanh H.
3. Về chi phí tố tụng:
Ông Phạm Thanh H và bà Đỗ Thu T có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho Ngân hàng TMCP K chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng).
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Phạm Thanh H và bà Đỗ Thu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.711.000 đồng (Bảy triệu bảy trăm mười một nghìn đồng).
Trả lại cho Ngân hàng TMCP K số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.535.000 đồng (Ba triệu năm trăm ba mươi lăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0005129 ngày 18 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
5. Về quyền kháng cáo:
Ngân hàng TMCP K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Phạm Thanh H và bà Đỗ Thu T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Linh |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Ngọc Bờ Trương Thị Thu Thủy | Nguyễn Duy Linh |
Bản án số 100/2024/DS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 100/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
