Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DIỄN CHÂU
TỈNH NGHỆ AN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/HS-ST

Ngày: 24-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vương Thanh Minh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Dũng

2. Ông Phạm Văn Sơn

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Hải Sâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 83/2024/TLST - HS ngày tháng 05 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 133/2024/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Xuân T. Tên thường gọi khác: Đặng Văn T1, sinh ngày 06/6/1988, tại huyện D, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Xuân T2 (Chết) và con bà Vũ Thị L (Chết); anh chị em ruột: Có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; vợ: Trần Thị C; con: Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Năm 2005, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội "Trộm cắp tài sản”, tại Bản án số: 40/2005/HSST ngày 15/3/2005.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/3/2024 đến ngày 14/3/2024 thì được tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1997.

Trú tại: Xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)

1

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1956.

Trú tại: Xóm V, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 00 phút ngày 19/02/2024, sau khi Đặng Xuân T bán cá ở cảng cá thuộc xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì quan sát thấy có 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave anpha, sơn màu đen, biển kiểm soát 37F2 - 838.56 của chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1997, trú tại xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An đang dựng ở khu vực cảng cá. Thấy xe không có người trông coi, T lấy 01 chìa khóa xe máy Honda để ở trong túi áo của mình, đưa vào ổ khóa của xe vặn thử thì mở được khóa xe. T điều khiển xe máy của chị H đi về nhà, trên đường đi T dừng lại tháo biển số xe máy vứt trên đường. Sau đó, T lấy biển số xe khác nhặt được trước đó lắp vào xe của chị H để sử dụng làm phương tiện đi lại.

Ngoài ra, ngày 06/3/2024, Đặng Xuân T còn có hành vi trộm cắp 04 con gà mái, lông màu vàng của bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1956, trú tại xóm V, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An rồi đem bán cho một người phụ nữ lạ ở khu vực chợ S thuộc thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An với giá 600.000 đồng, số tiền này T đã tiêu xài cá nhân hết.

Đến ngày 08/3/2024, T đi xe máy trộm của chị H lên xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An thì bị Công an xã V mời làm việc, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên T đã đầu thú và tự nguyện giao nộp chiếc xe máy trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 12/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D kết luận:

- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha, màu đen bạc. Số máy: JA39E2674835, số khung: RLHJA3929NY178182, xe sản xuất năm 2022 (xe đã qua sử dụng, mua mới năm 2022), giá 11.000.000 đồng.

- 04 (bốn) con gà mái màu vàng có khối lượng 06 (sáu) kilogam, giá 600.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số: 100/CT-VKS-DC ngày 10/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố bị cáo Đặng Xuân T về tội “Trộm cắp tài sản”quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Đặng Xuân T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đặng Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Xuân T từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

2

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị H đã nhận lại tài sản; bà Nguyễn Thị Đ đã được bị cáo và gia đình bồi thường thiệt hại và đến nay không ai yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm nên không xem xét.

Về vật chứng: chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave anpha, màu đen bạc. Số máy: JA39E2674835, số khung: RLHJA3929NY178182, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Đặng Xuân T không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt; bị hại chị Nguyễn Thị H không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo; bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.

[2].Về việc vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm và giấy triệu tập phiên tòa cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do và đã được gia đình bị cáo bồi thường thiệt hại; mặt khác lời khai của họ đã đầy đủ tại hồ sơ. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[3]. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi thực hiện của mình phù hợp với lời khai trong quá trình điều

3

tra, phù hợp với nội dung của Cáo trạng đã quy kết, phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 05 giờ 00 phút ngày 19/02/2024, tại khu vực cảng cá thuộc xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Đặng Xuân T đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, biển kiểm soát 37F2-838.56 của chị Nguyễn Thị H, trị giá 11.000.000 đồng, để làm phương tiện đi lại cho bị cáo. Như vậy, hành vi thực hiện của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4]. Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội; bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, đủ tuổi chịu tránh nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo nhận thức rõ hành vi thực hiện của mình là vi phạm pháp luật; nhân thân xấu, đã bị Tòa án xét xử cùng về tội trộm cắp nay lại thực hiện hành vi phạm tội; ngày 06/3/2024 bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp 04 con gà của bà Đức trị g 600.000 đồng, điều đó thể hiện sự coi thường kỷ cương pháp luật. Vì vậy, cần phải lên một mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung như ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[5]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, biết ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi nhận thức được hành vi phạm tội của mình đã đến Công an xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An để đầu thú, bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Vì vậy, cần xem xét, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo để xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo.

[6]. Về hình phạt bổ sung:Tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Theo

4

các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại phiên tòa thì bị cáo làm công việc tự do, thu nhập không ổn định, còn phải nuôi con nhỏ, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[7]. Về nội dung liên quan khác: Ngày 06/3/2024, Đặng Xuân T có hành vi trộm cắp 04 (Bốn) con gà của bà Nguyễn Thị Đ, tổng trị giá 600.000 đồng. Do giá trị tài sản chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản nên Đặng Xuân T không phải chịu trách nhiệm hình sự mà chuyển hồ sơ xử lý vi phạm hành chính về hành vi này là đúng quy định của pháp luật.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại trong vụ án làchị Nguyễn Thị H đã nhận lại tài sản; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Đ đã được bị cáo bồi thường thiệt hại đầy đủ, đến nay không ai yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave anpha, màu đen bạc. Số máy: JA39E2674835, số khung: RLHJA3929NY178182 của chị Nguyễn Thị H, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị H nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
  • - Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Xuân T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08/3/2024 đến ngày 14/3/2024.

5

3. Về án phí: Bị cáo Đặng Xuân T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đặng Xuân T và bị hại chị Nguyễn Thị H có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Diễn Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Diễn Châu;
  • - Công an huyện Diễn Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo; bị hại; người có qlnvlq;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Thanh Minh

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 100/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger