|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 100/2024/HS-ST
Ngày: 21/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hoàng
Ông Trương Đức Lâm
Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Đông - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 90/2024/TLST-HS ngày 05/9/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2024/QĐXXST-HS ngày 09/9/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Nhật A; tên gọi khác: Không
Giới tính: Nam ; Sinh năm 1994;
Nơi cư trú: thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12.
Con ông: Dương Văn T, sinh năm 1972;
Con bà: Lê Thị C, sinh năm 1974;
Vợ, con: Chưa có;
Gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H( có mặt).
- Bị hại:
- Tổng công ty Đ.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức T1 – Chức vụ: Tổng giám đốc Tổng công ty Đ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Bá S – Chức vụ: Giám đốc Công ty Đ1.
Người đại diện theo ủy quyền lại:
Ông Lại Xuân P – Chức vụ: Giám đốc Điện lực H1.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng:
Ông Thân Hồng M – Chức vụ: Trưởng phòng H1(có mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
- Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện H.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng T2 – Chức vụ: Giám đốc Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện H.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Đức S1 – Chức vụ: Trưởng phòng KH-TC, Ban quản lý án đầu tư xây dựng huyện H (có mặt).
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Dương Văn T, sinh năm 1972(có mặt)
- Anh Phạm Quốc T3, sinh năm 1984(vắng mặt)
- Anh Đỗ Quang H, sinh năm 1975(vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1994(vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Tổ dân phố số B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương Nhật A, sinh năm 1994, trú tại thôn H, xã H, huyện H là nhân viên hợp đồng của Chi nhánh Điện lực huyện H1 và được phân công nhiệm vụ tham gia ghi chỉ số công tơ và phúc tra lại chỉ số công tơ điện. Quá trình làm việc, Dương Nhật A thấy tại một số trạm biến áp của Chi nhánh Điện lực huyện H1 có nhiều dây điện thừa nên đã nảy sinh ý định trộm cắp để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Dương Nhật A đã thực hiện 03 vụ trộm cắp dây cáp điện, cụ thể như sau:
* Vụ thứ nhất:
Khoảng 09 giờ ngày 17/3/2024, Nhật A mặc bộ đồ bảo hộ lao động màu cam của ngành Điện lực một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe
Dream, biển kiểm soát 98H3-6390 từ nhà đến khu vực Trạm biến áp T5, thuộc thôn T, xã T, huyện H với mục đích để trộm cắp dây cáp điện. Khi đến nơi, Nhật A đeo dây đai an toàn, lần lượt trèo lên các cột điện 1.4; 1.6; (1.2).3 và dùng máy bắn vít mang theo từ trước tháo các ốc kẹp của các đoạn dây nối giữa các cột và thả dây xuống phía dưới. Loại dây cáp điện bị tháo ra gồm 04 dây đan xoắn, vỏ màu đen có lõi gồm nhiều loại sợi kim loại màu trắng ký hiệu “CTY CPĐ VAT TU ISO 9001:2008-2015”, loại “0,6/1 KV – AL/XLPE LVABC 4C x 95SQMM"). Sau khi thả dây cáp điện xuống, Nhật A vừa kéo vừa cuộn từ cột 1.4 đến cột 1.6 được 79m và từ cột (1.2).3 đến cột 1.4 được 42m dây cáp điện. Sau khi cuộn xong 02 đoạn dây cáp điện trên, Nhật A gọi điện thoại cho anh Phạm Quốc T3, sinh năm 1984 ở thôn B, xã H, huyện H (anh T3 có cửa hàng mua bán dây cáp điện) để đặt vấn đề bán dây cáp điện thì được anh T3 đồng ý. Anh T3 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 36C-244.40 đến khu vực trạm biến áp T5 rồi cùng Nhật A bê hai cuộn dây cáp điện lên thùng xe ô tô rồi chở về nhà anh T3. Tại nhà anh T3, hai bên thỏa thuận mua bán 02 cuộn dây cáp điện trên với số tiền 4.500.000 đồng, anh T3 đưa cho Nhật A 3.000.000 đồng tiền mặt, số tiền còn lại anh T3 chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng T6 của Nhật A. Số tiền này Nhật A đã chi tiêu hết.
* Vụ thứ hai:
Với thủ đoạn tương tự, khoảng 14 giờ ngày 21/3/2024, Nhật A một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, biển kiểm soát 98H1-8397 từ nhà đến khu vực Trạm biến áp C1 thuộc thôn T, xã H, huyện H với mục đích để trộm cắp dây cáp điện. Khi đến nơi, Nhật A đeo dây đai an toàn, đi guốc trèo lên cột điện 3.1, dùng máy bắn vít tháo các ốc kẹp của đoạn dây cáp điện gồm 04 dây đan xoắn, vỏ màu đen, lõi gồm nhiều loại sợi kim loại màu trắng, loại “PHU THANG ELECTRIC CABLE AL/XLPE ABC 4 x 120 SQMM 0,6/1 KV ISO 9001:2015 *TCVN 6447:1998*” đã được lắp chờ nối với các cột điện 3.2; 3.3; 3.4; 3.5; 3.6. Sau khi tháo xong, Nhật A thả được 143m dây cáp điện xuống đất rồi cuộn lại. Sau đó, Nhật A gọi điện thoại cho anh T3 đến mua dây cáp, anh T3 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 36C-244.40 cùng anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1994, trú tại thôn H, xã T, huyện H đến khu vực Trạm biến áp cầu Mía rồi cùng Nhật A bê toàn bộ số dây cáp điện trên lên thùng xe ô tô. Anh T3 và Nhật A thỏa thuận bán 143m dây cáp điện với số tiền 6.512.000 đồng và anh T3 đã chuyển khoản tiền vào tài khoản ngân hàng T6 của Nhật A. Số tiền này Nhật A đã chi tiêu hết.
* Vụ thứ ba:
Khoảng 11 giờ ngày 26/3/2024, Nhật A tiếp tục một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, biển kiểm soát 98H1-8397 từ nhà đến khu vực Trạm biến áp C1 thuộc thôn T, xã H, huyện H với mục đích để trộm cắp dây cáp điện. Đến nơi, Nhật A đeo dây đai an toàn, đi guốc, cầm theo máy bắn vít trèo lên cột điện 2.2 tháo các ốc kẹp của đoạn dây cáp điện loại có 04 dây đan xoắn, vỏ màu đen, lõi
gồm nhiều loại sợi kim loại màu trắng, loại “NH-CADIMOON 0,6/1 KV-AL/XLPE LV-ABC 4 x 120 SQMM TCVN 56447 TECHNOLOGY OF KOREA 2022” đã được lắp chờ với gần Trạm biến áp. Sau đó, Nhật A trèo lên giá thao tác của Trạm biến áp, mở tủ kỹ thuật tháo ốc của đoạn dây cáp nối với cột 2.2 và cuộn được 39,3m dây cáp điện. Sau đó, Nhật A gọi điện thoại cho anh T3, anh T3 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 36C-244.40 đến khu vực Trạm biến áp Cầu Mía bê số dây cáp điện trên lên xe ô tô và thỏa thuận mua của Nhật A 39,3m với số tiền 1.370.000 đồng, đồng thời chuyển khoản số tiền vào tài khoản ngân hàng T6 của Nhật A. Số tiền này Nhật A đã chi tiêu hết.
Ngày 28/3/2024, đại diện Chi nhánh Điện lực H1 làm đơn trình báo gửi Công an xã T về việc bị mất các đoạn dây cáp điện tại Trạm biến áp T5. Ngày 01/4/2024, đại diện Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện H làm đơn trình báo gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H về việc bị mất các đoạn dây cáp điện tại Trạm biến áp Cầu M.
Ngày 28/3/2024, Dương Nhật A đến Công an xã T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu ở trên đồng thời tự nguyện giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 98H3-6390; 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, biển kiểm soát 98H1-8397; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu đen; 01 máy bắn vít màu xanh; 01 dây đai an toàn màu xanh; 01 quần dài màu cam và 01 áo dài tay màu cam.
Cùng ngày, anh Phạm Quốc T3 tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H toàn bộ số dây cáp điện mua của Dương Nhật A ngày 17/3/2024, 21/3/2024 và 26/3/2024 và chiếc xe ô tô tải màu trắng, biển kiểm soát 36C-244.40. Ngày 04/4/2024, anh T3 tự nguyện giao nộp 01 đôi guốc trèo cột điện và trình bày đây là đồ vật Nhật A gửi tại nhà anh ngày 26/3/2024.
Tại Kết luận định giá tài sản số 19 ngày 03/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận:
- - 79m dây cáp điện, gồm 04 dây đan xoắn, vỏ dây màu đen, lõi gồm nhiều loại sợi kim loại màu trắng ký hiệu “CTY CPĐ VAT TU ISO 9001:2008-2015", loại “0,6/1 KV – AL/XLPE LVABC 4C x 95SQMM” trị giá 12.835.000 đồng.
- - 42m dây cáp điện, gồm 04 dây đan xoắn, vỏ dây màu đen, lõi gồm nhiều sợi kim loại màu trắng ký hiệu “CTY CPÐ VAT TU ISO 9001:2008-2015”, loại “0,6/1 KV – AL/XLPE LVABC 4C x 95SQMM” trị giá 6.824.000 đồng.
- - 39,3m dây cáp điện, gồm 04 dây đan xoắn, vỏ dây màu đen, lõi gồm nhiều loại sợi kim loại màu trắng, loại “NH-CADIMOON 0,6/1 KV-AL/XLPE LV-ABC 4 x 120 SQMM TCVN 56447 TECHNOLOGY OF KOREA 2022” trị giá 7.056.000 đồng.
- - 143m dây cáp điện, gồm 04 dây đan xoắn, vỏ dây màu đen, lõi gồm nhiều loại sợi kim loại màu trắng loại “PHU THANG ELECTRIC CABLE AL/XLPE
ABC 4 x 120 SQMM 0,6/1 KV ISO 9001:2015 *TCVN 6447:1998*” trị giá 25.676.000 đồng.
Tổng trị giá các tài sản: 52.391.000 đồng (năm mươi hai triệu ba trăm chín mươi mốt nghìn đồng).
Tại bản Cáo trạng số 93/CT-VKS-HH ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Dương Nhật A về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra có trong hồ sơ vụ án. Đại diện bị hại không có yêu cầu bồi thường gì và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức thấp nhất. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn T trình bày: Ông là bố đẻ của Dương Nhật A, bị cáo đã nhờ ông sửa chữa, lắp đặt lại số dây cáp điện tại Trạm biến áp Cầu Mía của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện H và trả Phạm Quốc T3 số tiền 12.382.000 đồng. Ông không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền nêu trên.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt không có yêu cầu gì.
Kiểm sát viên thực hành công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Nhật A phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Dương Nhật A từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01 (một) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/3/2024;
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên không xem xét.
- - Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu sung công đối với 01 điện thoại di động Iphone màu đen, số Imei: 352978097721154; 01 máy bắn vít màu xanh, đen. Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dây đai an toàn màu xanh, 01 quần dài màu cam và 01 áo dài tay màu cam (loại quần áo bảo hộ của Công ty Đ1), 01 đôi guốc trèo cột điện bằng kim loại đã qua sử dụng.
Ngoài ra còn đề nghị giải quyết về án phí.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình nên đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, bị cáo mong Hội đồng xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tuy nhiên đã có đầy đủ lời khai của họ trong hồ sơ, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
[3] Lời khai nhận tội của bị cáo Dương Nhật A tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của bị hại, người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ thu thập được nên có đủ cơ sở kết luận:
Dương Nhật A là nhân viên hợp đồng của Chi nhánh Điện lực huyện H1; lợi dụng việc am hiểu tháo lắp đường dây cáp điện nên Nhật A đã thực hiện hành vi trộm cắp dây cáp điện. Cụ thể, ngày 17/3/2024, Nhật A trộm cắp 121m dây cáp điện trị giá 19.659.000 đồng của Chi nhánh Điện lực huyện H1 tại Trạm biến áp T5 thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện H; ngày 21/3/2024 và 26/3/2024, Nhật A tiếp tục trộm cắp trộm cắp 182,3m dây cáp điện trị giá 32.732.000 đồng của Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện H tại trạm biến áp C1 thuộc thôn T, xã H, huyện H. Tổng trị giá các tài sản Dương Nhật A trộm cắp là 52.391.000 đồng (Năm mươi hai triệu ba trăm chín mươi mốt nghìn đồng).
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại quyền sở hữu tài sản của người khác. Giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 52.391.000 đồng. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, vi phạm vào điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là có căn cứ.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt vì ngoài lần phạm tội này, bị cáo chưa bị kết án, chưa bị xử lý hành chính lần nào.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện 03 lần chiếm đoạt tài sản trong 03 ngày khác nhau, mỗi lần chiếm đoạt tài sản đều đủ yếu tố cấu
thành tội phạm bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; bị cáo đã nhờ gia đình sửa chữa, khắc phục hậu quả và trả lại tiền cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; đại diện bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, mẹ bị cáo được tặng thưởng giấy khen trong công tác xã hội nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, căn cứ vào các tình tiết của vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, yêu cầu đấu tranh tội phạm xâm phạm quyền sở hữu tại địa phương, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo và xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội và hậu quả mà bị cáo gây ra, góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm xâm hại quyền sở hữu nói riêng. Bị cáo phạm tội nhiều lần, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp, góp phần giáo dục bị cáo cải tạo tốt trở thành người có ích cho xã hội.
Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đều không yêu cầu bị cáo bồi thường gì, ông Dương Văn T là bố đẻ của bị cáo không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền đã bỏ ra để sửa chữa, lắp đặt lại số dây cáp điện tại Trạm biến áp Cầu Mía của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện H và trả Phạm Quốc T3 nên không xem xét giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động Iphone màu đen, số Imei: 352978097721154 đã qua sử dụng, 01 máy bắn vít màu xanh, đen là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung công. Đối với 01 bộ dây đai an toàn màu xanh, 01 quần dài màu cam và 01 áo dài tay màu cam (loại quần áo bảo hộ của Công ty Đ1), 01 đôi guốc trèo cột điện bằng kim loại đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về các vấn đề khác:
Đối với Phạm Quốc T3 là người giúp Dương Nhật A chở và mua số dây cáp điện mà Nhật A trộm cắp được nhưng không biết đây là tài sản do Nhật A phạm tội mà có nên Phạm Quốc T3 không phạm tội.
Đối với Nguyễn Văn T4 là người đi cùng và giúp Phạm Quốc T3 chở số dây cáp điện mà Nhật A trộm cắp được ngày 21/3/2024 nhưng không biết đây là tài sản do Nhật A phạm tội mà có nên Nguyễn Văn T4 không phạm tội.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ Điểm c Khoản 2 Điều 173, Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điểm g, Khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Dương Nhật A 01(một) năm 03(ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 28/3/2024).
[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Tịch thu sung công đối với 01 điện thoại di động Iphone màu đen, số Imei: 352978097721154; 01 máy bắn vít màu xanh, đen.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dây đai an toàn màu xanh, 01 quần dài màu cam và 01 áo dài tay màu cam (loại quần áo bảo hộ của Công ty Đ1), 01 đôi guốc trèo cột điện bằng kim loại đã qua sử dụng.
(Toàn bộ đặc điểm vật chứng theo quyết định chuyển vật chứng số 77/QĐ-VKS-HH ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/9/2024 giữa Công an huyện H với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa)
[3] Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Bị cáo Dương Nhật A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[5] Bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Đào Thị Oanh |
Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 21/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 100/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Nhật A - Trộm cắp tài sản
