|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 100/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 21-8-2024
V/v ly hôn,
tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Tấn Dũng.
- Ông Nguyễn Tuấn Lam.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Diệp Văn Hiếu Nhỏ - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 146/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2024/QĐXX-ST ngày 11 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị S, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1988; Nơi cư trú: Ấp 2, xã Thường Phước 1, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Anh Đặng Hoàng E, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1984; Nơi cư trú: Ấp 2, xã Thường Phước 1, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 6 năm 2024 và biên bản lấy lời khai ngày 11 tháng 7 năm 2024 của nguyên đơn chị Trần Thị S trình bày: Vào năm 2010, chị có quen biết với anh Đặng Hoàng E, qua thời gian tìm hiểu hai bên tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới cho chị và anh E trong năm 2010, hai vợ chồng chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thường Phước 1, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi cưới, hai vợ chồng chị sống chung với gia đình anh E. Thời gian đầu hai vợ chồng sống chung với nhau rất hạnh phúc, đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn về chuyện tình cảm gia đình, anh E dùng những lời lẽ thô tục, xúc phạm chị dẫn đến vợ chồng sống chung không còn hạnh phúc. Vào khoảng tháng 4 năm 2024, chị và các con dọn đồ về nhà cha mẹ ruột của chị ở cho đến nay. Chị nhận thấy tình cảm giữa hai chồng không còn, không hàn gắn tình cảm được nữa, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Đặng Hoàng E. Về nuôi con chung: Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là Đặng Thị H, sinh ngày 15 tháng 02 năm 2011 và Đặng Hoàng S1, sinh ngày 03 tháng 12 năm 2013, không yêu cầu anh Đặng Hoàng E cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Chị và anh Đặng Hoàng E tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Trong thời gian chung sống chị và anh Đặng Hoàng E không có nợ ai cũng như không có ai nợ anh chị, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Đặng Hoàng E đã được Toà án triệu tập để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh từ chối không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Trần Thị S được ly hôn với bị đơn anh Đặng Hoàng E; về nuôi con chung: Giao 02 con chung là Đặng Thị H, sinh ngày 15 tháng 02 năm 2011 và Đặng Hoàng S1, sinh ngày 03 tháng 12 năm 2013 cho chị Trần Thị S tiếp tục nuôi dưỡng, anh Đặng Hoàng E không phải cấp dưỡng nuôi con do chị S không có yêu cầu; về tài sản chung: Chị Trần Thị S trình bày đã tự thỏa thuận, còn anh Đặng Hoàng E không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết; về nợ chung: Chị Trần Thị S trình bày không có, còn anh Đặng Hoàng E không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2] Nguyên đơn chị Trần Thị S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Đặng Hoàng E đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Trần Thị S và anh Đặng Hoàng E là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị S đối với anh Đặng Hoàng E, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của chị Trần Thị S thì cuộc sống của chị và anh Đặng Hoàng E không hạnh phúc từ năm 2023 do mâu thuẫn về chuyện tình cảm gia đình, anh E dùng những lời lẽ thô tục, xúc phạm chị dẫn đến vợ chồng sống chung không còn hạnh phúc, chị và anh E đã không còn chung sống từ tháng 4 năm 2024 đến nay. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của chị S và anh E hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của chị S là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho chị Trần Thị S ly hôn với anh Đặng Hoàng E.
[4] Về việc nuôi con chung: Chị Trần Thị S yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là Đặng Thị H, sinh ngày 15 tháng 02 năm 2011 và Đặng Hoàng S1, sinh ngày 03 tháng 12 năm 2013, không yêu cầu anh Đặng Hoàng E cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi chị S và anh E không còn sống chung và hiện nay thì 02 con chung do chị S chăm sóc, nuôi dưỡng, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị S được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, anh E không phải cấp dưỡng nuôi con do chị S không có yêu cầu và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.
[5] Về tài sản chung: Chị Trần Thị S cho rằng vợ chồng tự thỏa thuận, nên không yêu cầu giải quyết, còn anh Đặng Hoàng E không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[6] Về nợ chung: Chị Trần Thị S cho rằng không có, nên không yêu cầu giải quyết, còn anh Đặng Hoàng E không gửi văn bản ghi ý kiến của mình để Tòa án xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[7] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 229, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị S, cho ly hôn giữa chị Trần Thị S và anh Đặng Hoàng E.
-
Về việc nuôi con chung:
-
Chị Trần Thị S được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng 02 con chung là Đặng Thị H, sinh ngày 15 tháng 02 năm 2011 và Đặng Hoàng S1, sinh ngày 03 tháng 12 năm 2013.
-
Anh Đặng Hoàng E không phải cấp dưỡng nuôi con.
-
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
-
-
Về án phí sơ thẩm: Chị Trần Thị S chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006203 ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.
-
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
-
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lương Bằng |
Bản án số 100/2024/HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 100/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị S yêu cầu ly hôn với anh E
