|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM P TỈNH QUẢNG N |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 101/2023/HS – ST
Ngày 21 – 8 – 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM P
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị L
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Ngọc Ch
- Bà Bùi Thị Ng
- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Thanh Th – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N tham gia phiên tòa: ông Đỗ Ngọc MH - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại Tòa án nhân thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 76/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2023/QĐXXST - HS ngày 31 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Viết L (tên gọi khác: không); Giới tính: Nam; Sinh ngày 03/5/2000, tại thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N; Nơi cư trú: tổ 4, khu Hai Giếng 2, phường Cẩm Thủy, tp Cẩm P, tỉnh Quảng N; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Con ông: Nguyễn Văn Minh; Con bà: Đỗ Thị Tám; Vợ, con: không; Nhân thân: ngày 22/7/2022, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Tiền sự: không; Bị bắt ngày 05/4/2023, hiện đang tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cẩm P, có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng
- Chị Lò Thị H, sinh năm 2000 (nơi cư trú: tổ 4, khu 6C, phường Cẩm Trung, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N), vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2001(nơi cư trú: tổ 2, khu 2B, phường Cẩm Thành, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N), vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Viết L với Lò Thị H và Nguyễn Văn Đ là bạn bè quen biết. Khoảng 00h30' ngày 05/4/2023, L với Đ đi ăn đêm với nhau, sau đó L bảo Đ đi về nhà L ngủ, còn L đi đến phòng trọ của H ở phường Cẩm Trung, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N chơi. Đến khoảng 4h ngày 05/4/2023 L rủ H sang nhà L sử dụng ma túy Ketamine, H đồng ý! Nguồn gốc số ma túy Ketamine là do L được bạn mới quen không rõ tên tuổi, địa chỉ cho vào khoảng 10 ngày trước khi bị bắt. Khi L chở H về đến nhà, lúc này Đ đang ngủ trong phòng ngủ của L, H mệt nên cũng lên giường của L nằm ngủ. L lấy ma túy Ketamine có sẵn từ trước đổ ra đĩa sứ trên bàn rồi lấy thẻ nhựa kẻ thành từng đường. Tiếp đến, L lấy 01 tờ tiền 10.000 đồng cuốn thành ống hút rồi sử dụng 02 đường, sau đó L gọi H và Đ dậy sử dụng ma túy. L để đĩa dưới nền nhà và bật đèn nháy xong lên giường nằm. H dậy tự sử dụng ma túy. Đ do ngủ say nên L gọi không biết nên không dậy. Đến 19h10' cùng ngày thì Công an thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N đến kiểm tra phát hiện và thu giữ vật chứng.
*Vật chứng thu giữ trên mặt bàn giữa phòng ngủ của L: 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng trên mặt đĩa có dính chất bột màu trắng dạng vết (M1); 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng mã số hiệu VL 19588580 được cuốn thành ống hút, trên tờ tiền có dính chất bột màu trắng dạng vết (M2); 01 thẻ nhựa cứng màu cam có chữ Hermes Paris trên mặt có dính chất bột màu trắng dạng vết (M3); 01 đèn nháy chữ nhật màu đen. Thu trên nền nhà giữa phòng ngủ 01 túi nilon kích thước (4x7)cm bên trong dính chất bột màu trắng dạng vết (M4) - (Tất cả các đồ vật thu giữ trên đều là của L).
Quá trình bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với L, thu giữ 01 điện thoại di động Iphone màu xanh, lắp sim số 0329.845.169, L khai không sử dụng vào việc phạm tội và không ai biết L tàng trữ trái phép chất ma túy, đây là lần đầu tiên L tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy.
* Tại Bản Kết luận giám định số 441/KL-KTHS ngày 13/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng N, kết luận: M1 đến M4 là ma túy, loại: Ketamine dạng vết không xác định được khối lượng. Tại bản Kết luận giám định số 448/KL-KTHS ngày 16/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng N, kết luận: tìm thấy chất ma túy MDMA và chất Dehydronorketamine là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Ketamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Nguyễn Viết L và Lò Thị H gửi giám định. Không tìm thấy các chất ma túy thường gặp (Methamphetamine, MDMA, Ketamine, Heroine, Morphine) trong mẫu nước tiểu ghi thu của Nguyễn Văn Đ gửi giám định. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về các kết luận giám định.
* Anh Nguyễn Văn Đ và chị Lò Thị H có lời khai phù hợp với nhau và phù hợp với nội dung vụ án trên.
*Bản Cáo trạng số 83/CT-VKSCP ngày 17/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P truy tố Nguyễn Viết L về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 47, khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 - Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106 - Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Xử phạt Nguyễn Viết L từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tổng hợp với 12 (mười hai) tháng tù về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tại bản án số 86/2022/HS-ST ngày 22/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N, buộc Nguyễn Viết L Pi chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 05/4/2023.
Tịch thu tiêu hủy 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng in hoa văn, 01 thẻ nhựa màu cam có chữ HERMES Paris và 01 đèn nháy chữ nhật màu đen. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 10.000đồng. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Iphone kèm một sim.
*Bị cáo không có ý kiến gì về Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P và bản luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện. Do đó, các hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp: Biên bản bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Biên bản thu giữ vật chứng, biên bản kiểm tra điện thoại, biên bản làm việc, Kết luận giám định số 441/KL-KTHS ngày 13/4/2023 và Kết luận giám định số 448/KL-KTHS ngày 16/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng N, phù hợp với lời khai của người làm chứng Nguyễn Văn Đ, Lò Thị H cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: khoảng 4h ngày 05/4/2023, tại nhà của bị cáo ở tổ 4, khu Hai Giếng 2, phường Cẩm Thủy, thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N, Nguyễn Viết L có hành vi chuẩn bị ma túy, các dụng cụ như đĩa sứ, thẻ nhựa... tổ chức cho Lò Thị H sử dụng trái phép chất ma túy, loại Ketamine. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự, như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
[3] Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người đã trưởng thành biết rõ tác hại của ma túy và pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi liên quan đến ma túy, nhân thân bị cáo đã có một tiền án, nhưng với lối sống buông thả, bị cáo đã thực hiện hành vi tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, do đó Pi xét xử bị cáo thật nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Mặt dù, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội do cố ý đang trong thời gian thử thách tại bản án số 86/2022/HS-ST ngày 22/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm P về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”, tuy nhiên theo quy định tại khoản 2 Điều 69 Bộ luật Hình sự thì bị cáo bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm nghiêm trọng thì không bị coi là có án tích, không coi bản án trên là tiền án, nên không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên theo quy định tại khoản 2 Điều 56 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự thì 12 tháng tù cho hưởng án treo của bản án số 86/2022/HS-ST ngày 22/7/2022 của TANDTP Cẩm P sẽ được chuyển thành 12 tháng tù và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.
Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để bị cáo yên tâm cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng: theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 - Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 - Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng in hoa văn, 01 thẻ nhựa màu cam có chữ HERMES Paris và 01 đèn nháy chữ nhật màu đen đã cũ. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 10.000đồng (được hoàn lại trong một phong bì niêm phong số 441/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Quảng N - vì đều là công cụ phạm tội. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Iphone màu xanh kèm một sim, vì bị cáo chỉ dùng để liên lạc cá nhân và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
[6] Bị cáo Pi nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và 333 – Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[8] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của H, Công an thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Đối với người theo L khai đã cho L số ma túy trên, do không biết tên, tuổi, địa chỉ nên không đủ căn cứ xác định. do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65; điểm a khoản 1 Điều 47 - Bộ luật Hình sự. Điểm b khoản 3 Điều 106; Điều 136; Điều 331 và 333 - Bộ luật Tố tụng Hình sự: Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Viết L phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Viết L 24(hai mươi bốn ) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp với 12 (mười hai) tháng tù về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tại bản án số 86/2022/HS-ST ngày 22/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N, buộc Nguyễn Viết L Pi chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 05/4/2023.
Tịch thu tiêu hủy: 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng in hoa văn, 01 thẻ nhựa màu cam có chữ HERMES Paris và 01 đèn nháy chữ nhật màu đen đã cũ. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 10.000đồng. Trả cho bị cáo Nguyễn Viết L một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh kèm một sim (Tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng số 138/BB-THA ngày 20/7/2023 tại chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N).
Buộc bị cáo Nguyễn Viết L Pi nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Loan |
Bản án số 101/2023/HS – ST ngày 21/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM P, TỈNH QUẢNG N về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 101/2023/HS – ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM P, TỈNH QUẢNG N
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào: khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65; ®iÓm a khoản 1 Điều 47 - Bộ luật Hình sự. Điểm b khoản 3 Điều 106; Điều 136; Điều 331 và 333 - Bộ luật Tố tụng Hình sự: Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Viết L phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Viết L 24(hai mươi bốn ) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp với 12 (mười hai) tháng tù về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tại bản án số 86/2022/HS-ST ngày 22/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm P, tỉnh Quảng N, buộc Nguyễn Viết L Pi chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 05/4/2023.
