Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Bản án số: 100/2024/HS-PT

Ngày: 21/5/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Long

Các Thẩm phán: Ông Phan Vĩnh Chuyển

Ông Bùi Trọng Danh

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hồng Lĩnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đãi Em - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 87/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Hữu D và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo Phạm Văn Đ, Nguyễn Hữu D, Trần Thiện H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 01/3/2024 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo có kháng cáo:

1/ PHẠM VĂN Đ, sinh ngày 12/01/1976 tại tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Tổ H, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn C và bà Võ Thị C1; có vợ là Nguyễn Thị Phương L và 02 con (con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2017); Tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 13/3/2014, bị Tòa án quân sự khu vực 1, Quân khu E xử phạt 04 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. (Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/11/2016, chưa chấp hành xong phần trách nhiệm dân sự). Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

2/ NGUYỄN HỮU D1 (Tên gọi khác: Lơ); sinh ngày 19/5/1980 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Cơ khí; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn N và bà Lê Thị T (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Kim O (đã ly hôn) và 02 con (con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2012); Tiền án, tiền sự:

Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

3/ TRẦN THIỆN H, sinh ngày 30/10/1979 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi ĐKNKTT: Tổ E, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở hiện nay: P chung cư K - Khu C, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Thiện H1 và bà Bùi Thị T1; có vợ là Trần Thị Xuân K và 02 con (con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2012); Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

* Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Võ Minh Q nhưng bị cáo Q không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 06/6/2019, Võ Minh Q thoả thuận mua lại thửa đất số 786, tờ bản đồ số 11 tại phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, diện tích đất là 304m² từ bà Trần Thị K1 với số tiền 330.000.000 đồng. Trước đây, thửa đất này là loại đất “2 lúa”, thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình ông Nguyễn Văn Đ1 (sinh năm 1912, đã chết vào năm 2002). Sau khi ông Đ1 chết, con trai ông Đ1 là ông Nguyễn Văn Q1 bán lại theo thoả thuận viết tay với ông Ngô H2; đến năm 2011, bà K1 mua lại từ ông H2 rồi mới bán lại cho Q. Quá trình giao dịch, bà K1 có giao cho Võ Minh Q 01 bản sao y công chứng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 786, tờ bản đồ số 11, diện tích 304m², đứng tên hộ gia đình ông Đ1, 01 sơ đồ vị trí khu đất nói trên và bản gốc giấy mua bán viết tay giữa các bên.

Để hợp thức nguồn gốc đất cũng như có căn cứ để có thể đăng ký cấp giấy chứng nhận sau này, Q lấy thông tin của thửa đất rồi thuê đối tượng (không rõ lai lịch) làm giả 01 bộ hồ sơ ba lá để chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên từ tên người sử dụng cũ là ông Nguyễn Văn Đ1 sang tên Võ Minh Q với con dấu, chữ ký giả của Chủ tịch UBND xã H (cũ) gồm 03 tài liệu là: 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 05/9/2002 từ ông Nguyễn Văn Đ1 sang bên nhận chuyển nhượng là Võ Minh Q; 01 đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn Văn Đ1 sang bên nhận chuyển nhượng là Võ Minh Q; 01 sơ đồ vị trí thửa đất chuyển quyền sử dụng ghi ngày 26/9/2002. Tuy nhiên, do cần tiền nên Q tự ý chia tách phần đất này thành 03 phần đất khác nhau để bán lại, cụ thể:

Ngày 06/9/2019, Q hẹn gặp vợ chồng ông Lê Anh D2 và bà Trần Thị D3 tại quán cà phê có địa chỉ: số A đường N, phường H, quận C, để thoả thuận mua bán đất. Khi giao dịch, Q nói rõ với vợ chồng ông D2 là thửa đất này là đất chỉ có giấy tờ “3 lá” (tức là giấy tờ xác nhận của UBND cấp xã trước đây). Vợ chồng ông D2 biết rõ các giấy tờ này không hợp lệ nhưng vẫn đồng ý giao dịch. Hai bên thống nhất thoả thuận mua bán lại phần đất có diện tích 100m² từ thửa đất này với giá 300.000.000 đồng. Sau đó, ông D2 đặt cọc trước cho Q số tiền 50.000.000 đồng, số tiền còn lại hẹn đến ngày 29/9/2019 sẽ giao đủ tiền, đổi lại Q phải làm lại giấy tờ đất hợp thức sang tên của vợ chồng ông D2.

Để hợp thức thủ tục chuyển nhượng sang cho vợ chồng ông D2, Q nhờ Nguyễn Hữu D tìm người làm giả 01 bộ hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất khác tương tự bộ hồ sơ chuyển nhượng từ ông Đ1 sang tên Q, nhưng tách 100m² đất từ diện tích 304m² nói trên với nội dung chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn Đ1 sang cho ông Lê Anh D2. Nguyễn Hữu D đồng ý giúp Q, nên D thông qua Phùng Văn T2 liên hệ Phạm Văn Đ đặt vấn đề làm giả hồ sơ. Đ đồng ý, tiếp tục liên hệ Trần Thiện H nhờ làm giả hồ sơ giấy tờ đất theo yêu cầu của Nguyễn Hữu D. H đã liên hệ với Nguyễn Văn Q2 (sinh năm 1964, trú: Tổ 120, H, L, Đà Nẵng - Q2 đã chết ngày 10/02/2022) để làm giả theo yêu cầu của Đ. Quá trình đặt làm giả hồ sơ, Q2 khai đưa cho D 25.000.000 đồng; D khai chỉ nhận từ Q2 số tiền 12.000.000 đồng, D đưa lại cho Đ 12.000.000 đồng; Đ khai chỉ nhận số tiền 10.000.000 đồng, đưa cho H số tiền 8.000.000 đồng, cho T2 1.000.000 đồng Đ hưởng lợi 1.000.000 đồng; H khai chỉ nhận 6.000.000 đồng và đưa hết cho Nguyễn Văn Q2 đề Q2 làm giả hồ sơ.

Đến khoảng cuối tháng 10/2019, Nguyễn Văn Q2 làm giả xong bộ hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo yêu cầu của các đối tượng, có xác nhận chữ ký, con dấu của chủ tịch UBND xã H từ tên ông Nguyễn Văn Đ1 chuyển nhượng sang ông Lê Anh D2, gồm: 01 hợp đồng chuyển nhượng đề ngày 02/10/2001 tại xã H từ ông Nguyễn Văn Đ1 chuyển nhượng cho ông Lê Anh D2; 01 đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/10/2001 từ ông Nguyễn Văn Đ1 chuyển nhượng cho ông Lê Anh D2; 01 sơ đồ vị trí khu đất chuyển quyền sử dụng ngày 25/10/2001. Các đối tượng sau đó đã chuyển lại hồ sơ giả này cho Võ Minh Q kèm theo hồ sơ, thủ tục ban đầu Q cung cấp. Ngày 01/11/2019, tại nhà số A đường N, Q giao cho vợ chồng ông Lê Anh D2 bộ hồ sơ chuyển nhượng đất nêu trên. Sau khi xem hồ sơ, vợ chồng ông D2 đồng ý thanh toán cho Q số tiền 230.000.000 đồng (do đã trừ đi 20.000.000 đồng vì Q làm giấy tờ bị chậm trễ).

Trong khoảng thời gian giao dịch với ông Lê Anh D2, thì vào ngày 15/9/2019, Q tiếp tục hẹn gặp ông Lê Văn T3 tại số A đường N, thoả thuận mua bán thửa đất trên. Cũng như ông D2, ông T3 thoả thuận mua lại diện tích 100m² trong tổng diện tích 304m² của thửa đất mà Q chào bán với giá 285.000.000 đồng. Ông T3 cũng yêu cầu Quang hợp t lại giấy tờ chuyển nhượng sang tên mình và đặt cọc số tiền 50.000.000 đồng, số tiền còn lại hẹn đến ngày 05/10/2019 sẽ giao đủ tiền.

Với phương thức thủ đoạn cũ, Q thông qua Nguyễn Hữu D, Phạm Văn Đ, Trần Thiện H và Nguyễn Văn Q2 đặt làm giả 01 bộ hồ sơ đất có chữ ký xác nhận của chủ tịch UBND xã H gồm 01 hợp đồng chuyển nhượng ngày 17/9/2001 tại UBND xã H từ ông Nguyễn Văn Đ1 chuyển nhượng cho ông Lê Văn T3 đối với diện tích 100m² đất; 01 đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 17/9/2001 từ ông Nguyễn Văn Đ1 chuyển nhượng cho ông Lê Văn T3; 01 sơ đồ vị trí khu đất chuyển quyền sử dụng ngày 18/10/2001. Quá trình đặt làm giả hồ sơ, Q2 khai đưa cho D số tiền 25.000.000 đồng; D khai chỉ nhận từ Q2 số tiền 12.000.000 đồng đưa hết cho Đ; Đ khai lần này nhận từ D số tiền 15.000.000 đồng, giao cho H 10.000.000 đồng, còn lại 5.000.000 đồng Đ cho T2 1.500.000 đồng, còn lại Đ hưởng lợi 3.500.000 đồng; H khai chỉ nhận từ Đ số tiền 6.000.000 đồng giao hết cho Nguyễn Văn Q2 và không hưởng lợi. Ngày 08/10/2019, sau khi có được bộ hồ sơ giả đứng tên ông T3, Võ Minh Q đến gặp và giao hồ sơ này cho ông T3. Ông T3 xem xong hồ sơ thì thanh toán đủ số tiền mua bán đất còn lại. Bộ hồ sơ này, ông T3 cất giữ chưa sử dụng và đã giao nộp cho Cơ quan điều tra.

Đối với phần đất còn lại của thửa đất số 786, tờ bản đồ số 11 có diện tích 104m², Võ Minh Q đã bán lại cho vợ chồng ông Nguyễn Thái T4 và bà Lê Thị Bích N1 với giá tiền 300.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông T4 không yêu cầu hợp thức hồ sơ đất phải có tên mình, nên Q chỉ làm hợp đồng uỷ quyền sử dụng phần đất 104m² cho ông T4. Ngày 14/11/2019, vợ chồng Võ Minh Q và chị Phạm Thị Như H3 cùng vợ chồng ông T4 đến Văn Phòng công chứng Huỳnh Bá Đ2 làm thủ tục công chứng uỷ quyền. Công chứng viên sau khi kiểm tra hồ sơ đất ban đầu của Q, không phát hiện đây là con dấu, tài liệu giả nên vẫn xác nhận. Sau đó, ông T4 đã thanh toán đầy đủ số tiền mua đất như đã thoả thuận với Q.

Đến khoảng cuối năm 2019, thì vợ chồng ông T4 và vợ chồng ông Lê Anh D2 tiến hành đổ vật liệu chuẩn bị xây nhà thì bị tổ Quy tắc đô thị, UBND phường H xuống kiểm tra, lập biên bản yêu cầu dừng việc xây dựng trái phép lại.

Tại kết luận giám định số 513/KL-KTHS ngày 16 tháng 6 năm 2022 và số 632/KL-KTHS ngày 22 tháng 6 năm 2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng đã xác định: Các con dấu trên 02 bộ hồ sơ đất mà Q cung cấp cho ông T3 và ông D2 đều là con dấu giả; không đủ cơ sở kết luận chữ ký trên các tài liệu là thật hay giả.

- Đối với 01 bộ hồ sơ gốc thể hiện nội dung chuyển nhượng thửa đất số 768 giữa 01 bên là ông Nguyễn Văn Đ1 và bên nhận chuyển nhượng là Võ Minh Q, sau khi làm thủ tục công chứng uỷ quyền sử dụng lại cho ông Nguyễn Thái T4 thì Q đã làm thất lạc. Qua xác minh thì giữa Q và ông Đ1 hoàn toàn không có mối quan hệ gì và ông Đ1 đã chết từ năm 2002 nên đủ cơ sở khẳng định bản gốc các tài liệu này là giả.

* Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 01/3/2024, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 341; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Đ 04 năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án.

- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 341; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu D 04 năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án.

- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 341; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Thiện H 03 năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với bị cáo Võ Minh Q về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” với mức án 4 năm 6 tháng tù; phần xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, án phí và thông báo quyền kháng cáo.

- Trong thời hạn luật định, các bị cáo Nguyễn Hữu D (ngày 06/3/2024), Trần Thiện H (ngày 11/3/2024) có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo; Phạm Văn Đ (ngày 15/3/2024) kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Các bị cáo Nguyễn Hữu D, Phạm Văn Đ, Trần Thiện H thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử là đúng; các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, bị cáo D và H xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo, bị cáo Đ xin giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Nguyễn Hữu D, Phạm Văn Đ, Trần Thiện H cùng với người đồng phạm Võ Minh Q về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm khi quyết định hình phạt đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như xem xét nhân thân của các bị cáo; xử phạt bị cáo D và Đ mỗi bị cáo 04 năm tù; xử phạt bị cáo H 03 năm tù là phù hợp, không nặng. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, tuy các bị cáo có nộp thêm một số giấy tờ thể hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, lao động chính trong gia đình là các tình tiết mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng không làm thay đổi quyết định về hình phạt; nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của cả 03 bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm đã tuyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Phạm Văn Đ, Nguyễn Hữu D, Trần Thiện H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định:

Thửa đất số 786, tờ bản đồ số 11, diện 304m² tại phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng là loại đất “2 lúa”, thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình ông Nguyễn Văn Đ1. Sau khi ông Đ1 chết năm 2002, con trai ông Đ1 là ông Nguyễn Văn Q1 bán lại theo thỏa thuận viết tay với ông Ngô Huy . Đến năm 2011, bà Trần Thị K1 mua lại của ông H2 rồi bán cho Võ Minh Q ngày 06/6/2019, khi bán bà K1 có giao cho Võ Minh Q 01 bản sao y công chứng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 786, tờ bản đồ số 11, diện tích 304m², đứng tên hộ gia đình ông Đ1, 01 sơ đồ vị trí khu đất nói trên và bản gốc giấy mua bán viết tay giữa các bên.

Để hợp thức nguồn gốc đất đã mua bán không hợp lệ trước đó, cũng như có căn cứ để có thể đăng ký cấp giấy chứng nhận sau này và bán lại cho người khác, Võ Minh Q đã tự mình lấy thông tin của thửa đất rồi thuê đối tượng (không rõ lai lịch) làm giả 01 bộ hồ sơ ba lá để chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên từ tên người sử dụng cũ là ông Nguyễn Văn Đ1 sang tên Võ Minh Q với con dấu, chữ ký giả của Chủ tịch UBND xã H (cũ) gồm 03 tài liệu là: 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 05/9/2002 từ ông Nguyễn Văn Đ1 sang bên nhận chuyển nhượng là Võ Minh Q; 01 đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn Văn Đ1 sang bên nhận chuyển nhượng là Võ Minh Q; 01 sơ đồ vị trí thửa đất chuyển quyền sử dụng ghi ngày 26/9/2002.

Sau đó, do cần tiền nên Võ Minh Q tự ý tách thửa đất trên thành 03 thửa đất khác nhau để bán các thửa đất này cho ông Lê Anh D2 và ông Lê Văn T3; để bán được đất Võ Minh Q đã thông qua các bị cáo Nguyễn Hữu D, Phạm Văn Đ, Trần Thiện Hoàng cung c thông tin, đặt làm giả 02 bộ hồ sơ “3 lá” gồm các tài liệu sau đây:

- Bộ hồ sơ thứ nhất gồm: 01 hợp đồng chuyển nhượng đề ngày 02/10/2001 tại xã H từ ông Nguyễn Văn Đ1 chuyển nhượng cho ông Lê Anh D2; 01 đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/10/2001 từ ông Nguyễn Văn Đ1 chuyển nhượng cho ông Lê Anh D2; 01 sơ đồ vị trí khu đất chuyển quyền sử dụng ngày 25/10/2001, nhiều tài liệu có chữ ký, con dấu của Chủ tịch UBND xã H, huyện H (cũ).

- Bộ hồ sơ thứ hai gồm: 01 hợp đồng chuyển nhượng ngày 17/9/2001 tại UBND xã H từ ông Nguyễn Văn Đ1 chuyển nhượng cho ông Lê Văn T3 đối với diện tích 100m² đất; 01 đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 17/9/2001 từ ông Nguyễn Văn Đ1 chuyển nhượng cho ông Lê Văn T3; 01 sơ đồ vị trí khu đất chuyển quyền sử dụng ngày 18/10/2001.

Như vậy, có đủ căn cứ để xác định: Võ Minh Q đặt làm giả 03 bộ hồ sơ “ba lá” với 09 con dấu, tài liệu giả của UBND xã H (cũ); Nguyễn Hữu D, Phạm Văn Đ, Trần Thiện H đã đồng phạm giúp sức cho Võ Minh Q làm giả 02 bộ hồ sơ “ba lá” với 06 con dấu, tài liệu giả của UBND xã H (cũ).

Do đó, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 01/3/2024 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã xử phạt các bị cáo Võ Minh Q, Nguyễn Hữu D, Phạm Văn Đ, Trần Thiện H phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp “Làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả khác trở lên” là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Hữu D, Phạm Văn Đ, Trần Thiện H, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, có khung hình phạt từ 03 năm đến 07 năm tù; trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn thành phố, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý về đất đai và giao dịch chuyển nhượng liên quan đến đất đai, tiềm ẩn gây ra nhiều tranh chấp và hệ lụy xấu cho xã hội. Các bị cáo có đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, sẽ phải chịu các chế tài của pháp luật nhưng vì vụ lợi vẫn bất chấp thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, đối với các bị cáo cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[2.1] Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Văn Đ, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong vụ án này, bị cáo Đ nhận lời từ đối tượng tên Phùng Văn T2, nhận các thông tin liên quan đến thửa đất do bị cáo Nguyễn Hữu D cung cấp, Đ đã nhờ bị cáo Nguyễn Thiện H4 làm giả 02 bộ hồ sơ 3 lá với 06 con dấu, tài liệu giả của UBND xã H cũ; bị cáo Đ được hưởng lợi số tiền 4.500.000 đồng; bị cáo có nhân thân xấu có 01 tiền án chưa được xóa án tích do chưa thi hành nghĩa vụ dân sự của bản án đó nên phạm tội thuộc các trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm”, là các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà bị cáo phải chịu. Xét khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, vai trò phạm tội và nhân thân của bị cáo, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện nộp toàn bộ số tiền thu lợi bất chính; xử phạt bị cáo 04 năm tù là phù hợp, không nặng. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo tiếp tục bổ sung thêm tài liệu thể hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, thời điểm dịch bệnh Covid-19 bị cáo đã có đóng góp vào công tác phòng chống dịch được chính quyền địa phương xác nhận, nhưng Hội đồng xét xử xét thấy tình tiết này không làm thay đổi việc quyết định hình phạt của Tòa án cấp sơ thẩm; nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đ.

[2.2] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu D, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong vụ án này bị cáo nhận lời giúp Võ Minh Q vì nể nang bạn bè, không nhằm vụ lợi và thực tế cũng không chứng minh được bị cáo có vụ lợi; bị cáo hoàn toàn không quen biết bị cáo Đ hay bị cáo H4 mà chỉ thông qua đối tượng tên Phùng Văn T2 để gặp Đ; nên bị cáo chỉ giữ vai trò đồng phạm giúp sức không đáng kể trong vụ án; bị cáo chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 06 con dấu, tài liệu giả của UBND xã H cũ, trong khi bị cáo Võ Minh Q là người khởi xướng ra việc làm giả giấy tờ tài liệu, bị cáo Q cũng là người có lợi ích trong việc làm giả giấy tờ tài liệu của cơ quan Nhà nước để chuyển nhượng đất, bị cáo Q phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 09 giấy tờ, tài liệu giả và bị xử phạt 04 năm 6 tháng tù, nên hình phạt 04 năm tù đối với bị cáo D là có phần nghiêm khắc. Xét bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mẹ đã mất, bị cáo là lao động chính trong gia đình phải nuôi 02 con nhỏ chưa thành niên trong điều kiện đã ly hôn vợ. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; riêng nội dung kháng cáo xin hưởng án treo Hội đồng xét xử không chấp nhận vì bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, mỗi lần phạm tội đều là tội phạm nghiêm trọng.

[2.3] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Thiện H, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong vụ án này, bị cáo H là người nhận lời giúp bị cáo Đ trực tiếp liên hệ với đối tượng Nguyễn Văn Q2 (đã chết vào ngày 10/02/2022) để đặt làm giả 02 bộ hồ sơ nói trên, không chứng minh được bị cáo có hưởng lợi; tuy nhiên bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, mỗi lần phạm tội đều là tội phạm nghiêm trọng. Xét khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, vai trò phạm tội và nhân thân của bị cáo, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã từng tham gia nghĩa vụ quân sự; xử phạt bị cáo 03 năm tù (mức án khởi điểm của khung hình phạt) là phù hợp, không nặng. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo tiếp tục bổ sung thêm tài liệu thể hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, gia đình bị cáo có thân nhân tham gia cách mạng được tặng thưởng Bằng khen, nhưng các tài liệu này không được chính quyền địa phương xác nhận và xét thấy những tình tiết này cũng không làm thay đổi việc quyết định hình phạt của Tòa án cấp sơ thẩm; mức án đã tuyên là phù hợp, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo H.

[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Do không được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Đ và bị cáo H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo D được chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu D, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo D; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn Đ và bị cáo Trần Thiện H, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo Đ và H.

- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 341; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Đ: 04 (B) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 341; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu D: 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

- Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 341; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Trần Thiện H: 03 (Ba) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Văn Đ và bị cáo Trần Thiện H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo Nguyễn Hữu D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Đà Nẵng;
  • - Phòng HSNV CATP Đà Nẵng;
  • - TAND quận Cẩm Lệ;
  • - VKSND quận Cẩm Lệ;
  • - Cơ quan CSĐT CAQ Cẩm Lệ;
  • - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;
  • - Cơ quan THAHS CAQ Cẩm Lệ;
  • - Bị cáo;
  • - Vụ giám đốc kiểm tra 1;
  • - Lưu: HS; HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký và đóng dấu)

Trần Minh Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/HS-PT ngày 21/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 100/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thửa đất số 786, tờ bản đồ số 11, diện 304m2 tại phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng là loại đất “2 lúa”, thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình ông Nguyễn Văn Đ1. Sau khi ông Đ1 chết năm 2002, con trai ông Đ1 là ông Nguyễn Văn Q1 bán lại theo thỏa thuận viết tay với ông Ngô Huy . Đến năm 2011, bà Trần Thị K1 mua lại của ông H2 rồi bán cho Võ Minh Q ngày 06/6/2019, khi bán bà K1 có giao cho Võ Minh Q 01 bản sao y công chứng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 786, tờ bản đồ số 11, diện tích 304m², đứng tên hộ gia đình ông Đ1, 01 sơ đồ vị trí khu đất nói trên và bản gốc giấy mua bán viết tay giữa các bên. Để hợp thức nguồn gốc đất đã mua bán không hợp lệ trước đó, cũng như có căn cứ để có thể đăng ký cấp giấy chứng nhận sau này và bán lại cho người khác, Võ Minh Q đã tự mình lấy thông tin của thửa đất rồi thuê đối tượng (không rõ lai lịch) làm giả 01 bộ hồ sơ ba lá để chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên từ tên người sử dụng cũ là ông Nguyễn Văn Đ1 sang tên Võ Minh Q với con dấu, chữ ký giả của Chủ tịch UBND xã H (cũ) gồm 03 tài liệu là: 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 05/9/2002 từ ông Nguyễn Văn Đ1 sang bên nhận chuyển nhượng là Võ Minh Q; 01 đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Nguyễn Văn Đ1 sang bên nhận chuyển nhượng là Võ Minh Q; 01 sơ đồ vị trí thửa đất chuyển quyền sử dụng ghi ngày 26/9/2002. Sau đó, do cần tiền nên Võ Minh Q tự ý tách thửa đất trên thành 03 thửa đất khác nhau để bán các thửa đất này cho ông Lê Anh D2 và ông Lê Văn T3; để bán được đất Võ Minh Q đã thông qua các bị cáo Nguyễn Hữu D, Phạm Văn Đ, Trần Thiện Hoàng cung c thông tin, đặt làm giả 02 bộ hồ sơ “3 lá” gồm các tài liệu sau đây: - Bộ hồ sơ thứ nhất gồm: 01 hợp đồng chuyển nhượng đề ngày 02/10/2001 tại xã H từ ông Nguyễn Văn Đ1 chuyển nhượng cho ông Lê Anh D2; 01 đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/10/2001 từ ông Nguyễn Văn Đ1 chuyển nhượng cho ông Lê Anh D2; 01 sơ đồ vị trí khu đất chuyển quyền sử dụng ngày 25/10/2001, nhiều tài liệu có chữ ký, con dấu của Chủ tịch UBND xã H, huyện H (cũ). - Bộ hồ sơ thứ hai gồm: 01 hợp đồng chuyển nhượng ngày 17/9/2001 tại UBND xã H từ ông Nguyễn Văn Đ1 chuyển nhượng cho ông Lê Văn T3 đối với diện tích 100m² đất; 01 đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 17/9/2001 từ ông Nguyễn Văn Đ1 chuyển nhượng cho ông Lê Văn T3; 01 sơ đồ vị trí khu đất chuyển quyền sử dụng ngày 18/10/2001. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định: Võ Minh Q đặt làm giả 03 bộ hồ sơ “ba lá” với 09 con dấu, tài liệu giả của UBND xã H (cũ); Nguyễn Hữu D, Phạm Văn Đ, Trần Thiện H đã đồng phạm giúp sức cho Võ Minh Q làm giả 02 bộ hồ sơ “ba lá” với 06 con dấu, tài liệu giả của UBND xã H (cũ).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger