TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 100/2025/HNGĐ-ST Ngày 13-6-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Ngọc Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Lý
Ông Hoàng Đức Cảnh
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 86/2025/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025 tranh chấp về việc ly hôn, nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1986; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố I, phường P, thành phố T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Tổ dân phố L, phường L, thành phố T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Bùi Anh Đ, sinh năm 1984; nơi cư trú: Tổ dân phố I, phường P, thành phố T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 02 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị K (nguyên đơn) khai:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị K và anh Bùi Anh Đ xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T (nay là phường P, thành phố T), thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 74 ngày 26/9/2007. Quá trình chung sống, vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống tính cách. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả nên chị K đã chuyển tổ dan phố L, phường L sinh sống từ năm 2023 đến nay. Nay chị K nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị K yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn anh Bùi Anh Đ.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị K khai chị và anh Bùi Anh Đ có ba con chung là Bùi Tâm A, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2010; Bùi Thanh V, sinh ngày 25 tháng 8 năm 2012 và Bùi Chí H, sinh ngày 04 tháng 7 năm 2014. Từ khi sống ly thân cho đến nay, các con chung đều đang do anh Bùi Anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Do chị K sức khoẻ yếu, phải đi nhà thuê ở nên không đủ điều kiện để nuôi con. Vì vậy, chị K đề nghị Toà án giao cả 3 con chung cho anh Bùi Anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị K và anh Bùi Anh Đ tự thỏa thuận và giao nhận với nhau nên chị Nguyễn Thị K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị K không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn là anh Bùi Anh Đ cũng như đã nhiều lần triệu tập bị đơn đến Toà án để làm việc, nhưng anh Đ đều vắng mặt không có lý do và không giao nộp văn bản trình bày quan điểm, ý kiến của mình đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho Toà án.
Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
Thẩm phán đã xác định đúng về thẩm quyền giải quyết vụ án; về quan hệ pháp luật tranh chấp; về tư cách tham gia tố tụng; về việc thu thập chứng cứ; về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện Kiểm sát; việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự tại phiên tòa đã được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự
Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị K được ly hôn với anh Đ. Về con chung: Giao ba con chung Bùi Tâm A, Bùi Thanh V, Bùi Chí H cho anh Đ được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung: Chị K và anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết trong vụ án này. Về nghĩa vụ nộp án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị K phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc ly hôn. Bị đơn là anh Bùi Anh Đ có nơi cư trú tại tổ dân phố I, phường P, thành phố T, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủy Nguyên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị K và bị đơn là anh Bùi Anh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa, chị K có đề nghị xét xử vắng mặt; anh Đ đã triệu tập nhưng vắng mặt lần thứ 2 mà không có lý do chính đáng. Căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị K và anh Đ.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị K và anh Bùi Anh Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên là hôn nhân hợp pháp. Tài liệu điều tra xác minh thể hiện quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt. Mâu thuẫn đã được gia đình giải nhưng không có kết quả, chị K và anh Đ đã sống ly thân với nhau từ năm 2023 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét: Mâu thuẫn giữa chị K và anh Đ phát sinh kéo dài; mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình mà ở đó vợ chồng phải biết yêu thương, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt; phải được xây dựng trên nền tảng tình cảm, sự nỗ lực từ hai phía của cả vợ và chồng. Trên thực tế, quan hệ hôn nhân giữa chị K và anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét yêu cầu ly hôn của chị K là có căn cứ, cần chấp nhận theo quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị K và anh Bùi Anh Đ có ba con chung là ba con chung là Bùi Tâm A, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2010; Bùi Thanh V, sinh ngày 25 tháng 8 năm 2012 và Bùi Chí H, sinh ngày 04 tháng 7 năm 2014. Ly hôn, chị K có nguyện vọng để anh Đ được trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung. Anh Đ không có ý kiến, quan điểm về việc nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt và đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên. Tài liệu điều tra xác minh đều thể hiện anh Đ hiện đang là người trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung và vẫn đảm bảo về mọi mặt, anh Đ có chỗ ở và thu nhập ổn định. Bản thân gia đình anh Đ và con chung đều có nguyện vọng được ở với bố. Đồng thời chị K không có chỗ ở ổn định, hiện đang phải chữa bệnh. Vì vậy, cần giao các con chung Bùi Tâm A, Bùi Thanh V, Bùi Chí H cho anh Bùi Anh Đ được trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở là phù hợp với Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình và phù hợp với tình hình thực tế.
[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị K và anh Bùi Anh Đ tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[5] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị K và anh Bùi Anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị K phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị K và anh Bùi Anh Đ được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị K được ly hôn với anh Bùi Anh Đ.
- Về con chung: Giao ba con chung là Bùi Tâm A, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2010; Bùi Thanh V, sinh ngày 25 tháng 8 năm 2012 và Bùi Chí H, sinh ngày 04 tháng 7 năm 2014 cho anh Bùi Anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị K phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010459 ngày 19 tháng 3 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị K đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo đối với bản án: Chị Nguyễn Thị K và anh Bùi Anh Đ vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Ngọc Dũng |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Thị Lý | Hoàng Đức Cảnh | Lương Ngọc Dũng |
Bản án số 100/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 100/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
