Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2025/HNGĐ-ST

Ngày 19-3-2025

Về tranh chấp: Ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Định

Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Bảo

Bà Trịnh Thị Lan

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Công Thương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Trần Anh Đức - Kiểm sát viên.

Vào ngày 19 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 10/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/QÐST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1983; số Căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số C đường N, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1982; số Căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số C đường N, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện nộp ngày 08-01-2025, bản tự khai ngày 13-01-2025 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là chị Phạm Thị L trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Trần Văn T có thời gian tìm hiểu khoảng 01 năm. Sau đó, hai bên tổ chức lễ cưới trên cơ sở tự nguyện vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y (nay là xã T), huyện Ý, tỉnh Nam Định, tỉnh Nam Định vào ngày 22-9-2005.

Sau khi kết hôn, chị và anh Trần Văn T chung sống tại: Số nhà C đường N, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định. Cuộc sống vợ chồng diễn ra hòa thuận cho đến khoảng tháng 6 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra xô xát. Hiện tại, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không có khả năng khắc phục nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Trần Văn T được ly hôn.

Về con chung: Chị và anh Trần Văn T có 03 con chung: Trần Thảo L1, sinh ngày 20-12-2005; Trần Bảo L2, sinh ngày 10-6-2010 và Trần Bảo A, sinh ngày 31-10-2020. Con chung Trần Thảo L1 đã trưởng thành. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Trần Bảo L2 và Trần Bảo A.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Các vấn đề khác chị Phạm Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định đã nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Trần Văn T theo quy định của pháp luật nhưng anh Trần Văn T không đến Tòa án làm việc và không có lời khai tại Tòa án, không đưa ra quan điểm của mình đối với các yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị L.

Tại biên bản ghi nguyện vọng của con chung khi bố mẹ ly hôn ngày 14-01-2025 của cháu Trần Bảo L2, cháu xác định hiện tại đang sống cùng bố mẹ tại địa chỉ: Số nhà C đường N, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định, nếu bố mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với mẹ là Phạm Thị L.

Tại biên bản xác minh, thu thập chứng cứ ngày 14-01-2025 của Tòa án tại địa phương nơi cư trú của chị Phạm Thị L và anh Trần Văn T xác nhận: Vợ chồng hiện đang sống tại địa chỉ: Số nhà C đường N, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định. Về mâu thuẫn của vợ chồng thì vào năm 2022, chị L và anh T bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do kinh tế gia đình. Sau khi được chính quyền cơ sở hòa giải thành thì từ thời điểm đó đến nay chính quyền cơ sở không nắm được mâu thuẫn của vợ chồng.

3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa có quan điểm:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Những người tham gia tố tụng đã được bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Giai đoạn chuẩn bị xét xử và phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV.

  • - Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị L và anh Trần Văn T.
  • - Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị L trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Trần Bảo L2, sinh ngày 10-6-2010 và Trần Bảo A, sinh ngày 31-10-2020.
  • - Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.
  • - Tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị Phạm Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Buộc chị Phạm Thị L phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

1.1. Về tranh chấp được giải quyết trong vụ án:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là chị Phạm Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Trần Văn T; giải quyết về người trực tiếp nuôi con chung; không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng. Bị đơn anh Trần Văn T không có yêu cầu phản tố nên xác định tranh chấp trong vụ án là: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

1.2. Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bị đơn là anh Trần Văn T có địa chỉ cư trú tại số nhà C đường N, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định. Vì vậy, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

1.2. Về sự có mặt của các đương sự trong vụ án:

Nguyên đơn là chị Phạm Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Trần Văn T đã được tống đạt hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

2.1. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Phạm Thị L và anh Trần Văn T có thời gian tìm hiểu trong khoảng 01 năm. Sau đó, hai bên tổ chức lễ cưới trên cơ sở tự nguyện vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y (nay là xã T), huyện Ý, tỉnh Nam Định, tỉnh Nam Định vào ngày 22-9-2005.

Sau khi kết hôn, chị và anh Trần Văn T chung sống tại: Số nhà C đường N, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định. Cuộc sống vợ chồng diễn ra hòa thuận cho đến khoảng tháng 6 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra xô xát. Hiện tại, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không có khả năng khắc phục nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Trần Văn T được ly hôn.

Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị Phạm Thị L và anh Trần Văn T ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử có căn cứ cho ly hôn giữa chị Phạm Thị L và anh Trần Văn T theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

2.2. Về con chung:

Chị Phạm Thị L và anh Trần Văn T có 03 con chung: Trần Thảo L1, sinh ngày 20-12-2005, giới tính: Nữ; Trần Bảo L2, sinh ngày 10-6-2010, giới tính: Nam và Trần Bảo A, sinh ngày 31-10-2020 giới tính: Nam. Con chung Trần Thảo L1 đã trưởng thành nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Hiện 02 con Trần Bảo L2 và Trần Bảo A đang sinh sống cùng chị Phạm Thị L và anh Trần Văn T.

Xét thấy, cháu Trần Bảo L2 có nguyện vọng xin được ở với mẹ, cháu Trần Bảo A còn nhỏ, cần sự quan tâm chăm sóc của mẹ nhiều hơn và chị Phạm Thị L cũng có nguyện vọng được nuôi 02 con. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, căn cứ vào các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử giao cho chị Phạm Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là Trần Bảo L2, sinh ngày 10-6-2010, giới tính: Nam và Trần Bảo A, sinh ngày 31-10-2020 giới tính: Nam.

2.3. Về cấp dưỡng nuôi con chung:

Về cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận sự tự nguyện của chị Phạm Thị L không yêu cầu anh Trần Văn T cấp dưỡng nuôi con.

2.4. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng:

Chị Phạm Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí:

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV thì án phí trong vụ án sẽ được quyết định như sau:

Chị Phạm Thị L là nguyên đơn trong vụ án nên phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị L và anh Trần Văn T.

2. Về con chung:

Giao cho chị Phạm Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là Trần Bảo L2, sinh ngày 10-6-2010, giới tính: Nam và Trần Bảo A, sinh ngày 31-10-2020 giới tính: Nam.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận sự tự nguyện của chị Phạm Thị L không yêu cầu anh Trần Văn T cấp dưỡng nuôi con.

Chị Phạm Thị L và anh Trần Văn T vẫn có đầy đủ quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên theo quy định của pháp luật. Không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền, nghĩa vụ thăm nom con. Người không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Phạm Thị L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị Phạm Thị L đã nộp tại biên lai số 0002564 ngày 09-01-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định. Chị Phạm Thị L đã nộp đủ án phí.

4. Quyền kháng cáo:

Chị Phạm Thị L và anh Trần Văn T có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND thành phố Nam Định;
  • - Chi cục THADS tp. Nam Định;
  • - UBND x. Tân Minh, h.Ý Yên, t. Nam Định;
  • (ĐKKH số 67 ngày 22-09-2005, x.Yên Lợi)
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Phạm Thị Thu Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2025/HNGĐ-ST ngày 19/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 100/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger