Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 10/3/2025

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trường

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Kim Hồng

Ông Nguyễn Văn Hoàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 13/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Thôn C, xã N, huyện G, tỉnh Hải Dương.

- Bị đơn: Chị Phạm Thị Tuyết L, sinh năm 1991.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn C, xã N, huyện G, tỉnh Hải Dương. Chỗ ở hiện nay: Singapore.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị Hồng T1, sinh năm 1989, địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Anh T, chị L và chị T1 đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt, anh Phạm Văn T trình bày:

Anh và chị Phạm Thị Tuyết L tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N (nay là Nhật Q), huyện G, tỉnh Hải Dương ngày 19/8/2019 và được gia đình hai bên tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, chị L chuyển về gia đình nhà anh để sinh sống. Quá trình chung sống vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không thống nhất được với nhau về việc làm ăn kinh tế. Tháng 01/2023 chị L đi Singapore lao động, còn anh ở lại Việt Nam làm việc. Thời gian xa cách nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, thời gian đầu năm 2025 chị L về Việt Nam thăm gia đình nhưng không về nhà anh sinh sống mà về nhà bố mẹ đẻ tại Phú Thọ để ở. Nay anh xác định vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phạm Thị Tuyết L.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Minh L1, sinh ngày 20/8/2017 và Phạm Minh Đ, sinh ngày 08/01/2021. Anh và chị L thống nhất để anh nuôi dưỡng cháu Đ, còn chị L nuôi dưỡng cháu L1. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau. Trong thời gian chị L lao động ở nước ngoài, chị L ủy quyền chị gái là chị Phạm Thị Hồng T1 thay mặt chị L chăm sóc cháu L1 cho đến khi chị L về nước, anh nhất trí.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn chị Phạm Thị Tuyết L trình bày: Về thời điểm kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn như anh T trình bày là đúng. Anh T có quan điểm xin ly hôn, chị xác định mâu thuẫn vợ chồng không thể hòa giải nên nhất trí ly hôn với anh T. Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Minh L1, sinh ngày 20/8/2017 và Phạm Minh Đ, sinh ngày 08/01/2021. Vợ chồng thỏa thuận để anh T nuôi dưỡng cháu Đ, còn chị nuôi dưỡng cháu L1. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau. Ngày 14/02/2025 chị phải quay lại Singapore để tiếp tục công việc, chị nhờ chị gái ruột là chị Phạm Thị Hồng T1 thay chị chăm sóc cháu L1. Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Các văn bản Tòa án giao cho chị đề nghị giao cho chị Phạm Thị Hồng T1.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị Hồng T1 trình bày: Chị L nhờ chị thay chị L chăm sóc cháu Phạm Minh L1, sinh ngày 20/8/2017 trong thời gian chị L làm việc ở nước ngoài, chị nhất trí. Các văn bản Tòa án giao cho chị L, chị xác định nhận thay và sẽ có trách nhiệm thông báo giao lại cho chị L.

Tại phiên tòa: Anh T có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; chị L, chị T1 có quan điểm xin vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Xử cho anh Phạm Văn T ly hôn chị Phạm Thị Tuyết L; Về con chung: Giao cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Phạm Minh Đ, sinh ngày 08/01/2021; giao cho chị L được trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Phạm Minh L1 sinh ngày 20/8/2017. Chấp nhận sự tự nguyện hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau. Tạm giao cháu Phạm Minh L1 cho chị Phạm Thị Hồng T1 chăm sóc trong thời gian chị L không ở Việt Nam. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết; Về án phí: Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Anh Phạm Văn T có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa anh và chị Phạm Thị Tuyết L. Chị L hiện đang sinh sống và lao động tại Singapore, chị L có địa chỉ trước khi xuất cảnh tại huyện G, tỉnh Hải Dương. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Tại phiên tòa anh T, chị L và chị T1 đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T, chị L và chị T1.

[2] Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Văn T và chị Phạm Thị Tuyết L được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N (nay là Nhật Q), huyện G, tỉnh Hải Dương vào ngày 19/8/2019 là hôn nhân hợp pháp. Năm 2023, chị L đi xuất khẩu lao động tại Singapore đến nay chưa về nước, còn anh T ở Việt Nam sinh sống và làm việc. Anh T xác định vợ chồng không còn quan tâm đến nhau trong cuộc sống, năm 2025 chị L về Việt Nam thăm gia đình nhưng không về chung sống cùng anh T, nay anh T có đơn xin ly hôn, chị L có quan điểm nhất trí ly hôn. Xét thấy, cuộc sống hôn nhân giữa anh T và chị L không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho anh T ly hôn chị L là phù hợp.

[2.2]. Về con chung: Anh T và chị L có 02 con chung là Phạm Minh L1, sinh ngày 20/8/2017 và Phạm Minh Đ, sinh ngày 08/01/2021. Ly hôn vợ chồng thỏa thuận anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đ, còn chị L chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L1, hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.

Xét thấy, cháu L1 có nguyện vọng được ở với mẹ, cháu Đ đang có cuộc sống ổn định cùng gia đình anh T. Để ổn định cuộc sống cũng như học tập của con chung cần chấp nhận thỏa thuận của vợ chồng, giao cháu Phạm Minh Đ cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng, giao cháu Phạm Minh L1 cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung trưởng thành. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tạm giao cháu Phạm Minh L1 cho chị Phạm Thị Hồng T1 chăm sóc trong thời gian chị L không ở Việt Nam.

Anh Phạm Văn T, chị Phạm Thị Tuyết L được quyền thăm nom các con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Anh T phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Phạm Văn T ly hôn chị Phạm Thị Tuyết L

2. Về con chung: Giao cho anh Phạm Văn T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phạm Minh Đ, sinh ngày 08/01/2021, giao chị Phạm Thị Tuyết L chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phạm Minh L1, sinh ngày 20/8/2017 kể từ khi ly hôn đến khi con chung tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau. Tạm giao cháu L1 cho chị Phạm Thị Hồng T1 chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị L không ở Việt Nam.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Phạm Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005483 ngày 14/01/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.

4. Về quyền kháng cáo: Anh Phạm Văn T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật; Chị Phạm Thị Tuyết L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã Nhật Quang, huyện Gia Lộc
  • (để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa HC, Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2025/HNGĐ-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn

  • Số bản án: 100/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T xin ly hôn Phạm Thị Tuyết L, tranh chấp nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger