Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2025/DS-ST

Ngày: 06/3/2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa
  2. Bà Nguyễn Văn Quản

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Bình – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: ông Phạm Văn Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 721/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 90/2025/QÐST-DS ngày 10 tháng 02 năm 2025, giữa:

  1. Nguyên đơn: Công ty T (Việt Nam);

    Trụ sở: I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lâm Thị Thùy D, sinh năm 2000;

    Địa chỉ liên hệ: P, Tầng D, Tòa nhà số G T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt).

  2. Bị đơn: Ông Đoàn Phi D1, sinh năm 1999;

    Địa chỉ: 3 Khu phố D (Khu phố G cũ), phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 24/4/2024, Bản tự khai ngày 19/12/2024 và các bảng tính lãi thì nguyên đơn - Công ty T (Việt Nam) (gọi tắt là Công ty) và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn - bà Lâm Thị Thùy D trình bày:

Ngày 07/11/2022, Công ty T (Việt Nam) ký Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3891869 (ngày đề nghị 04/11/2022) về việc cấp tín dụng cho ông Đoàn Phi D1, chi tiết như sau: số tiền vay: 32.310.000.000 đồng (Gồm: 30.000.000 đồng tiền giải ngân qua số tài khoản 2389731 mở tại Ngân hàng TMCP Á và 2.310.000 đồng phí bảo hiểm); mục đích vay: Mua hàng; thời hạn vay: 24 tháng; lãi suất vay: 48%/năm.

Sau khi được giải ngân, ông D1 đã thanh toán được số tiền là 11.665.708 đồng, trong đó: nợ gốc đã trả là 6.159.446 đồng; nợ lãi đã trả là 5.439.780 đồng; lãi chậm trả đã trả là 6.482 đồng; phí thu hộ đã trả là 60.000 đồng. Tuy nhiên, từ ngày 13/12/2023, ông D1 đã không thanh toán đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty đã giải ngân.

Tính đến ngày 06/3/2025, ông D1 còn nợ Công ty số tiền là 57.891.193 đồng. Công ty đã nhiều lần gửi các thông báo nhắc nợ nhưng ông D1 vẫn cố tình không thanh toán nên Công ty thực hiện việc khởi kiện ông Đoàn Phi D1 đến Tòa án.

Nay, Công ty T (Việt Nam) yêu cầu Tòa án giải quyết: buộc ông Đoàn Phi D1 thanh toán toàn bộ khoản vay với tổng số tiền tính đến ngày 06/3/2025 là: 57.891.193 đồng. Trong đó: số tiền nợ gốc là 26.150.554 đồng; số tiền lãi trong hạn là 11.043.928 đồng; số tiền lãi quá hạn là 19.147.867 đồng; số tiền lãi chậm trả là 1.548.844 đồng. Ngoài ra, yêu cầu Tòa án buộc ông Đoàn Phi D1 phải thanh toán lãi phát sinh kể từ ngày 07/3/2025 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật.

Tại phiên tòa:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, giữ nguyên yêu cầu như đã trình bày.

Bị đơn ông Đoàn Phi D1 đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ đến lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên vụ án được đưa ra xét xử vắng mặt bị đơn

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến như sau:

  • - Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng: Đúng trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự.
  • - Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

- Công ty T (Việt Nam) khởi kiện yêu cầu ông Đoàn Phi D1 phải trả tiền nợ cho Công ty theo hợp đồng tín dụng được ký kết giữa các bên. Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về hợp đồng tín dụng.

- Theo xác nhận của Công an phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, thể hiện “Nhân khẩu Đoàn Phi D1, sinh năm 1999 không thực tế cư trú tại 362/13/31/5 Khu phố D, phường H, Quận A (có đăng ký thường trú nhưng hiện tại đã bỏ đi đâu không rõ). Căn cứ theo Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 04/7/2022; hợp đồng tín dụng thể hiện đương sự có địa chỉ như trên, nên việc ông D1 bỏ đi khỏi địa phương, thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng mà không thông báo cho nguời khởi kiện biết về nơi cư trú mới theo quy định tại Khoản 3 Điều 40 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ.

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26; điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a Khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Về thủ tục tố tụng:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn ông Đoàn Phi D1 đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ đến lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Điều này thể hiện ông D1 không chấp hành pháp luật, không hợp tác với Tòa án, làm cho vụ án bị kéo dài, gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

Căn cứ theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

3. Về yêu cầu của đương sự:

Căn cứ vào lời khai và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, có đủ cơ sở xác định:

Vào ngày 07/11/2022, ông Đoàn Phi D1 có vay tiền của Công ty T (Việt Nam) thông qua Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3891869 (ngày đề nghị 04/11/2022) với số tiền vay 32.310.000.000 đồng (Gồm: 30.000.000 đồng tiền giải ngân qua số tài khoản 2389731 mở tại Ngân hàng TMCP Á và 2.310.000 đồng phí bảo hiểm); Lãi suất vay: 48%/năm.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3891869 ngày 07/11/2022 (ngày đề nghị 04/11/2022) do hai bên giao kết hợp pháp, trên cơ sở tự nguyện. Hợp đồng được lập thành văn bản và có chữ ký của các bên. Căn cứ theo quy định tại các điều 117, 118, 119 và 463 của Bộ luật dân sự năm 2015; điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, hợp đồng nêu trên là hợp pháp, phù hợp về hình thức và nội dung, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên theo nội dung các thỏa thuận.

Bị đơn vay tiền của nguyên đơn nhưng đã không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng nên nguyên đơn khởi kiện là hoàn toàn có cơ sở, phù hợp với thỏa thuận của các bên, đồng thời phù hợp với các Điều 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Theo đại diện ủy quyền của nguyên đơn thì tính đến ngày 06/3/2025 bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền là 57.891.193 đồng. Trong đó: số tiền nợ gốc là 26.150.554 đồng; số tiền lãi trong hạn là 11.043.928 đồng; số tiền lãi quá hạn là 19.147.867 đồng; số tiền lãi chậm trả là 1.548.844 đồng.

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả 01 lần toàn bộ khoản nợ, ngoài ra bị đơn vẫn phải chịu các khoản lãi phát sinh theo hợp đồng mà hai bên ký kết từ ngày 07/3/2025 cho đến khi trả dứt nợ.

Tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 còn có quy định về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh như sau: Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành thông báo về việc thụ lý vụ án cho bị đơn nhưng bị đơn đã không có bất kỳ ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án tiếp tục triệu tập các đương sự tham gia các phiên hòa giải và bị đơn thường xuyên, liên tục vắng mặt không có lý do, nên việc hòa giải đã không thể tiến hành. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị đơn tiếp tục vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là hoàn toàn phù hợp với các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các tình tiết, sự kiện do nguyên đơn đưa ra không bị bất kỳ đương sự nào phản đối, nên nguyên đơn không cần phải chứng minh gì thêm.

Xét ý kiến, yêu cầu của nguyên đơn có cơ sở và căn cứ pháp lý nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Cần phải buộc bị đơn giao trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền còn nợ phát sinh từ Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3891869 ngày 07/11/2022 (ngày đề nghị 04/11/2022) là 57.891.193 đồng. Thực hiện trả ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, bị đơn vẫn phải chịu các khoản lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết tính từ ngày 07/3/2025 cho đến khi thi hành án xong.

4. Về án phí:

Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch là 2.894.560 đồng.

Hoàn cho Công ty T (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí là: 930.795 đồng, theo biên lai thu tiền án phí lệ phí Tòa án số 0016905 ngày 10/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 144, Khoản 1 Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các điều 117, 118, 119, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323 và 463 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ vào Luật phí, lệ phí năm 2015;

Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T (Việt Nam).

    Buộc ông Đoàn Phi D1 thanh toán 01 lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, số tiền còn nợ theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3891869 (ngày đề nghị 04/11/2022) do hai bên xác lập ngày 07/11/2022 là 57.891.193 (năm mươi bảy triệu tám trăm chín mươi mốt ngàn một trăm chín mươi ba) đồng. Trong đó: số tiền nợ gốc là 26.150.554 (hai mươi sáu triệu một trăm năm mươi ngàn năm trăm năm mươi bốn) đồng; số tiền lãi trong hạn là 11.043.928 (mười một triệu không trăm bốn mươi ba ngàn chín trăm hai mươi tám) đồng; số tiền lãi quá hạn là 19.147.867 (mười chín triệu một trăm bốn mươi bảy ngàn tám trăm sáu mươi bảy) đồng; số tiền lãi chậm trả là 1.548.844 (một triệu năm trăm bốn mươi tám ngàn tám trăm bốn mươi bốn) đồng.

    Ông Đoàn Phi D1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày 07/3/2025 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật.

  2. Về án phí:
    • - Ông Đoàn Phi D1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 2.894.560 (hai triệu tám trăm chín mươi bốn ngàn năm trăm sáu mươi) đồng.
    • - Hoàn cho Công ty T (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí là: 930.795 (chín trăm ba mươi nghìn bảy trăm chín mươi lăm) đồng, theo biên lai thu tiền án phí lệ phí Tòa án số 0016905 ngày 10/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:

    Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  4. Quyền kháng cáo:

    Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Quận 12;
  • - Chi cục THADS Quận 12;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2025/DS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 100/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger