|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 100/2025/HS-ST Ngày: 25-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Đình Túy
Bà Nguyễn Thị Thưởng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Phương - Thư ký Tòa án TP Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Tạ Thị Hằng - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 108/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Hữu H, sinh năm 1996 tại Thanh Hóa; Số CCCD: [...] ĐKHK: thôn D, xã T, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nơi ở hiện nay: số nhà C T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Hữu V và bà: Trần Thị V1; Tiền án; tiền sự: không; nhân thân: tháng 9/2015 bị Công an phường Đ, thành phố T xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, năm 2017 bị Công an phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, năm 2020 bị TAND thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xử phạt 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chấp hành án xong ngày 12/01/2022, đã nộp án phí); tạm giữ: ngày 25/10/2024; tạm giam: 31/10/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23h40 phút ngày 24/10/2024, tổ công tác Công an phường Đ, thành phố T kiểm tra phòng trọ của Phạm Hữu H tại số nhà C, T, phường Đ phát hiện trên sàn nhà gần cửa ra vào có 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai màu xanh, thân chai đục lỗ gắn ống hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng bị cháy xém và 01 gói giấy bạc bên trong chứa 02 viên nén hình tròn màu đỏ, H khai là ma túy cất giấu để sử dụng.
Tại cơ quan điều tra H đầu thú và khai nhận: Khoảng 16h ngày 24/10/2024 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên H đã mua 03 viên ma túy hồng phiến của người đàn ông tên Q (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 500.000 đồng tại khu vực bãi B, phường Đ, thành phố T. Sau khi mua được ma túy, H mang về phòng trọ ở C T, phường Đ sử dụng hết 01 viên, còn 02 viên chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện, thu giữ.
Tại bản kết luận giám định số 4069/KL-KTHS ngày 29/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: 02 viên nén hình tròn màu đỏ là ma túy, có tổng khối lượng 0,203gam, loại Methamphetamine.
Về vật chứng: 02 viên ma túy thu giữ; 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai màu xanh, thân chai đục lỗ gắn ống hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng bị cháy xém. Cơ quan điều tra chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa để xử lý theo quy định.
Đối với hành vi Phạm Hữu H đã sử dụng ma túy vào ngày 24/10/2024. Ngày 15/01/2025 Công an thành phố T Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H
Đối với người đàn ông tên Q bán ma túy cho H (quý không biết nhân thân, lai lịch của người này. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không có người nào tên Q có đặc điểm như Hóa khai báo nên không có căn cứ để xử lý.
Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá truy tố bị cáo Phạm Hữu Hóa về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 18 đến 24 tháng tù. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng và án phí.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiền hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án thấy đủ cơ sở chứng minh: Vào khoảng 23h40 phút ngày 24/10/2024, tại phòng trọ số C T, phường Đ, thành phố T. Phạm Hữu H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có tổng khối lượng 0,203gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của Phạm Hữu H có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở và đúng pháp luật.
[3] Tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm hại trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Mặc dù, bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng bị cáo vẫn tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an chung cần phải xử lý nghiêm minh để giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Nhân thân, trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị các cơ quan pháp luật cải tạo, giáo dục nhiều lần nhưng vẫn tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo không chịu rèn luyện bản thân, coi thường pháp luật. Với tính chất nghiêm trọng của loại tội phạm về ma túy, mức độ và hành vi phạm tội thì việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, căn cứ Điều 38 Bộ luật hình sự.
Khi áp dụng hình phạt cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo vì: tại các cơ quan pháp luật bị cáo thành khẩn khai báo, đầu thú theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: do bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng, không có tính chất vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng: Toàn bộ số ma túy thu giữ được niêm phong bằng phong bì thư là vật nhà nước cấm lưu hành; 01 chai nhựa màu, nắp chai màu xanh, thân chai đục lỗ gắn ống hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng bị cháy xém bị cáo sử dụng để dùng ma túy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy. Căn cứ khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hữu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Phạm Hữu H 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 25/10/2024.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy gồm: số ma túy còn lại sau giám định trong phong bì ma túy niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T; 01 chai nhựa màu, nắp chai màu xanh, thân chai đục lỗ gắn ống hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng bị cháy xém.
Toàn bộ số vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 60/2025/THA ngày 12/12/2025.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm
Bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án đối với khoản tiền án phí theo quy định tại các Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị T |
4
Bản án số 100/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HÓA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 100/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình sự
