Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/HS-PT

Ngày 13 tháng 12 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hà.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền và ông Vũ Duy Luân.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Mạnh Tính - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 178/2024/TLPT-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Bùi Tiến Đ do có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 109/2024/HS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

  1. Bị cáo kháng cáo: Bùi Tiến Đ, sinh ngày 01/11/1992 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 12/12; con ông Bùi Văn Đ1 và bà Quách Thị Đ2; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/6/2024 đến nay, có mặt.
  2. Bị hại có kháng cáo: Ông Bùi Thanh H, sinh năm 1969; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình. Có mặt.
  3. Người làm chứng:
    1. Ông Bùi Văn Đ1, sinh năm 1964; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình. Có mặt.
    2. Ông Nguyễn Văn Đ3, sinh năm 1972; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình. Có mặt.
    3. Ông Nguyễn Đức C, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
    4. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Gia đình bị cáo Đ và ông Bùi Thanh H có quan hệ họ hàng, hai nhà sát nhau. Tuy nhiên, quá trình sinh sống thường xuyên cãi chửi nhau liên quan đến tranh chấp đất đai. Khi bị cáo đang ở Nhật Bản thì được nghe kể lại mẹ bị cáo bị ông H đánh nên rất bức xúc. Ngày 23/12/2023, bị cáo về nước, đến khoảng 15 giờ 20 phút ngày 23/12/2023, bị cáo Đ nhìn thấy ông H điều khiển xe mô tô đi qua ngõ nhà Đ, Đ chạy theo bảo ông H: “Ông kia, sao ông ở nhà lại đánh bố mẹ tôi”, ông H dừng xe rồi hai bên lời qua tiếng lại, ông H bảo: “Mày thích thì mày ra đây”, bị cáo Đ chạy đến chỗ ông H đứng rồi ôm, vật ông H xuống đường, Đ ngồi lên bụng của ông H và dùng tay phải đấm 4-5 nhát vào vùng mặt ông H, ông H cũng đấm mấy nhát vào người bị cáo Đ. Lúc này ông Đ1 chạy đến kéo Đ ra, ông H đứng dậy lấy trong túi quần đang mặc ra một chiếc chìa khoá xe máy để đánh lại Đ. Thấy vậy, Đ cậy lấy một miếng vữa có dính mảnh thuỷ tinh trên mặt bờ tường bao gần đấy, cầm ở tay phải ném một nhát trúng vào tay phải của ông H (không gây thương tích), sau đó tiếp tục xông đến đánh ông H. Ông H cầm chìa khoá xe máy ở tay phải đâm trúng một nhát vào cẳng tay phải của Đ, gây thương tích cho bị cáo Đ với tỷ lệ thương tích là 1%. Bị cáo Đ lùi lại nhặt gạch vữa ở đường ném về phía ông H. Sau khi được can ngăn, ông H đi về nhà, còn Đ nhặt một viên vữa ở đường ném vào yếm xe và dùng chân đạp đổ xe mô tô của ông H xuống rãnh thoát nước rồi đi về nhà băng bó vết thương.

Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể số 277/KLTTCT-TTPY ngày 10/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T đối với thương tích của ông Bùi Thanh H kết luận: Trên cơ thể của ông H tại thời điểm giám định có 03 thương tích: Mi trên mắt trái có vết sẹo kích thước 1,5cm x 0,1cm, tỷ lệ thương tích 3%; mẻ bản ngoài xương sọ (hình ảnh mất liên tục bờ ngoài xương trán, kích thước 4mm), tỷ lệ thương tích 5%; gãy xương chính mũi, tỷ lệ thương tích 8%. Thương tích gãy cũ cung tiếp gò má phải (tổn thương cũ, không xảy ra trong vụ việc ngày 23/12/2023): Không có điểm tỷ lệ. Viễn thị, giảm thị lực (tiền sử chấn thương dụng dập nhãn cầu cách 04 tháng), không có căn cứ cho điểm tỷ lệ theo thông tư. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với ông H tại thời điểm giám định là 15%. Cơ chế hình thành vết thương: Do vật tày cứng tác động trực tiếp gây nên.

Bản án hình sự sơ thẩm số 109/2024/HS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Tiến Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Tiến Đ 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 587, 590 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Đ phải bồi thường cho ông H các khoản chi phí cứu chữa, bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ, thu nhập thực tế bị mất, chi phí thực tế bị mất của người chăm sóc, tổn thất tinh thần, tổng số tiền là: 38.530.000 đồng. Đối trừ số tiền 16.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại biên lai thu tiền số 0002364 ngày 22/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, còn lại buộc bị cáo Đ phải bồi thường tiếp cho ông H 22.530.000 đồng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra Quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thanh toán xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Trả lại ông H 01 chìa khoá xe máy Honda Wave S110, dài 10cm, đầu chìa khoá bằng nhựa màu đen, thân chìa khoá bằng kim loại đã qua sử dụng. Tịch thu 01 chiếc áo khoác bằng len màu trắng đục đã qua sử dụng và 04 hộp bìa cát tông được niêm phong ký hiệu mẫu M1, mẫu M2, mẫu M3 và mẫu M4 để tiêu huỷ.
  5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Bùi Tiến Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.126.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngày 20/9/2024, bị cáo Bùi Tiến Đ kháng cáo xin được hưởng án treo.

Ngày 23/9/2024, bị hại ông Bùi Thanh H kháng cáo các nội dung sau:

  • Về tội danh: Bị cáo Đ thực hiện hành vi truy sát tới cùng, nếu không có sự phản kháng của bị hại, vì vậy cần phải xác định đây là tội giết người có chủ đích nhưng không thành. Tội phạm diễn ra có đồng phạm, bị hại bị tấn công từ phía sau nhưng sau khi phạm tội bị cáo lại còn đổ tội cho bị hại. Bị cáo Đ còn phá hoại xe máy là phương tiện đi lại chăm sóc bà ngoại đã 95 tuổi. Vì vậy, cần phải tăng hình phạt đối với bị cáo Đ với tội danh “Giết người”.
  • Về trách nhiệm dân sự: Giải quyết hóa đơn viện phí chưa đầy đủ, mức bồi thường thấp nên cần phải tăng mức bồi thường.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đ giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo, vì bị cáo cho rằng: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, bị cáo đã rất ân hận về hành vi phạm tội của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Bùi Thanh H vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày: Trong vụ án này còn bỏ lọt tội phạm là ông Bùi Văn Đ1, vì ông Đ1 là người giúp sức tích cực cho bị cáo Đ thực hiện hành vi phạm tội với bị hại. Đồng thời có hành vi truy sát tới cùng nên hành vi của bị cáo phải là giết người. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì ông đề nghị theo quy định của pháp luật.

Người làm chứng là ông Nguyễn Văn Đ3 trình bày: Thời điểm xảy ra vụ việc ông đang làm thợ xây ở khu vực ngõ nhà bị cáo Đ, ông nhìn thấy có 02 người vật lộn với nhau, không có người thứ ba.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của bị cáo, bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm về tội danh, hình phạt và mức bồi thường đối với bị cáo.

Bị cáo Bùi Tiến Đ không tranh luận gì.

Ông Bùi Thanh H tranh luận: Ông không đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bản án sơ thẩm giải quyết là không đúng pháp luật.

Bị cáo Đ nói lời sau cùng: Sau khi phạm tội bị cáo rất ân hận hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã nộp đầy đủ số tiền bồi thường cho bị hại, bản thân có nhân thân tốt, nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo của bị cáo, bị hại gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định là hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của của bị cáo Bùi Tiến Đ: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã xác định. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra đã thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định: Do gia đình bị cáo và bị hại có mâu thuẫn với nhau từ trước về tranh chấp đất đai nên khoảng 15 giờ 20 phút ngày 23/12/2023 tại khu vực ngõ nhà bị cáo Bùi Tiến Đ, bị cáo đã có hành vi dùng tay phải đấm 4-5 cái vào mặt ông H, gây thương tích cho ông H với tổng tỷ lệ tổn thương là 15%. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức pháp luật tốt, lẽ ra bị cáo là người có nhận thức tốt, có thể lựa chọn phương thức giải quyết mâu thuẫn tốt hơn bằng con đường hoà giải, đối thoại nhưng bị cáo lại lựa chọn sử dụng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời còn xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an xã hội. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Bùi Tiến Đ 07 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích" theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Đ xuất trình thêm 02 biên lai nộp tiền bồi thường thiệt hại cho bị hại nhưng đây không phải là tình tiết mới để làm căn cứ xem xét, chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Xét kháng cáo của ông Bùi Thanh H về tội danh và hình phạt thì thấy: Bị hại cho rằng vụ án diễn ra còn có đồng phạm khác là ông Bùi Văn Đ1, giúp sức tích cực cho bị cáo Đ thực hiện hành vi phạm tội đối với bị hại. Nhưng tại phiên toà, người làm chứng là ông Nguyễn Văn Đ3 khai, khi nghe thấy cãi chửi nhau ở ngõ nhà ông Đ1 thì ông chỉ nhìn thấy có hai người đang vật lộn với nhau, không nhìn thấy có ai khác tham gia. Như vậy, lời khai của bị cáo và người làm chứng trực tiếp phù hợp với nhau nên có căn cứ xác định thương tích của ông H chỉ do một mình bị cáo Đ gây ra, không có đồng phạm nào khác giúp sức. Đánh giá về nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo Đ thì thấy, giữa gia đình bị cáo và bị hại có mâu thuẫn với nhau từ trước, đồng thời trước khi xảy ra sự việc hai bên có chửi nhau qua lại, bị cáo Đ sử dụng tay không đấm vào mặt ông H, gây thương tích tại vùng mũi, trán, mi mắt. Các thương tích bị cáo gây ra cho bị hại phù hợp với biên bản khám nghiệm thân thể của bị hại được Cơ quan Công an xã tiến hành sau khi xảy ra sự việc, phù hợp với lời khai của bị cáo, của người làm chứng là ông Nguyễn Văn Đ3 về việc bị cáo sử dụng tay để gây thương tích cho bị hại. Bản thân bị hại khi nhập viện điều trị vết thương tại Bệnh viện Đ4 đều trình bày với bác sĩ về việc “03 ngày trước bị người khác đấm nhiều nhát vào mặt”. Điều này hoàn toàn có căn cứ để xác định bị cáo không sử dụng hung khí nào để gây thương tích cho bị hại mà sử dụng tay không. Mặt khác, với thương tích gây ra không lớn, không phải là những vùng trọng yếu trên cơ thể, có nguy cơ dẫn đến chết người, bị cáo Đ thực hiện hành vi phạm tội không có sự chuẩn bị tự trước, không sử dụng hung khí, mà do bột phát thấy ông H đi qua nên chạy ra chửi nhau và đánh ông H, không có ý định tước đoạt sinh mạng của ông H. Do vậy, với các thương tích trên cơ thể của ông H và tổng tỷ lệ thương tích trên cơ thể ông H là 15% nên Toà án nhân dân huyện Hưng Hà đã tuyên bố bị cáo Bùi Tiến Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích” và xử phạt bị cáo Đ 07 tháng tù là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo Đ không cấu thành tội “Giết người” như nội dung kháng cáo của bị hại đã trình bày. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Đ.

[4] Xét kháng cáo tăng trách nhiệm bồi thường đối với bị cáo thì thấy: Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét các yêu cầu bồi thường của bị hại về chi phí thuê xe khám chữa bệnh, các khoản chi phí cứu chữa, bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ, thu nhập thực tế bị mất, chi phí thực tế bị mất của người chăm sóc, tổn thất tinh thần, chi phí sửa chữa xe với tổng số tiền là: 38.530.000 đồng là phù hợp. Ông H cung cấp thêm 03 hoá đơn sửa chữa xe ngày 25/7/2024, ngày 29/7/2024 và ngày 09/8/2024 với tổng số tiền 2.054.000 đồng và yêu cầu bị cáo phải bồi thường chi phí sửa chữa xe này là không có có căn cứ. Bởi, thời điểm bị cáo gây hư hỏng xe của ông H, theo kết luận định giá xác định trị giá các bộ phận trên xe bị hư hỏng là 900.000 đồng và Toà án cấp sơ thẩm đã buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ khoản tiền này là đúng pháp luật. Các hoá đơn sửa chữa xe ông H cung cấp đều thực hiện sau ngày có kết luận định giá, xác định hư hỏng xe do hành vi của bị cáo gây ra do đó các chi phí sửa chữa này không có căn cứ buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại. Tại phiên tòa phúc thẩm ông H đề nghị Toà án giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Xét thấy mức bồi thường của Toà án cấp sơ thẩm là phù hợp, đúng pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bị cáo đối với bị hại. Tại phiên tòa, bị cáo Đ nộp thêm 02 biên lai nộp số tiền 22.000.000 đồng tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà để bồi thường tiếp cho ông H. Như vậy, tổng số tiền bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho ông H là 38.000.000 đồng nên bị cáo Đ còn phải bồi thường cho ông H 530.000 đồng.

[5] Về án phí: Tại phiên toà, bị cáo đã nộp bổ sung tiền bồi thường thiệt hại cho bị hại. Do vậy, cần sửa phần án phí dân sự sơ thẩm đối với bị cáo. Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Do kháng cáo tăng bồi thường của bị hại không được chấp nhận nên bị hại phải chịu án phí dân sự phúc.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 109/2024/HSST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc nộp bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 22.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
    1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Tiến Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích".
    2. Áp dụng khoản 1 Điều 134; Điều 38; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Tiến Đ 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
    3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 587, 590 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Đ phải bồi thường cho ông H các khoản chi phí cứu chữa, bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ, thu nhập thực tế bị mất, chi phí thực tế bị mất của người chăm sóc, tổn thất tinh thần, tổng số tiền là: 38.530.000 đồng. Chuyển số tiền 38.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại biên lai thu tiền số 0002364 ngày 22/8/2024, biên lai số 0002437 ngày 03/12/2024, biên lai số 0002438 ngày 04/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà sang thi hành án về trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông H, còn lại buộc bị cáo Đ phải bồi thường tiếp cho ông H 530.000 đồng.

      Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra Quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thanh toán xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

    4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Trả lại ông H 01 chìa khoá xe máy Honda Wave S110, dài 10cm, đầu chìa khoá bằng nhựa màu đen, thân chìa khoá bằng kim loại đã qua sử dụng. Tịch thu 01 chiếc áo khoác bằng len màu trắng đục đã qua sử dụng và 04 hộp bìa cát tông được niêm phong ký hiệu mẫu M1, mẫu M2, mẫu M3 và mẫu M4 để tiêu huỷ.
    5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Bùi Tiến Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  2. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Bùi Tiến Đ phải 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bị hại ông Bùi Thanh H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 13/12/2024.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án;
  • Chi cục THADS huyện Hưng Hà;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu hành chính tư pháp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Đỗ Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/HS-PT ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 100/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Tiến Đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger