Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN ĐỊNH

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/HS-ST

Ngày 12-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Thu.

2. Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Cường - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 90/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn H, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 04/9/1985, tại xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T (đã chết); Con bà: Trịnh Thị K, sinh năm: 1959; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con đầu; Bị cáo có vợ là Lê Thị L, sinh năm 1994, có 02 con sinh năm 2013 và 2016; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Tại Bản án số 62/2013/HSST ngày 25/12/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa tuyên phạt 6.000.000 đồng về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 15/4/2014, đã được xóa án tích theo quy định.

- Ngày 07/6/2017 bị Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau” và “Sử dụng các loại vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ trái với quy định nhưng chưa gây hậu quả”. Bị cáo đã nộp phạt ngày 13/6/2017, đã được xóa tiền sự theo quy định.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/5/2024 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

1

2. Họ và tên: Trịnh Xuân L1, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 12/7/1997, tại xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn P, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trịnh Xuân H1 (đã chết); Con bà: Trương Thị B, sinh năm: 1975; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/9/2024 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Nguyễn Hữu Đ, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 26/8/1992, tại xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn B, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Hữu T1, sinh năm: 1968; Con bà: Trịnh Thị H2, sinh năm: 1972; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là đầu; Bị cáo có vợ là Vũ Thị L2, sinh năm: 1994, có 02 con sinh năm 2017 và 2020; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: - Tại Bản án số 122/2016/HSST ngày 28/11/2016 bị Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Tại Bản án số 01/2018/HS-ST ngày 16/01/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 16 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tại Bản án số 01/2018/HS-ST ngày 26/01/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù của 02 bản án năm 2018 vào ngày 16/02/2019, đã chấp hành toàn bộ các bản án nêu trên nên đã được xóa án tích theo quy định.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/9/2024 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Hà Đình T2, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 09/01/1998, tại xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hà Đình T3, sinh năm: 1971; Con bà: Lê Thị C, sinh năm: 1975; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/9/2024 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Hà Đình T4, sinh năm: 1996, địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Chị Nguyễn Thị Kim O, sinh năm: 1990, địa chỉ: Thôn B, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

2

2. Anh Nguyễn Văn H3, sinh năm: 1987, địa chỉ: Thôn P, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

3. Anh Nguyễn Hữu D, sinh năm: 1992, địa chỉ: Thôn B, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

4. Anh Nguyễn Minh T5, sinh năm: 1988, địa chỉ: Khu phố C, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

5. Anh Trần Công L3, sinh năm: 1983, địa chỉ: Khu phố A, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

6. Bà Đinh Thị H4, sinh năm: 1979, địa chỉ: Khu phố A, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

7. Anh Lê Duy C1, sinh năm: 1999, địa chỉ: Khu phố A, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

8. Ông Lê Văn M, sinh năm: 1974, địa chỉ: Khu phố A, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

9. Bà Lưu Thị P, sinh năm: 1968, địa chỉ: Khu phố A, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

10. Anh Trần Tuấn V, sinh năm: 1983, địa chỉ: Khu phố T, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

11. Anh Lê Cương Q, sinh năm: 1987, địa chỉ: Thôn Z, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

12. Chị Lê Thị N, sinh năm: 1989, địa chỉ: Thôn Z, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

13. Anh Lê Duy K1, sinh năm: 1994, địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 27/01/2024, Lê Duy K1 (sinh năm 1994 ở thôn C, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) tổ chức tiệc liên hoan đầy năm cho con và mời khách tại nhà hàng H5 ở khu phố A, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Trong quá trình liên hoan, Hà Đình T2 đi chúc rượu giao lưu tại các bàn tiệc. Khi T2 đến giao lưu với bàn khách người xã Y, sau khi mời chung bàn 01 chén thì T2 nói với Nguyễn Hữu Đ “Tôi mời bạn chén”. Nghe T2 nói vậy, Trịnh Xuân L1 đang ngồi cạnh Đ nói với T2 “Bạn sinh năm bao nhiêu”, T2 trả lời “Sinh năm 97”, L1 nói tiếp “97 mới bằng tuổi tao mà dám xưng ngang với anh tao à” rồi hai bên nói qua nói lại với nhau, L1 dùng tay đấm T2 02 cái vào vùng mặt, miệng làm T2 bị chảy máu ở miệng. Khi đó, Đ cũng nhảy lên bàn để đánh T2 nhưng được mọi người can ngăn, giữ lại nên Đ chưa đánh được T2 thì hai bên dừng lại, nhưng sự việc đã gây hỗn loạn, nhốn nháo các bàn tiệc tại nhà hàng H5. Sau đó, T2 ra đứng ở khu vực cửa nhà hàng thì gặp anh Hà Đình T4 (sinh năm 1996 ở thôn C, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - là anh trai T2) và một số người đứng cùng. Lúc này, anh T4 thấy T2 bị chảy máu ở

3

miệng nên hỏi T2 “Mi bị sao đấy”, T2 chỉ về phía Đ, L1 đang trong nhà hàng H5 và nói “Em bị mấy thằng kia đánh”. Nghe T2 nói vậy, anh T4 đi vào trong cửa nhà hàng nói lớn “Thằng mô đánh em tao”. Cùng lúc này, Đ đi ra cửa nhà hàng nói “Bay cậy đông người, bay định đánh tau à” rồi xông lại đấm T2 thì bị T2 túm tay lại, T2 và Đ giằng co, xô đẩy, lùa nhau từ cửa hàng ra ngoài đường tỉnh lộ 516B rồi tiếp tục lùa đuổi đánh nhau, đạp nhau trên đường T. Lúc này, tại khu vực đó có nhiều người đang có mặt hô hoán, can ngăn làm hỗn loạn toàn bộ khu vực trên. Sau đó, anh T4 chạy lại chỗ T2 với Đ đang đạp nhau trên đường, lúc này Nguyễn Văn H thấy đánh nhau nên chạy lại để can ngăn thì bị anh T4 vung tay vào mặt, H bực tức nên dùng tay phải tát 01 cái vào mặt anh T4 làm anh T4 ngã xuống đường bất tỉnh. Mọi người có mặt hô hoán đẩy H vào quán rồi đưa anh T4 đi Bệnh viện cấp cứu, điều trị, T2 và Đ cũng dừng lại không đánh nhau nữa. Khi L1 đi ra cửa nhà hàng thì gặp T2, L1 tiếp tục xông vào đấm T2 nhưng không trúng. Sau đó, T2 đi về nhà và sự việc dừng lại.

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 27/01/2024 kèm theo bản ảnh, tóm tắt hồ sơ bệnh án, xác định anh Hà Đình T4 bị các thương tích sau: 01 vết sưng nề ở vùng thái dương phải, kích thước 02x03cm; vùng đỉnh chẩm có khối sưng nề tấy đỏ, kích thước 03x02cm; chảy máu qua ống tai phải; chấn thương sọ não.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 297/KLTTCT-PYTH ngày 07/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận: Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Hà Đình T4 tại thời điểm giám định là 43%.

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 01/02/2024, xác định Nguyễn Văn H bị 01 vết sưng nề ở gò má trái, kích thước 02x01cm. Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 02/02/2024, xác định Hà Đình T2 bị 01 vết thương rách da ở môi trên, kích thước 0,5x0,5cm. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh T giám định thương tích đối với Nguyễn Văn H và Hà Đình T2. Tuy nhiên, do thương tích nhẹ nên cả H và T2 đều từ chối giám định thương.

Theo chính quyền địa phương báo cáo và quá trình điều tra đã xác định: Trong lúc các đối tượng đánh nhau trong nhà hàng H5 và trên đường tỉnh lộ 516B thì tại khu vực đó có rất nhiều người đang có mặt chứng kiến hô la, hò hét, can ngăn đã gây náo loạn toàn bộ khu vực nhà hàng H5 và xung quanh cũng như trên đường T. Sự việc đã làm cản trở giao thông, gây tâm lý hoang mang, bức xúc trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 đoạn video từ camera an ninh của gia đình ông Lê Văn M được lưu trong 01 đĩa DVD màu vàng, bên trong chứa 01 tệp video mang tên “thống nhất MP4”. Sau khi giám định được niêm phong theo quy định và đưa vào hồ sơ vụ án.

4

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo H đã bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh T4 số tiền 150.000.000 đồng. Anh Tú đã nhận đủ tiền và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Về vật chứng: Không thu giữ gì.

Tại bản cáo trạng số 98/CT-VKSYÐ ngày 17/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Trịnh Xuân L1, Nguyễn Hữu Đ và Hà Đình T2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử (HĐXX) giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định luận tội giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự; tuyên bố các bị cáo Trịnh Xuân L1, Nguyễn Hữu Đ và Hà Đình T2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Đề nghị về hình phạt như sau:

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 18 đến 21 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Xuân L1 từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Đình T2 từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

Về án phí: Thực hiện theo quy định của pháp luật.

- Bị hại không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về tội danh:

5

Thông qua tranh tụng tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Văn H, Trịnh Xuân L1 và Nguyễn Hữu Đ hoàn toàn thừa nhận: Trong khoảng thời gian từ 20 giờ đến 20 giờ 30 phút ngày 27/01/2024, tại Khu phố A, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, Trịnh Xuân L1, Nguyễn Hữu Đ và Hà Đình T2 đã có hành vi chửi bới, dùng tay chân đấm đá, lùa đuổi nhau trong nhà hàng H5 và trên đường tỉnh lộ 516B thuộc Khu phố A, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, gây náo loạn toàn bộ khu vực xung quanh, làm cản trở giao thông, gây tâm lý hoang mang, bức xúc trong quần chúng nhân dân. Trong lúc xảy ra sự việc trên, Nguyễn Văn H đã vào can ngăn và dùng tay phải tát anh Hà Đình T4 01 cái vào mặt làm anh T4 ngã xuống đường bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 43%.

Lời khai nhận của các bị cáo Nguyễn Văn H, Trịnh Xuân L1 và Nguyễn Hữu Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, dữ liệu trích xuất camera, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Bị cáo Hà Đình T2 thừa nhận có hành vi gây rối bên trong nhà hàng H5, nhưng không thừa nhận hành vi lùa đuổi, đạp nhau với bị cáo Nguyễn Hữu Đ trên đường tỉnh lộ 516B bên ngoài nhà hàng H5. Căn cứ lời khai của các bị cáo khác, lời khai của người làm chứng và dữ liệu trích xuất camera, có đủ căn cứ chứng minh bị cáo Hà Đình T2 có đã hành vi lùa đuổi, đạp nhau với bị cáo Nguyễn Hữu Đ trên đường tỉnh lộ 516B bên ngoài nhà hàng H5.

HĐXX xét thấy có đủ căn cứ chứng minh: Các bị cáo Trịnh Xuân L1, Nguyễn Hữu Đ và Hà Đình T2 đã có hành vi chửi bới, dùng tay chân đấm đá, lùa đuổi nhau trong nhà hàng H5 và trên đường tỉnh lộ 516B gây mất trật tự công cộng. Bị cáo Nguyễn Văn H dùng tay đánh gây thương tích cho anh Hà Đình T4 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 43%. Hành vi của các bị cáo Trịnh Xuân L1, Nguyễn Hữu Đ và Hà Đình T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố các bị cáo theo tội danh trên, đề nghị HĐXX áp dụng điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, quan hệ pháp luật xâm phạm, tính chất của đồng phạm và vai trò của các bị cáo.

Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, gây mất trất tự trị an xã hội, mất trật tự nơi công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trên địa bàn và gây hoang mang, lo lắng và bức xúc trong quần chúng nhân dân và xâm hại đến sức khỏe của người khác, là những khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để răn đe và phòng ngừa chung.

Đối với tội “gây rối trật tự công cộng” có đồng phạm. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách bột phát, không có sự bàn bạc, phân công nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong đó: Mâu thuẫn dẫn đến vụ việc xuất phát từ Trịnh Xuân L1 nên L1 có vai trò thứ nhất, Đ và T2 cùng giữ vai trò thứ hai.

6

Bị cáo Hoàng chịu trách nhiệm độc lập đối với tội “Cố ý gây thương tích”.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo H được hưởng 04 tình tiết giảm nhẹ là: “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “Đầu thú” và “Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo” theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo L1 được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ là: “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “Có ông ngoại là người có công với cách mạng” theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Đ được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “Đầu thú” theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo T2 được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ là: “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt: Từ việc đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt nêu trên, HĐXX xét thấy:

Bị cáo H đã bị kết án và xử phạt vi phạm hành chính mặc dù đã được xóa nhưng bị cáo phạm tội nghiêm trọng nên phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù có thời, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để trừng trị, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét bị cáo H có nhiều tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo H có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Bị cáo L1 và bị cáo T2 có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu. Bị cáo Đ đã từng bị kết án nhưng đã được xóa án tích từ năm 2022 và phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo L1, Đ và T2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho các bị cáo ở ngoài cộng đồng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo L1, Đ và T2 để giáo dục mà chỉ cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo này được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ để răn đe, giáo dục đối với các bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn H và anh Hà Đình T4 đã thỏa thuận bồi thường dân sự. Bị cáo H đã bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho

7

anh Hà Đình T4 số tiền 150.000.000 đồng. Anh Tú đã nhận đủ tiền và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Vì vậy, HĐXX không xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Các bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về những vấn đề khác có liên quan:

Bị cáo H khai sau khi tát anh T4 thì mọi người chạy lại can ngăn, khi đó H bị Lê Duy C1 (sinh năm 1999 ở Khu phố A, thị trấn T, huyện Y) đấm H mấy cái vào người nhưng chỉ bị thương tích phần mềm. Tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của Nguyễn Văn H ngày 01/02/2024 thì không phát hiện thấy thương tích trên người H. Quá trình điều tra, Lê Duy C1 không thừa nhận việc đấm H mà chỉ thừa nhận có xô đẩy can ngăn H. Ngoài lời khai của H, quá trình điều tra không thu thập được tài liệu nào khác về việc này nên không có căn cứ để xử lý Lê Duy C1.

Đối với anh Hà Đình T4 đã vung tay vào mặt bị cáo H gây nên 01 vết thương sưng nề ở gò má trái, nhưng H có đơn từ chối giám định thương tích; ngoài ra anh T4 còn có hành vi xông lại chỗ Đ, T2 đang đánh nhau nhưng anh T4 chưa có hành vi gì nên không xem xét xử lý đối với anh Hà Đình T4 là phù hợp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Căn cứ khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự, tuyên bố các bị cáo Trịnh Xuân L1, Nguyễn Hữu Đ và Hà Đình T2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

2. Về hình phạt:

- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trịnh Xuân L1 08 (Tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ 07 (Bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hà Đình T2 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

8

Giao các bị cáo Trịnh Xuân L1 và Nguyễn Hữu Đ cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Hà Đình T2 cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn H, Trịnh Xuân L1, Nguyễn Hữu Đ và Hà Đình T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Thanh Hoá;

- VKSND tỉnh Thanh Hoá;

- VKSND huyện Yên Định;

- Công an huyện Yên Định;

- Chi cục THADS Yên Định;

- Các bị cáo;

- Bị hại;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Dung

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 100/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử bị cáo Nguyễn Văn H và đồng phạm phạm tội cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger