|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
|
Bản án số: 100/2024/HS-ST Ngày 02 - 12 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC – TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Thể
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Vinh
Ông Lê Quang Hòa
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hải
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc tham gia phiên tòa:
Bà Doãn Thị Ánh Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên Vũ Thế S - Sinh ngày 22/02/1977 tại thị xã C (nay là thành phố V), tỉnh Nghệ An. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khối Đ, phường N, thị xã C (nay là thành phố V), tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện nay: Xóm Đ, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An; Tên gọi khác: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Thế T và bà Nguyễn Thị L; Vợ Hoàng Thị T1 (sinh năm 1981) và có 03 con; Tiền sự, tiền án: không; Bị tạm giữ từ ngày 08/4/2024 đến ngày 17/4/2024 thì được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh và Tạm hoãn xuất cảnh. Có mặt.
2. Họ và tên Vũ Thế C - Sinh ngày 04/6/2001 tại thị xã C (nay là thành phố V), tỉnh Nghệ An. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khối Đ, phường N, thị xã C (nay là thành phố V), tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện nay: Xóm Đ, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An; Tên gọi khác: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Thế S và bà Hoàng Thị T1; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự, tiền án: không; Bị tạm giam từ ngày 20/4/2024 đến ngày 04/6/2024 thì được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh và Tạm hoãn xuất cảnh. Có mặt.
3. Họ và tên Văn Đức C1 - Sinh ngày 30/4/1975 tại thị xã C (nay là thành phố V), tỉnh Nghệ An. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khối Đ, phường N, thị xã C (nay là thành phố V), tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện nay: Xóm Đ, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An; Tên gọi khác: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Văn Đức H và bà Nguyễn Thị B; Vợ Dương Thị T2 (sinh năm 1980) và có 04 con; Tiền sự, tiền án: không; Bị tạm giữ từ ngày 08/4/2024 đến ngày 17/4/2024 thì được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh và Tạm hoãn xuất cảnh. Có mặt.
4. Họ và tên Văn Đức C2 - Sinh ngày 29/9/1979 tại thị xã C (nay là thành phố V), tỉnh Nghệ An. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khối B, phường N, thị xã C (nay là thành phố V), tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện nay: Xóm Đ, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An; Tên gọi khác: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Văn Đức H và bà Nguyễn Thị B; Vợ Hồ Thị H1 (sinh năm 1983) và có 03 con; Tiền sự, tiền án: không; Nhân thân: ngày 06/6/2017 bị Công an thị xã C xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
5. Họ và tên Văn Đức V - Sinh ngày 28/7/2002 tại thị xã C (nay là thành phố V), tỉnh Nghệ An. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khối B, phường N, thị xã C (nay là thành phố V), tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện nay: Xóm Đ, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An; Tên gọi khác: Không; Nghề nghiệp: Huấn luyện viên K; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Văn Đức C2 và bà Hồ Thị H1; Vợ, con: chưa có; Tiền sự, tiền án: không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/4/2024 đến ngày 27/5/2024 thì được thay thế bằng biện pháp Bảo lĩnh và Tạm hoãn xuất cảnh. Có mặt.
6. Họ và tên Dương Ngọc T3 - Sinh ngày 09/7/1982 tại thị xã C (nay là thành phố V), tỉnh Nghệ An. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khối B, phường N, thị xã C (nay là thành phố V), tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện nay: K, phường N, thị xã C (nay là thành phố V), tỉnh Nghệ An; Tên gọi khác: Pha; Nghề nghiệp: nhân viên Công ty TNHH C4; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Ngọc T4 và bà Trương Thị X; Vợ Đoàn Thị T5 (sinh năm 1986) và có 03 con; Tiền sự, tiền án: không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/4/2024 đến ngày 27/5/2024 thì được thay thế bằng biện pháp Bảo lĩnh và Tạm hoãn xuất cảnh. Có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Hoàng Thị T1 – sinh năm 1981; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khối Đ, phường N, thị xã C (nay là thành phố V), tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện nay: Xóm Đ, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào các ngày 08, 09 và 11/4/2024, Vũ Thế S, Văn Đức C1, Dương Ngọc T3, Văn Đức V, Vũ Thế C đã lần lượt đến trụ sở Cơ quan Cảnh sát điều tra đầu thú, giao nộp các vật chứng và khai nhận hành vi phạm tội diễn ra vào lúc 10 giờ ngày 08/4/2024 cụ thể:
Do hiểu nhầm nhau về cạnh tranh không lành mạnh trong kinh doanh nên vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 08/4/2024, Vũ Thế S gọi điện cho Văn Đức C1 để đe dọa, thách thức rồi mang theo một con dao (dài 21,5cm, cán bằng gỗ) đi tìm C1. Thấy vậy, Vũ Thế C (con trai của S) điều khiển xe ô tô con nhãn hiệu Huyndai Tucson, màu sơn nâu, biển kiểm soát 37A-690.34 đi đến xưởng thi công, buôn bán vật liệu xây dựng của Công ty TNHH C4 bên Quốc lộ D thuộc địa phận xóm Đ, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An thì bà Hoàng Thị T1 (mẹ của C) đi theo để can ngăn S và C. Do sợ bị S đến đánh nên C1 đã gọi điện thoại cho em trai là Văn Đức C2, sau đó C2 rủ con trai là Văn Đức V đi cùng mình đến Công ty TNHH C4 để đánh nhau với S.
Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, C đỗ xe trước xưởng Công ty TNHH C4 rồi cầm theo một cây gậy ba khúc bằng sắt xuống xe và đi lên vỉa hè. Lúc này, S điều khiển xe máy điện (màu sơn xanh, không có biển kiểm soát thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn T6, trú tại khối F, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An cho S mượn) cũng đi đến. C1 nhìn thấy C và S đến thì cầm thanh sắt hộp kích thước từ trong xưởng chạy ra đánh nhau với C, hai bên xô xát, giằng co nhau ra Quốc lộ D. S rút con dao đang dấu trong người ra định vào đánh C1 thì bị C2 chạy ra ném búa đinh trúng vào vùng bụng nên S chạy ra Quốc lộ D. C2 chạy lại nhặt búa thì bị S chém dao vào cẳng tay phải.
Thấy bố (C2) bị chém, V cầm cuốc đuổi đánh S bỏ chạy. V cầm cuốc chạy đến định đánh C thì bị bà T1 can ngăn nên S giằng được cái cuốc trên tay của V. V tháo mũ bảo hiểm đang đội trên đầu ra và ném S nhưng không trúng.
Trong lúc C và C1 vật lộn với nhau thì C2 cầm búa đánh vào người của C và giằng được cây gậy ba khúc trên tay C. Thấy vậy, S dùng cuốc đánh trúng vào đỉnh đầu C2 thì C2 giằng được cuốc và dùng gậy ba khúc đánh trúng đầu của S. Khi C2 làm rơi gậy ba khúc thì bị S dùng dao chém 01 nhát vào bàn tay trái. Thấy C nhặt cây gậy ba khúc đánh C2 thì V chạy vào lấy thước chuông (bằng sắt hộp) để đánh lại nhưng bị C1 giằng lấy nên V dùng tay đánh C và bị C dùng gậy ba khúc đánh vào đầu. C1 cầm thước chuông và kéo cắt sắt chạy đến định đánh S và C thì S và C bỏ chạy. C điều khiển xe ô tô 37A-690.34 đi về nhà, S ngồi lên xe máy điện định nổ máy thì bị C1 cầm thanh sắt đuổi đánh nên S xuống xe bỏ chạy. C1 đuổi theo S một đoạn trên đường Quốc lộ 46 rồi quay về xưởng Công ty TNHH C4.
C về đến nhà nhưng không thấy S nên cầm theo thanh kiếm, lái xe ô tô 37A-690.34 quay lại. Lúc này, Dương Ngọc T3 (em vợ của C1 - nhân viên Công ty TNHH C4) vừa đi giao hàng về. Thấy C cầm kiếm chạy đến, T3 cầm cuốc chạy ra đường thì bị C dơ kiếm chém nhưng T3 tránh được và dùng cuốc đánh trúng vào chân của C. Cả T3 và C cùng ngã ra đường thì bà T1 chạy đến can ngăn. C1 cầm thanh sắt chạy ra thì bị C dơ kiếm chém nhưng không trúng. Tiếp đó, T3 dùng cuốc, C1 cầm thanh sắt, V cầm ống tuýp sắt, C2 cầm đoạn sắt hộp cùng đánh C. Lúc này, bà T1 nằm đè lên người của C để che chắn nhưng T3, C1, C2 và V vẫn tiếp tục đánh C nhưng vô tình trúng vào người của bà T1 làm bà T1 ngã ra đường và sau đó được người dân đến can ngăn.
Hậu quả: C2 bị thương phải điều trị từ ngày 08/4/2024 đến ngày 19/4/2024; C và bà T1 bị thương phải điều trị từ ngày 08/4/2024 đến ngày 11/4/2024 tại Bệnh viện H3; V bị thương nhưng không nhập viện để điều trị.
Ngày 09/4/2024, Ủy ban nhân dân xã K, huyện N có Báo cáo số 42/BC-UB đối với vụ việc nêu trên, đã gây ảnh hưởng xấu và làm mất an ninh trật tự trên địa bàn thuộc xóm Đ, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An.
Các ngày 11, 12 và 14/4/2024, C, V, C2 và bà T1 lần lượt có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và đề nghị giám định thương tích. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Văn Đức C2, Vũ Thế C, Văn Đức V và bà Hoàng Thị T1. Căn cứ vào Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 170/KLTTCT-TTPY ngày 19/4/2024; số 448/KLTTCT-TTPY ngày 09/9/2024; số 217/KLTTCT-TTPY ngày 08/05/2024 và số 244/KLTTCT- TTPY ngày 09/5/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh N thì xác định được: tỷ lệ tổn thương cơ thể của C là 06%, C2 10%, Việt 01% và bà T1 01%. S tự nguyện bồi thường cho C2 150.000.000 đồng, C bồi thường cho V và C2 5.000.000 đồng; C2 + C1 + T3 + V bồi thường cho C và bà T1 5.000.000 đồng. Đến ngày 08/5/2024, C, V, C2 và bà T1 đều có đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N thu thập được 01 đĩa DVD nhãn hiệu Maxell dung lượng 4,7GB lưu trữ file Video đăng tải trên trang Facebook “Thanh Nghe” từ Phòng Văn hóa và thông tin huyện N, tỉnh Nghệ An. Bà Dương Thị T2 giao nộp 01 đĩa DVD nhãn hiệu Maxell dung lượng 4,7GB có nội dung ghi lại diễn biến vụ việc xảy ra ngày 08/4/2024. Hiện đang lưu trữ trong hồ sơ vụ án.
Ngày 15/11/2024, cơ quan điều tra đã chuyển các vật chứng do C1, S, C, V giao nộp sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện N bảo quản chờ xét xử gồm: 01 đoạn sắt dạng hình hộp chữ nhật, kích thước (80x8x3)cm, bề mặt bám dính nhiều chất màu nâu đỏ; 01 cái cuốc sắt dài 137 cm, đường kính 4cm, lưỡi cuốc có kích thước (20x7)cm; 01 ống tuýp sắt, màu xám, hình trụ tròn, dài 240cm, đường kính 2,5cm; 01 chiếc búa đinh, cán bằng gỗ, đầu búa có kích thước (4,5x4,5x10,5)cm, cán búa dài 27,5cm; 01 chiếc thước chuông, một cạnh dài 131,5cm và một cạnh dài 114cm, bằng sắt hộp (2x2)cm; 01 cái kéo, lưỡi cắt dài 12cm, chỗ rộng nhất dài 3cm, tay cầm dài 28cm, tay cầm một bên bị duỗi ra dài 34cm; 01 thanh kim loại màu trắng, dạng hộp chữ nhật, kích thước (2x4x84)cm; 01 thanh sắt hình trụ tròn dài 68cm, đường kính miệng 1cm; 01 con dao có cán làm bằng gỗ dài 12,5cm, lưỡi dao làm bằng kim loại có một cạnh sắc dài 21,5cm, chỗ rộng nhất dài 5cm, mũi dao nhọn; 01 gậy ba khúc bằng sắt, dài 64cm, phần cán dài 23,5cm được bọc cao su màu đen; 01 cây kiếm, dài 100cm, lưỡi kiếm bằng kim loại màu trắng dài 73cm, cán dài 26cm được bọc bằng vải màu đen, lưỡi dưới có ốp bằng nhựa, màu vàng cam; 01 mũ bảo hiểm màu đen, có kính phía trước.
Ngoài ra, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ chiếc xe ô tô con nhãn hiệu Huyndai Tucson, màu sơn nâu, biển kiểm soát 37A-690.34 nhưng ngày 13/6/2024 đã trả lại cho chủ sở hữu là Vũ Thế S do không phải là công cụ, phương tiện phạm tội. 01 xe máy điện màu sơn xanh, không có biển kiểm soát - do S điều khiển đi đến Công ty TNHH C4 không liên quan đến tội phạm nên cơ quan điều tra không thu giữ.
Tại bản cáo trạng số 91/CT-VKS-NL ngày 18/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc truy tố bị cáo Vũ Thế S, Vũ Thế C, Văn Đức V, Văn Đức C1, Văn Đức C2, Dương Ngọc T3 về tội "Gây rối trật tự công cộng" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi của mình đúng như nội dung cáo trạng, cam đoan sẽ không bao giờ tái phạm và đã nhận thức được tính nghiêm trọng của hành vi phạm tội. Sau khi phạm tội, các bị cáo S, C, C1, V, T3 tự nguyện ra đầu thú. Các bị cáo hòa giải với nhau, bồi thường cho nhau đầy đủ; rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về tội Cố ý gây thương tích, cùng cam kết xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho nhau. Bị cáo T3 có cha Dương Ngọc T4 được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng 3 + Kỷ niệm chương cựu chiến binh Việt Nam + Kỷ niệm chương vì giai cấp nông dân Việt Nam (do có thành tích xây dựng giai cấp nông dân và Hội N); có ông bà nội (Dương Ngọc H2, Nguyễn Thị T7) được tặng Bảng vàng danh dự; bị cáo tham gia quân ngũ và được tặng Giấy khen do hoàn thành tốt nhiệm vụ năm 2003. Bị cáo Văn Đức C1, Văn Đức C2, Văn Đức V có người thân (bà Nguyễn Thị B, ông Văn Đức H) là người có công với cách mạng (dược tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất. Bị cáo V tham gia phong trào Đông ấm cho em năm 2023 được Huyện đoàn Quế Phong chứng nhận và được tặng giấy khen trong lao động (phát triển phong trào N1 năm 2023). Bị cáo S và bị cáo C có người thân (ông Vũ Thế T, bà Nguyễn Thị L) tham gia kháng chiến và có thành tích xuất sắc trong lao động.
- Bà Hoàng Thị T1 thừa nhận đã tự nguyện rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về tội Cố ý gây thương tích; không yêu cầu bồi thường dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa giữ nguyên việc truy tố đối 6 bị cáo Vũ Thế S, Vũ Thế C, Văn Đức C1, Văn Đức C2, Văn Đức V, Dương Ngọc T3 về tội "Gây rối trật tự công cộng" và đề nghị:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo S, C, C2, C1 mỗi bị cáo từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù nhưng được cho hưởng án treo, thử thách từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo V, T3 mỗi bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng được cho hưởng án treo, thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm.
Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định tại Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
- Trong quá trình điều tra: Điều tra viên được phân công điều tra đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng về việc kiểm tra, xác minh, lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lập hồ sơ vụ án; hỏi cung bị can; khám xét chỗ ở và xử lý vật chứng; giao nhận các văn bản tố tụng đúng thời hạn.
- Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Kiểm sát viên đã thực hiện nghiêm túc hoạt động kiểm sát điều tra; tham gia phiên tòa đúng thời gian, địa điểm; công bố bản cáo trạng; tham gia xét hỏi, luận tội, tranh luận và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án đồng thời thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án cũng như người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử.
Do các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đều tuân thủ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên hợp pháp và được sử dụng làm chứng cứ để Hội đồng xét xử xem xét.
[2] Về nội dung:
Các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, vật chứng được thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:
Do có hiểu nhầm dẫn đến mâu thuẫn trong quá trình kinh doanh nên trong khoảng thời gian từ 10 giờ 30 phút đến 10 giờ 42 phút ngày 08/4/2024, tại khu vực phía trước xưởng thi công, buôn bán vật liệu xây dựng của Công ty TNHH C4 thuộc địa phận Quốc lộ D đoạn qua xóm Đ, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An, các bị cáo Vũ Thế S, Vũ Thế C, Văn Đức C1, Văn Đức C2, Văn Đức V và Dương Ngọc T3 đã thực hiện các hành vi sử dụng hung khí, vũ khí thô sơ (gồm gậy ba khúc bằng sắt, kiếm, thanh sắt hộp, thước chuông bằng sắt hộp, kéo sắt, dao, cuốc, búa đinh, ống tuýp sắt, mũ bảo hiểm) rượt đuổi, đánh nhau trên đường, gây náo loạn, mất trật tự trị an nơi công cộng và gây ra thương tích cho bà Hoàng Thị T1 (1%), V (1%), C (06%), C2 (10%). Như vậy, hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội "Gây rối trật tự công cộng" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc để xác định tội danh và khung hình phạt đối với các bị cáo.
Xét tính chất vụ án: Hành vi của các bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm lớn cho xã hội, xâm phạm trật tự trị an tại địa phương và gây hoang mang dư luận. Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ, hành động là bột phát, riêng rẽ, không có dự mưu và đều là người thực hành tích cực, quyết liệt. Do đó, khi quyết định hình phạt cần xem xét đến vai trò, nhân thân của mỗi bị cáo phù hợp với tính chất hành vi phạm tội.
Bị cáo S và bị cáo C1 xảy ra mâu thuẫn trong công việc kinh doanh nhưng không tìm cách giải quyết mà còn người khởi xướng, lôi kéo các bị cáo khác (C, V, C2, T3) tham gia đồng thời cũng là nguyên nhân chính gây ra hành vi phạm tội nên phải chịu trách nhiệm hình sự ngang nhau và cao nhất trong vụ án.
Bị cáo C là người thực hành tích cực nhất, sau khi đã chạy về nhà nhưng không thấy S thì chủ động quay trở lại gây sự với nhóm của C1 dẫn đến sự việc gây rối tiếp diễn nên phải chịu trách nhiệm cao thứ hai trong vụ án.
Bị cáo V và C2 là người thực hành tích cực nhưng V chỉ tham gia sau khi nhìn thấy C2 bị C, S gây thương tích nên cần xác định C2 chịu trách nhiệm hình sự cao hơn so với V. Riêng bị cáo T3 chỉ tham gia gây rối với thời gian ít nhất nên chịu trách nhiệm hình sự thấp nhất trong vụ án.
Tuy nhiên cũng cần xét, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường cho nhau và cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (các tình tiết giảm trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự). Bị cáo V, T3, S, C, C1 đầu thú; bà T1 xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; bị cáo C2, C1, V, T3 có người thân có công với cách mạng; bị cáo V có thành tích trong lao động và phong trào từ thiện; bị cáo S và C có người thân có nhiều thành tích trong lao động và tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc (các tình tiết giảm trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự). Các bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, lần đầu tiên bị đưa ra xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho cải tạo tại địa phương là đủ nghiêm. Riêng bị cáo V và T3 có mức độ thực hiện hành vi ít nguy hiểm hơn so với các bị cáo còn lại nên cần áp dụng thêm Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp.
Về vật chứng: những vật do các bị cáo C1, S, C, V giao nộp gồm 01 đoạn sắt dạng hình hộp chữ nhật, kích thước (80x8x3)cm, bề mặt bám dính nhiều chất màu nâu đỏ; 01 cái cuốc sắt dài 137 cm, đường kính 4cm, lưỡi cuốc có kích thước (20x7)cm; 01 ống tuýp sắt, màu xám, hình trụ tròn, dài 240cm, đường kính 2,5cm; 01 chiếc búa đinh, cán bằng gỗ, đầu búa có kích thước (4,5x4,5x10,5)cm, cán búa dài 27,5cm; 01 chiếc thước chuông, một cạnh dài 131,5cm và một cạnh dài 114cm, bằng sắt hộp (2x2)cm; 01 cái kéo, lưỡi cắt dài 12cm, chỗ rộng nhất dài 3cm, tay cầm dài 28cm, tay cầm một bên bị duỗi ra dài 34cm; 01 thanh kim loại màu trắng, dạng hộp chữ nhật, kích thước (2x4x84)cm; 01 thanh sắt hình trụ tròn dài 68cm, đường kính miệng 1cm; 01 con dao có cán làm bằng gỗ dài 12,5cm, lưỡi dao làm bằng kim loại có một cạnh sắc dài 21,5cm, chỗ rộng nhất dài 5cm, mũi dao nhọn; 01 gậy ba khúc bằng sắt, dài 64cm, phần cán dài 23,5cm được bọc cao su màu đen; 01 cây kiếm, dài 100cm, lưỡi kiếm bằng kim loại màu trắng dài 73cm, cán dài 26cm được bọc bằng vải màu đen, lưỡi dưới có ốp bằng nhựa, màu vàng cam; 01 mũ bảo hiểm màu đen, có kính phía trước là công cụ sử dụng để gây rối, không còn giá trị sử dụng nên cần tiêu hủy.
Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Tucson Biển kiểm soát 37A-690.34 thuộc quyền sở hữu của Vũ Thế S và xe máy điện màu sơn xanh, không có biển kiểm soát thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn T6 (sinh năm 1964, trú tại khối F, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An) do Vũ Văn C3 và Vũ Thế S điều khiển đi đến nơi xảy ra hành vi phạm tội nhưng C3 và S không sử dụng ô tô, xe máy điện vào mục đích gây rối. Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô cho chủ sở hữu và không thu giữ chiếc xe máy điện là đúng pháp luật.
Đối với 01 đĩa DVD nhãn hiệu Maxell dung lượng 4,7GB thu thập từ Phòng Văn hóa và thông tin huyện N, tỉnh Nghệ An và 01 đĩa DVD nhãn hiệu Maxell dung lượng 4,7GB do bà Dương Thị T2 giao nộp là chứng cứ chứng minh về hành vi phạm tội, cần tiếp tục lưu tại hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: các bị cáo và người có quyền lợi liên quan đã được bồi thường đầy đủ, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Các vấn đề khác: hành vi gây rối của các bị cáo đã gây ra thương tích cho V, C2, S, bà T2 nhưng tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% đồng thời C3, V, C2 và bà T2 đã rút yêu cầu khởi tố vụ án nên hành vi cố ý gây thương tích này không cấu thành tội phạm độc lập.
Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên: Các bị cáo Vũ Thế S, Vũ Thế C, Văn Đức C1, Văn Đức C2, Văn Đức V, Dương Ngọc T3 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Về hình phạt:
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Thế S 02 (Hai) năm 04 (Bốn) tháng tù nhưng được cho hưởng án treo, thử thách 04 (Bốn) năm 08 (T8) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 02/12/2024).
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Văn Đức C1 02 (Hai) năm 04 (Bốn) tháng tù nhưng được cho hưởng án treo, thử thách 04 (Bốn) năm 08 (T8) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 02/12/2024).
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Thế C 02 (Hai) năm 02 (Hai) tháng tù nhưng được cho hưởng án treo, thử thách 04 (Bốn) năm 04 (Bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 02/12/2024).
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Văn Đức C2 02 năm tù nhưng được cho hưởng án treo, thử thách 04 (Bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 02/12/2024).
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Văn Đức V 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng được cho hưởng án treo, thử thách 03 (Ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 02/12/2024).
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Dương Ngọc T3 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng được cho hưởng án treo, thử thách 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 02/12/2024).
Các bị cáo được hưởng án treo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Giao các bị cáo Vũ Thế S, Vũ Thế C, Văn Đức C1, Văn Đức C2, Văn Đức V, Dương Ngọc T3 cho UBND xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An; giao bị cáo Dương Ngọc T3 cho UBND phường N, thành phố V, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã/phường trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.
- Biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 1, điểm a Khoản 2, Khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
+ Tiêu hủy các vật sau: 01 đoạn sắt dạng hình hộp chữ nhật đã cũ rỉ, kích thước (80x8x3)cm, bề mặt bám dính nhiều chất màu nâu đỏ; 01 cái cuốc sắt dài 137 cm, đường kính 4cm, lưỡi cuốc có kích thước (20x7)cm, đã qua sử dụng và cũ rỉ; 01 ống tuýp sắt đã cũ rỉ, màu xám, hình trụ tròn, dài 240cm, đường kính 2,5cm; 01 chiếc búa đinh, cán bằng gỗ, đầu búa có kích thước (4,5x4,5x10,5)cm, cán búa dài 27,5cm, đã qua sử dụng và cũ rỉ; 01 chiếc thước chuông, một cạnh dài 131,5cm và một cạnh dài 114cm, bằng sắt hộp (2x2)cm; 01 cái kéo đã qua sử dụng và cũ rỉ, lưỡi cắt dài 12cm, chỗ rộng nhất dài 3cm, tay cầm dài 28cm, tay cầm một bên bị duỗi ra dài 34cm; 01 thanh kim loại màu trắng đã bị cũ rỉ, dạng hộp chữ nhật, kích thước (2x4x84)cm; 01 thanh sắt hình trụ tròn dài 68cm đã cũ rỉ, đường kính miệng 1cm; 01 con dao có cán làm bằng gỗ dài 12,5cm đã qua sử dụng và cũ rỉ, lưỡi dao làm bằng kim loại có một cạnh sắc dài 21,5cm, chỗ rộng nhất dài 5cm, mũi dao nhọn; 01 gậy ba khúc bằng sắt đã cũ rỉ, dài 64cm, phần cán dài 23,5cm được bọc cao su màu đen; 01 cây kiếm, dài 100cm đã cũ rỉ, lưỡi kiếm bằng kim loại màu trắng dài 73cm, nơi rộng nhất là 3cm, cán dài 26cm được bọc bằng vải màu đen, lưỡi dưới có ốp bằng nhựa, màu vàng cam; 01 mũ bảo hiểm màu đen, có kính phía trước đã qua sử dụng và đã cũ.
(Các vật chứng hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/11/2024).
- Về án phí: áp dụng Khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Vũ Thế S, Vũ Thế C, Văn Đức C1, Văn Đức C2, Văn Đức V, Dương Ngọc T3, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thị Hồng Thể |
Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 02/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 100/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Thế S và đồng phạm
