|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 100/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26-11-2024. (V/v: Ly hôn, nuôi con chung). |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT - TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thái.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Bà Lưu Thị Thôi .
- 2/ Bà Nguyễn Thị Viết Sáu.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Thuỳ Chi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Nhã Uyên – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 307/2024/TLST-HNGĐ ngày 03/10/2024 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 731/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/10/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 746/2024/QÐST-HNGĐ ngày 15/11/2024 giữa:
Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị S – sinh năm 1992
Nơi cư trú: khu phố B, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Bị đơn: Ông Nguyễn Kim K – sinh năm 1987
Nơi cư trú: Khu phố B, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn; vắng mặt bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại nội dung đơn kiện, bản khai nguyên đơn bà Đoàn Thị S trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Kim K tự tìm hiểu, quen biết nhau, chung sống vào năm 2011 và có đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận vào ngày 16/12/2011.
Trong quá trình chung sống với nhau vợ chồng hạnh phúc được khoảng 6 -7 năm đầu cùng nhau làm ăn lo lắng cho gia đình, con cái. Thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn do tính cách không hòa hợp, ông K thường hay cờ bạc, rượu chè về nhà kiếm chuyện cải vã, ảnh hưởng đến đời sống vợ chồng và con cái. Bà đã làm đơn khởi kiện xin ly hôn ông K hai lần nhưng vì thương con còn nhỏ dại nên bà đã cố gắng để chung sống. Khoảng 10 tháng nay, vợ chồng mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm, chăm sóc gì nhau. Nay bà S xác định tình cảm vợ chồng không còn nên làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông K.
- Về con chung: Bà khai có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng K1 (nam), sinh ngày 25/8/2011 và Nguyễn Thị Như Ý (nữ), sinh ngày 18/8/2018. Sau khi ly hôn, bà có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng hai con. Yêu cầu ông K cấp dưỡng tiền nuôi hai con 3.000.000 đồng/tháng.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bà S trình bày: Bà vẫn giữ ý kiến đã trình bày, bà S xác định mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, vợ chồng không còn tin tưởng, tôn trọng nhau và đã tự sống ly thân khoảng 5 tháng nay, không ai quan tâm đến ai. Nay bà S yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông K. Về con chung: Bà vẫn có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con, bà yêu cầu ông K cấp dưỡng tiền nuôi hai con chung 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi hai con tròn 18 tuổi; về tài sản chung, nợ chung: vẫn giữ ý kiến đã trình bày, không thay đổi, bổ sung gì thêm.
Bị đơn ông Nguyễn Kim K trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông K không có ý kiến và vắng mặt tại các buổi công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến và hòa giải được.
Ông Nguyễn Kim K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát có ý kiến như sau:
- Về tố tụng: từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán, Thư ký chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ tranh chấp và tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng. Thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn mở phiên tòa, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự quy định.
Tại phiên tòa hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa tiến hành các trình tự thủ tục đúng theo quy định của pháp luật.
Đối với người tham gia tố tụng: nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật và chấp hành tốt nội quy phiên tòa. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.
- Về nội dung: Viện kiểm sát thấy rằng tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã thể hiện hôn nhân của bà Đoàn Thị S và ông Nguyễn Kim K là hợp pháp, ông bà tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận vào ngày 16/12/2011. Trong quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được 6-7 năm đầu, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, do không cùng quan điểm sống, ông K hay cờ bạc rượu chè dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn như trước, không ai quan tâm đến ai. Tại phiên toà bà S khai ông bà đã sống ly thân nhau khoảng 10 tháng nay, mạnh ai nấy sống. Tòa án cũng tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông K cũng không có ý kiến gì và cũng không tới Tòa án để hòa giải như vậy chứng tỏ tình cảm vợ chồng của ông bà không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó: căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56 và Điều 57 Luật HNGĐ 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà S được ly hôn ông K.
Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng K1 (nam), sinh ngày 25/8/2011 và Nguyễn Thị Như Ý (nữ), sinh ngày 18/8/2018. Hiện nay cháu K1 và Ý đang sống cùng bà S. Hơn nữa cháu K1 cũng có nguyện vọng được sống cùng bà S. Để đảm bảo ổn định cuộc sống và điều kiện tốt nhất cho cháu K1 và cháu Ý nên căn cứ Điều 58, 81, 82, 83 Luật HNGĐ 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận hai giao con chung cho bà S trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với các quy định của pháp luật. Về tiền cấp dưỡng: bà S yêu cầu ông K cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi hai con tròn 18 tuổi là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Do bà S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên VKS không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát thành phố P, hội đồng xét xử nhận định :
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Bà Đoàn Thị S có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, nuôi con chung. Bị đơn là ông Nguyễn Kim K hiện cư trú tại phường L, thành phố P. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Tòa án đã triệu tập hợp lệ, nhưng ông Nguyễn Kim K vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của bà Đoàn Thị S và ông Nguyễn Đức Q là hợp pháp, ông bà tự nguyện chung sống vào năm 2011 và có đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận vào ngày 16/12/2011.
Quá trình giải quyết vụ án, bà thừa nhận trong cuộc sống hôn nhân vợ chồng hạnh phúc khoảng 6 – 7 năm đầu sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không còn tin tưởng nhau, mâu thuẫn về tài chính, không có tiếng nói chung, không còn tôn trọng nhau, thường xuyên cải vã. Nhưng vì thương các con và K cũng hứa sẽ thay đổi nên vợ chồng vẫn chung sống với nhau nhưng được một thời gian thì lại phát sinh mâu thuẫn. Bà đã nộp đơn xin ly hôn hai lần nhưng vì thương các con, ông K cũng hứa sẽ thay đổi nên bà rút đơn về để vợ chồng đoàn tụ, cùng chăm lo cho các con nhưng được một thời gian ngắn thì không cải thiện được. Ông K cũng đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của bà S. Như vậy chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật HNGĐ 2014 Hội đồng xét xử xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Đoàn Thị S được ly hôn với ông Nguyễn Kim K.
[2.2] Về con chung: Ông K, bà S có 02 con chung tên Nguyễn Hoàng K1 (nam), sinh ngày 25/8/2011 và Nguyễn Thị Như Ý (nữ), sinh ngày 18/8/2018. Sau khi ly hôn, bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Xét thấy: Hiện nay cháu K1 và cháu Ý đang do bà S trực tiếp nuôi dưỡng. Cháu K1 cũng có nguyện vọng được ở với bà S. Để đảm bảo ổn định cuộc sống và điều kiện học hành, vật chất và tinh thần tốt nhất cho hai cháu nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà S: Giao con chung Nguyễn Hoàng K1 và Nguyễn Thị Như Ý cho bà S trực tiếp nuôi dưỡng.
Bà S, ông K có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn. Ông K có quyền thăm nom con chung.
Về mức cấp dưỡng và phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà S yêu cầu ông K cấp dưỡng tiền nuôi hai con 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi hai con tròn 18 tuổi và có khả năng lao động là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: bà S không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông K không có ý kiến phản hồi nên Hội đồng xét xử không xét trong vụ án này. Sau này nếu các đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[3] Xét đề nghị về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Bà S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. ông K phải chịu 300.000 đồng án phí về tiền cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ: Điều 5, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, 110, 116 và 117 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
2/ Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1.Về quan hệ hôn nhân: Bà Đoàn Thị S được ly hôn ông Nguyễn Kim K.
2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Nguyễn Hoàng K1 (nam), sinh ngày 25/8/2011 và Nguyễn Thị Như Ý (nữ), sinh ngày 18/8/2018 cho bà S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Bà S, ông K có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn. Ông K có quyền thăm nom cho chung.
Về mức cấp dưỡng và phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: ông K cấp dưỡng tiền nuôi hai con chung cho bà S mỗi tháng 3.000.000 đồng kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi hai con tròn 18 tuổi và có khả năng lao động.
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 01 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 02 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
4. Về án phí: Bà Đoàn Thị S phải chịu 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Kim K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (về tiền cấp dưỡng nuôi con). Ngày 03/10/2024, bà S đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết thu theo biên lai số 0002097, nay chuyển sang án phí và sung công quỹ nhà nước. Bà S đã nộp đủ tiền án phí.
Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, đối với bà Đoàn Thị S kể từ ngày tuyên án (26/11/2024), đối với ông Nguyễn Kim K kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án nơi cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa (Đã ký) Phan Thị Thái |
Bản án số 100/2024/HNGĐ-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT - TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 100/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT - TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đoàn Thị Sự xin ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông Nguyễn Kim Khoa
