Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/HS-ST

Ngày: 14/11/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Biểu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Trường, Ông Hoàng Xuân Hào.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà:

Bà Phùng Thị Lan - Kiếm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 93/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số : 97/2024/QĐXXST- HS ngày 30/10/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phạm Văn B, sinh năm 1977 tại huyện V, tỉnh Hưng Yên; giới tính: Nam; HKTT: thôn S, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 06/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Phạm Văn H (đã chết) và bà Phạm Thị D; vợ: Đặng Thị H1; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H, có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Đỗ Văn H2, sinh năm 1985 tại huyện V, tỉnh Hưng Yên; giới tính: Nam; HKTT: thôn Đ, xã P, huyện V, tỉnh Hưng Yên; nơi ở: phòng 301, nhà nghỉ H3, thôn G, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con bà Đỗ Thị M (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con;

Nhân thân:

  • - Ngày 29/10/2003 và 10/3/2004, bị UBND xã P, huyện V xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản;
  • - Ngày 28/6/2004, bị UBND xã P, huyện V xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc;
  • - Ngày 21/7/2022, bị Công an huyện V xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản;
  • - Ngày 06/9/2004, bị Tòa án nhân dân huyện Văn Giang xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong;
  • - Ngày 19/11/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong;
  • - Ngày 22/4/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Văn Giang xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong;
  • - Ngày 16/01/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xử phạt 28 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong;
  • - Ngày 18/9/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong;
  • - Ngày 04/02/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong;
  • - Ngày 11/3/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Văn Giang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong.

Tiền án: Ngày 16/9/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Văn Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 20/6/2023 bị cáo ra trại.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam - Công an tỉnh H, có mặt tại phiên tòa.

*Người làm chứng:

  • - Ông Nguyễn Trí S, sinh năm 1965; địa chỉ: Đ, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội;
  • - Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn G, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội;
  • - Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1970; địa chỉ: thôn S, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên;

(Đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ ngày 31/7/2024, tại đường C thuộc khu vực thôn S, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh H bắt quả tang Phạm Văn B, sinh năm 1977, hộ khẩu thường trú thôn S, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên đang mang ma túy đi bán. Vật chứng thu giữ tại túi quần bên trái của Phạm Văn B 01 túi nilon màu xanh bên trong có giấy kẻ ngang màu trắng chứa các cục, bột màu trắng (niêm phong ký hiệu MT1); 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A24 màu đen cũ kèm sim liên lạc; 01 xe moto BKS: 89F1-355.23 và số tiền 1.000.000 đồng.

Phạm Văn B khai nhận túi nilon màu xanh chứa các cục, bột màu trắng là ma túy (Heroine), do B mua của Đỗ Văn H2 vào chiều tối ngày 30/7/2024 tại khu vực đường đê thuộc xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên với số tiền 2.000.000 đồng; sau đó B mang về nhà lấy một ít sử dụng, số ma túy còn lại đến khoảng 14 giờ ngày 31/7/2024, B mang ra khu vực đường C thuộc khu vực thôn S, xã L, huyện V mục đích để bán nhưng chưa kịp bán đã bị Cơ quan điều tra - Công an tỉnh H bắt quả tang. Phạm Văn B khai Đỗ Văn H2 hiện đang thuê ở phòng 301, nhà nghỉ H3, thôn G, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội.

Hồi 19 giờ 45 phút ngày 31/7/204, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp người và nơi ở của Đỗ Văn H2 tại phòng 301, nhà nghỉ H3, thôn G, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội thu giữ:

  • + Thu giữ tại túi quần bên phải của Đỗ Văn H2 18 hói nilon màu xanh, bên trong có giấy kẻ ngang màu trắng chưa các cục, bột màu trắng (niêm phong ký hiệu MT2); 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Vivo màu xanh kèm sim liên lạc; 01 ví giả da màu nâu; 01 thẻ CCCD mang tên Đỗ Văn H2; số tiền 8.500.000 đồng và 01 xe moto Sirius BKS 99F1-067.29.
  • + Thu giữ tại gầm tủ cạnh tường trong phòng ngủ của H2 01 túi nilon màu trắng có viền kẹp màu đỏ, bên trong chứa các tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu MT3) và thu giữ tại giường ngủ của Đỗ Văn H2 01 cân điện tử màu bạc, 02 dao lam.

Tại bản Kết luận giám định số 526/KL-KTHS(MT) ngày 03/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận:

  • - Chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ký hiệu MT1, có khối lượng 0,848 gam là ma túy loại Heroine (H);
  • - Chấu màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ký hiệu MT2, có khối lượng 7,907 gam là ma túy loại Heroine (Heroin);
  • - Chất dạng tinh thể màu trắng niêm phong ký hiệu MT3, có khối lượng 9,679 gam là ma túy loại Methamphetamine.

Đỗ Văn H2 khai nhận khoảng 17 giờ ngày 30/7/2024, tại khu vực đường đê thuộc xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Đỗ Văn H2 bán cho Phạm Văn B 01 gói ma túy loại heroine với giá 2.000.000 đồng. Về nguồn gốc số ma túy thu giữ và bán cho Phạm Văn B, H2 khai mua của người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực cầu T, Thành phố Hà Nội vào sáng ngày 30/7/2024 với số tiền 5.000.000 đồng mục đích về để sử dụng và bán kiếm lời. Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đối với người bán ma túy cho Đỗ Văn H2, do H2 không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không đủ thông tin để xác minh xử lý.

Vật chứng của vụ án:

  • - 01 phong bì niêm phong số ma túy hoàn lại sau giám định của Phòng K - Công an tỉnh H số 526/KL-KTHS(MT) có 03 dấu tròn đỏ và 02 chữ ký;
  • - 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A24 màu đen cũ kèm sim liên lạc; 01 xe moto BKS 89F1-355.23 (thu giữ của Phạm Văn B);
  • - 01 ví giả da màu nâu; 01 xe moto BKS 99F1-067.29; 01 cân điện tử màu bạc; 02 dao lam; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh kèm sim liên lạc (thu giữ của Đỗ Văn H2);
  • - Đối với 01 thẻ CCCD mang tên Đỗ Văn H2, ngày 15/9/2024 Cơ quan điều tra - Công an tỉnh H đã trả lại cho ông Đỗ Ngọc T2 (là em họ của Đỗ Văn H2);
  • - Đối với số tiền 9.500.000 đồng (trong đó của Bàn là 1.000.000 đồng; của H2 là 8.500.000 đồng) hiện đang gửi tại tài khoản tạm giữ của Công an tỉnh mở tại Kho bạc Nhà nước tỉnh H.

Cáo trạng số 94/CT-VKS-P1 ngày 22/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Phạm Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Đỗ Văn H2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa.

  • * Các bị cáo thành khẩn khai nhận và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân.
  • * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Văn B và Đỗ Văn H2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Văn B.
  • Xử phạt bị cáo Phạm Văn B từ 02 năm 06 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2024.
  • - Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Văn H2.
  • Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H2 từ 12 năm đến 12 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2024.
  • Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  • Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
  • * Các bị cáo nhất trí và không tranh luận với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an tỉnh H, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền,trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tạiphiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân; lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, như: Lời khai của người làm chứng; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản khám xét, Biên bản niêm phong vật chứng; Bản kết luận giám định của Phòng K - Công an tỉnh H, đã đủ căn cứ kết luận: Hồi 14 giờ ngày 31/7/2024, tại đường C thuộc khu vực thôn S, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Phạm Văn B mang 0,848 gam ma túy loại Heroin nhằm mục đích để bán đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H bắt quả tang. Phạm Văn B khai nhận số ma túy nêu trên do B mua của Đỗ Văn H2. Khám xét nơi ở và trên người của Đỗ Văn H2 tại phòng 301, nhà nghỉ H3, thôn G, xã Đ, huyện G, Thành phố Hà Nội, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H thu giữ của Đỗ Văn H2 7,907 gam Heroine và 9,679 gam Methamphetamine mục đích để H2 sử dụng và bán kiếm lời. Trong vụ án, B phải chịu trách nhiệm hình sự với khối lượng 0,848 gam heroine; Đỗ Văn H2 phải chịu trách nhiệm hình sự khối lượng ma túy đã bán cho B 0,848 gam heroine cùng khối lượng ma túy thu giữ của H2 gồm 7,907 gam ma túy heroine và 9,679 gam ma túy Methamphetamine. Tổng khối lượng ma túy Đỗ Văn H2 phải chịu trách nhiệm hình sự là 18,434 gam ma túy (Heroine là 8,755 gam; Methamphetamine là 9,679 gam).

Các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phạm Văn B mua bán với khối lượng 0,848 gam ma túy, loại Heroine; Bị cáo Đỗ Văn H2 mua bán với tổng khối lượng 8,755 gam ma túy, loại Heroine và 9,679 gam ma túy Methamphetamine nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng là “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Phạm Văn B về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ Luật Hình sự và bị cáo Đỗ Văn H2 về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ Luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất ma túy; gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo thể hiện sự coi thường và bất chấp sự nghiêm trị của pháp luật chỉ vì siêu lợi nhuận từ việc mua bán ma túy. Vì vậy, cần xét xử nghiêm minh, xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội các bị cáo gây ra, để cải tạo, giáo dục riêng đối với các bị cáo và làm bài học răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Phạm Văn B, Đỗ Văn H2 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, do đó cả 02 bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Đỗ Văn H2 đã bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội mới với lỗi cố ý, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phạm Văn B không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Đặc điểm nhân thân: Bị cáo Phạm Văn B có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Đỗ Văn H2 là người có nhân thân xấu, đã bị kết án nhiều lần.

[5] Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử, xét thấy cần xử phạt các bị cáo hình phạt nghiêm minh, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

*Hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều không có việc làm và không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

  • - Đối với: 01 phong bì niêm phong số ma túy hoàn lại sau giám định của Phòng K - Công an tỉnh H số 526/KL-KTHS(MT) có 03 dấu tròn đỏ và 02 chữ ký, không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
  • - Đối với: 01 cân điện tử màu bạc; 02 dao lam thu của bị cáo Đỗ Văn H2 là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
  • - Đối với: 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A24 màu đen cũ kèm sim liên lạc thu của bị cáo Phạm Văn B; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh kèm sim liên lạc thu của bị cáo Đỗ Văn H2 là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu phát mại sung ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với: 01 xe moto BKS 89F1-355.23 và số tiền 1.000.000 đồng thu của bị cáo Phạm Văn Bàn L tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Phạm Văn B.
  • - Đối với: 01 ví giả da màu nâu; 01 xe moto BKS 99F1-067.29 và số tiền 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng) thu của bị cáo Đỗ Văn H2 là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Đỗ Văn H2.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

  • - Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Văn B.
  • - Căn cứ: điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Văn H2.
  • - Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Văn B và Đỗ Văn H2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt:

  • + Bị cáo Phạm Văn B 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2024.
  • + Bị cáo Đỗ Văn H2 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2024.

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số ma túy hoàn lại sau giám định của Phòng K - Công an tỉnh H số 526/KL-KTHS(MT) có 03 dấu tròn đỏ và 02 chữ ký.
  • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 cân điện tử màu bạc; 02 dao lam thu của bị cáo Đỗ Văn H2.
  • - Tịch thu, phát mại sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A24 màu đen cũ kèm sim liên lạc thu của bị cáo Phạm Văn B và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh kèm sim liên lạc thu của bị cáo Đỗ Văn H2.
  • - Trả lại cho bị cáo Đỗ Văn H2: 01 ví giả da màu nâu; 01 xe moto BKS 99F1-067.29 và số tiền 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng).
  • - Trả lại cho bị cáo Phạm Văn B: 01 xe moto BKS 89F1-355.23 và số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/11/2024 giữa Công an tỉnh và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên).

3. Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn H2 và Phạm Văn B mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 - TAND tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng HSNV - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Hưng Yên;
  • - Trại tạm giam - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA, VP, THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Biểu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 100/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Bàn và Đỗ Văn Hiếu phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger