|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 100/2024/HS - ST Ngày 14 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Như Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lưu Xuân Giới
Ông Trần Văn Nam
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều tham gia phiên
tòa: Bà Phạm Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 98/2024/TLST - HS ngày 22 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Trịnh Thị Bích N, sinh ngày: 14/5/1992, tại thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: khu M, phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn Q và bà Đàm Thị V; chồng: Nguyễn Văn T; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 29/6/2024 đến ngày 05/7/2024 được thay thế biện pháp tạm giữ bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Trần Văn D, sinh ngày: 14/02/1985, tại thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: khu G, phường K, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Q1 và bà Nguyễn Thị N1; vợ: Nguyễn Thị T1; con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 29/6/2024 đến ngày 05/7/2024 được thay thế biện pháp tạm giữ bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại tại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Nguyễn Văn P, sinh ngày: 07/5/1992, tại thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: khu G, phường K, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P1 và bà Lê Thị Đ; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 29/6/2024 đến ngày 05/7/2024 được thay thế biện pháp tạm giữ bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh ngày: 17/11/1981, tại thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: khu K, phường K, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến H1 và bà Hoàng Thị M; vợ: Nguyễn Thị T2; con: có 04 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 29/4/2008, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”, chấp hành xong Bản án năm 2009; bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 29/6/2024 đến ngày 05/7/2024 được thay thế biện pháp tạm giữ bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại tại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Nguyễn Văn S, sinh ngày: 22/8/1991, tại thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: khu N, phường K, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H2 và bà Trương Thị N2; vợ: Trương Thị T3; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 29/6/2024 đến ngày 05/7/2024 được thay thế biện pháp tạm giữ bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại tại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Nguyễn Tiến D1, sinh ngày: 26/02/1998, tại thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: khu K, phường K, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T4 và bà Lê Thị O; vợ: Đỗ Thị N3; con: có 01 con, sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại tại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Nguyễn Duy H3, sinh năm 1996; nơi cư trú: khu K, phường K, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
- - Anh Đặng Văn T5, sinh năm 1980; nơi cư trú: khu N, phường K, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
- - Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1989; nơi cư trú: khu M, phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
- - Anh Lê Ngọc T6, sinh năm 1980; nơi cư trú: khu M, phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt
* Người chứng kiến: anh Nguyễn Duy T7 và anh Trần Quang T8; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trịnh Thị Bích N mở cửa hàng bán nước giải khát, trông giữ xe môtô và chơi bida tại quán ở khu K, phường K, thị xã Đ (nay là thành phố Đ). Khoảng 11 giờ ngày 28/6/2024, Nguyễn Tiến D1 mang theo số tiền khoảng 1.300.000 đồng, đi đến quán của N với mục đích đánh bạc dưới hình thức chơi bida phỏm. Lúc này, N hỏi “không có ai tiếp hả” (tức chơi bida), thì D1 nói “đã làm gì có ai đâu”. Thấy vậy, N sử dụng dịch vụ Messenger trên mạng xã hội Facebook nhắn tin cho Nguyễn Văn S với nội dung “có rảnh không sang tiếp thằng B (tức Nguyễn Tiến D1)” thì thấy S "thả tim" vào tin nhắn của N. Sau khi N nhắn tin, thì Nguyễn Tiến D1 gọi điện thoại cho Trần Văn D rủ đến quán của N để cùng tham gia đánh bạc dưới hình thức chơi bida phỏm.
Khoảng 12 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn S mang theo khoảng 600.000 đồng, Trần Văn D mang theo khoảng 3.100.000 đồng, đến quán để cùng Nguyễn Tiến D1 đánh bạc bằng hình thức chơi bida phỏm. Trịnh Thị Bích N lấy 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 52 (năm mươi hai) quân bài ra để trên mặt bàn bida số 01 để cho S, Trần Văn D và Nguyễn Tiến D1 đánh bạc. Trước khi chơi, cả ba thống nhất mức đánh bạc là 20.000 đồng/01 lá bài và 20.000 đồng/01 quả vào rọ ngang (lỗ mười); nếu cháy cả bài (không hạ được lá bài nào) phải chịu phạt 200.000 đồng/01 ván, tiền này trả cho người thắng 180.000 đồng, còn lại bỏ vào rọ để trả tiền bàn cho N là 20.000 đồng/01 tiếng, quá trình chơi N phục vụ nước uống nếu ai uống có nhu cầu.
Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, thì Nguyễn Văn H mang theo khoảng 500.000 đồng đến tham gia đánh bạc với S, Trần Văn D và Nguyễn Tiến D1. Cả nhóm đánh bạc đến khoảng 15 giờ cùng ngày, thì Nguyễn Tiến D1 đi về trước, còn lại Trần Văn D, H, S tiếp tục đánh bạc và chuyển sang chơi tại bàn bida số 03. Một lát sau, thì Nguyễn Văn P mang theo 1.170.000 đồng, đến cùng tham gia đánh bạc với Trần Văn D, H và S. Cả bốn người đánh bạc đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, thì S đi về trước, còn lại Trần Văn D, H và P tiếp tục đánh bạc ở vị trí bàn bida số 03.
Cùng thời gian trên, vào khoảng 15 giờ cùng ngày, anh Nguyễn Duy H3 mang theo 250.000 đồng đi đến quán của N, thì gặp anh Đặng Văn T5 mang theo 226.000 đồng đang ở quán của N, anh T5 và anh H3 rủ nhau đánh bạc dưới hình thức chơi bida và được N bố trí chơi tại bàn bida số 02. Cả 2 thống nhất người nào thua phải trả cho người thắng là 50.000 đồng/01 ván. Trong quá trình đánh bạc, anh T5 và anh H3 chưa tính số ván thắng, thua để đưa tiền mà cả hai cùng để tiền đánh bạc vào giỏ bàn số 02 là 476.000đ (bốn trăm bẩy mươi sáu nghìn đồng).
Đến 17 giờ 20 phút cùng ngày, tổ công tác của Công an thành phố Đ tiến hành kiểm tra hành chính tại quán của N, đã phát hiện:
- - Tại bàn bida số 02 có anh Nguyễn Duy H3 và anh Đặng Văn T5 đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi bida. Thu giữ trong giỏ bàn bida số 02 số tiền đánh bạc là 476.000đ (bốn trăm bảy mươi sáu nghìn).
- - Tại bàn bida số 03 có Trần Văn D, Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn P đang đánh bạc dưới hình thức chơi bida phỏm. Vật chứng:
- + T3 trong giọ giữa bên phải bàn bida số 03 số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
- + Thu giữ của Trần Văn D 3.080.000đ (ba triệu không trăm tám mươi nghìn đồng) và 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max gắn sim số 0969.205.990;
- + Thu giữ của Nguyễn Văn H 1.960.000 đồng (một triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng); 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max gắn sim số 0971.570.519 và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max gắn sim số 0974.870.988;
- + Thu giữ của Nguyễn Văn P 1.475.000đ (một triệu bốn trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
- - Ngoài ra, tạm giữ của N: 03 (ba) bàn bida; 42 (bốn mươi hai) quả bida; 08 (tám) chiếc gậy gỗ để chơi bida; 01 (một) bộ bài lá 52 (năm mươi hai) quân; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO gắn sim số 0388.588.592
Căn cứ tài liệu điều tra, ngày 29/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trịnh Thị Bích N, Trần Văn D, Nguyễn Văn H, Trần Văn P2 và Nguyễn Văn S. Tạm giữ của S: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max gắn sim số 0382.435.619 và 50.000 đồng là số tiền còn lại của S sau khi tham gia đánh bạc. Ngày 09/7/2024, Nguyễn Tiến D1 đến Cơ quan điều tra khai nhận hành vi đánh bạc cùng đồng phạm và giao nộp 250.000 đồng là số tiền còn lại của D1 sau khi tham gia đánh bạc.
Quá trình điều tra, Trịnh Thị Bích N, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn S, Trần Văn D và Nguyễn Tiến D1 đều khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Trịnh Thị Bích N khai: bị cáo có mở quán nước giải khát, dịch vụ trông giữ xe và kinh doanh quán bida. Khoảng 11 giờ ngày 28/6/2024 thì có anh Nguyễn Tiến D1 đến quán bida chơi và bị cáo có nhắn tin rủ thêm anh S đến chơi cùng anh Nguyễn Tiến D1. Sau đó, lần lượt thấy anh Trần Văn D và Nguyễn Văn S đến chơi cùng ở bàn bida số 01. Khi mọi người chơi bida thì bị cáo ở ngoài bán nước, thu phí tiền bàn bida với giá 20.000đ/01 giờ, ngoài ra ai cần gọi đồ ăn, đồ uống thì bị cáo bán thêm. Bị cáo đưa cho anh S bộ bài tú lơ khơ (gồm 52 lá) để chơi, tuy nhiên họ chơi theo cách thức như thế nào thì bị cáo không rõ, bị cáo chỉ nghe thấy họ thống nhất với nhau là 20.000 đồng/01 lá bài và 20.000 đồng/01 quả bida vào rọ ngang (lỗ mười). Đến khoảng 13 giờ cùng ngày thì có anh H đến chơi bida cùng mọi người, khoảng 15 giờ thì anh Nguyễn Tiến D1 đi về, chỉ còn lại 03 người là anh Trần Văn D, anh S, anh H đánh bida với nhau. Một lúc sau có anh P đến cùng tham gia đánh bida, cả 04 người chuyển sang đánh từ bàn số 01 sang bàn số 03 cho đỡ nắng. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, có anh Đặng Văn T5 và Nguyễn Duy H3 rủ nhau chơi bida được thua bằng tiền tại bàn số 02, có anh Trần Quang T8 và Nguyễn Duy T7 đứng xem. Vì bận đi chợ nên bị cáo ra ngoài, khi trở về thì thấy còn 03 người là anh P, anh Trần Văn D và anh H3 vẫn đang đánh bida được thua bằng tiền. Đến 17 giờ cùng ngày thì có lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện có anh Đặng Văn T5 và H3 đang chơi ở bàn số 02, anh P, Trần Văn D và anh H chơi ở bàn số 03. Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản, thu giữ vật chứng và mời về trụ sở làm việc.
Bị cáo Nguyễn Văn P khai: bị cáo mang 1.075.000 đồng nhằm mục đích đánh bạc, khi bị bắt quả tang thì đang thắng số tiền 400.000 đồng, bị thu giữ số tiền 1.475.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Văn H khai: bị cáo mang 500.000 đồng nhằm mục đích đánh bạc, khi bị bắt quả tang thì đang thắng số tiền 1.460.000 đồng, bị thu giữ số tiền 1.960.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Văn S khai: bị cáo mang 600.000 đồng nhằm mục đích đánh bạc. Đến khoảng 16 giờ 30 phút thì bị cáo thua 550.000 đồng và còn lại 50.000 đồng nên đi về trước. Bị cáo không rõ những người khác đã sử dụng bao nhiêu tiền để tham gia đánh bạc cùng bị cáo, số tiền mọi người thắng thua như thế nào bị cáo cũng không để ý.
Bị cáo Trần Văn D khai: bị cáo mang 3.100.000 đồng nhằm mục đích đánh bạc, bỏ ra số lẻ 100.000 đồng để đánh, khi bị bắt thua 20.000 đồng, thu 80.000 đồng trong túi quần và 3.000.000 đồng trong ví. Do trong lúc chơi bị cáo thường thắng nên bị cáo chưa phải dùng đến số tiền trong ví. Nếu bị cáo thua thì bị cáo sẽ tiếp tục sử dụng số tiền trong ví để trả tiền thua bạc.
Bị cáo Nguyễn Tiến D1 khai: bị cáo mang 1.300.000 đồng nhằm mục đích đánh bạc, khi bị cáo ra về mang theo số tiền 250.000 đồng, bị cáo thua 1.050.000 đồng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Duy H3 và Đặng Văn T5 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: ngày 28/6/2024 các anh đến quán nước của N chơi bida và có hành vi đánh bạc với số tiền 476.000 đồng tại vị trí bàn số 02 trong quán của N, sau đó bị Công an kiểm tra, phát hiện đưa về trụ sở làm việc, thu giữ vật chứng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T (chồng bị cáo N) và anh Lê Ngọc T6 (người cho N mượn bàn bida) vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: các anh không biết N đã sử dụng bàn bida, quán bán hàng để cho các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc, thu lợi bất chính.
Người chứng kiến anh Trần Quang T8 và Nguyễn Duy T7 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai trong quá trình điều tra thể hiện: ngày 28/6/2024, các anh được Công an mời chứng kiến việc kiểm tra hành chính quán của Trịnh Thị Bích N tại địa chỉ khu K, phường K, thành phố Đ. Tại thời điểm kiểm tra, trong quán có 05 đối tượng đang có hành vi đánh bạc tại hai bàn bida số 02 và số 03. Sau đó, Công an đã lập biên bản thu giữ các vật chứng và đưa mọi người về trụ sở để làm việc.
Tại Cáo trạng số: 2308/CT- VKSĐT ngày 18 - 10 - 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều truy tố bị cáo Trịnh Thị Bích N về tội “Tổ chức đánh bạc”, theo điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn S, Trần Văn D và Nguyễn Tiến D1 về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Về hình phạt:
1.1. Về hình phạt chính:
- - Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 322; khoản 2, 3 Điều 35; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt: bị cáo Trịnh Thị Bích N từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Tổ chức đánh bạc", thời gian thử thách từ 30 đến 36 kể từ ngày tuyên án.
- Phạt tiền bị cáo Trịnh Thị Bích N từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.
- Giao bị cáo N cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, quản lý giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách (Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự).
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 35; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử: phạt tiền bị cáo Nguyễn Tiến D1 từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng về tội "Đánh bạc".
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 35; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử: phạt tiền các bị cáo Nguyễn Văn S và Trần Văn D từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng về tội "Đánh bạc".
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử: phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn H từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng về tội "Đánh bạc".
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 35; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử: phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn P từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng về tội "Đánh bạc".
1.2 Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng của vụ án: áp dụng các điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 7.591.000 đồng.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ tú lơ khơ 52 quân và 03 (ba) chiếc sim điện thoại đã thu của bị cáo Trịnh Thị Bích N, Nguyễn Văn S và Trần Văn D.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 03 chiếc điện thoại di động đã tạm giữ của bị cáo Trịnh Thị Bích N, Nguyễn Văn S và Trần Văn D.
- Lưu trong hồ sơ vụ án các đĩa DVD ghi âm, ghi hình đối với các bị cáo trong quá trình điều tra.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về việc định tội đối với bị cáo: lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, với biên bản kiểm tra hành chính hồi 17 giờ 20 phút ngày 28/6/2024 do Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Đ lập tại khu K, phường K, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, với biên bản xác định hiện trường, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, vật chứng thu giữ của các bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: trong khoảng thời gian từ 12 giờ đến 17 giờ 20 phút ngày 28/06/2024, tại quán bida của Trịnh Thị Bích N ở khu K, phường K, thành phố Đ, N có hành vi bố trí địa điểm, bàn chơi bida và một bộ bài tú lơ khơ để cho Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn S, Trần Văn D và Nguyễn Tiến D1 đánh bạc dưới hình thức chơi bida phỏm tại bàn bida số 01 (sau chuyển sang bàn số 03) với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 7.115.000đ (bảy triệu một trăm mười năm nghìn đồng); bố trí địa điểm, bàn chơi bida để cho anh Nguyễn Duy H3 và anh Đặng Văn T5 đánh bạc dưới hình thức chơi bida tại bàn bida số 02, với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 476.000đ (bốn trăm bảy mươi sáu nghìn đồng), thì bị kiểm tra, phát hiện thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo Trịnh Thị Bích N đủ yếu tố cấu thành tội: “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn S, Trần Văn D và Nguyễn Tiến D1 đủ yếu tố cấu thành tội: “Đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Về tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo: hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội. Từ việc tổ chức đánh bạc và đánh bạc, sát phạt được thua bằng tiền bất hợp pháp làm gây thiệt hại về kinh tế của chính bản thân và gia đình, các bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt trong nhân dân. Các bị cáo đều là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc bằng hình thức đá bida cược thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi, ham vui, ham chơi nên bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
[3.2] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án:
Bị cáo Trịnh Thị Bích N phải chịu trách nhiệm độc lập đối với hành vi tổ chức đánh bạc của mình.
Đối với hành vi đánh bạc của các bị cáo Nguyễn Tiến D1, Trần Văn D, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn P: đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn. Các bị cáo Nguyễn Tiến D1, Nguyễn Văn S khi được bị cáo N rủ rê, đã đồng ý đến và cùng với các bị cáo Trần Văn D, Nguyễn Văn H thực hiện hành vi đánh bạc nên có vai trò ngang nhau. Bị cáo Nguyễn Văn P đến tham gia đánh bạc sau nên có vai trò sau cùng và phải chịu trách nhiệm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[3.3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về nhân thân: các bị cáo Trịnh Thị Bích N, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn S, Trần Văn D và Nguyễn Tiến D1 không có tiền án, tiền sự.
- Bị cáo Nguyễn Văn H ngày 29/4/2008, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 24 tháng tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”, chấp hành xong bản án ngày 07/01/2009.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn S, Trần Văn D và Nguyễn Tiến D1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Trịnh Thị Bích N có ông nội là Trịnh Văn Đ1 được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất và Huy chương kháng chiến hạng Hai trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp; bị cáo Nguyễn Văn H có bố đẻ ông Nguyễn Tiến H1 được tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương kháng chiến, chiến sỹ vẻ vang; bị cáo Nguyễn Văn P có bố đẻ là người có công với cách mạng từng tham gia chiến tranh vùng biên giới Trung Quốc; bị cáo Nguyễn Tiến D1 có ông nội, ông ngoại được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến nên các bị cáo Trịnh Thị Bích N, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn P, Nguyễn Tiến D1 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ vào nhân thân, hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo cũng như những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: các bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn S, Trần Văn D và Nguyễn Tiến D1 phạm tội ít nghiêm trọng, tổng số tiền tham gia đánh bạc không lớn (7.115.000 đồng), có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng và công việc thu nhập ổn định, nên không nhất thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội, mà áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn H mặc dù đã bị xét xử và kết án nhưng bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, được xóa án tích. Từ đó đến nay bị cáo đều chấp hành tốt đường lối chính sách, không vi phạm pháp luật và được chính quyền địa phương xác nhận, nay bị cáo tiếp tục phạm tội vì mục đích tư lợi nên cần áp dụng mức hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ tác dụng để giáo dục, răn đe đối với bị cáo, giúp bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Đối với bị cáo Trịnh Thị Bích N có lai lịch và nơi cư trú rõ ràng, trước khi phạm tội có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, bản thân luôn chấp hành tốt các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương nơi cư trú, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho bị cáo được cải tạo trong môi trường xã hội dưới sự quản lý giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.
[3.4] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 3 Điều 322, khoản 2 và khoản 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự, cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Trịnh Thị Bích N
Các bị cáo Trần Văn D, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn H và Nguyễn Tiến D1 đã bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.
[3.5] Về tình tiết khác trong vụ án:
Đối với Nguyễn Duy H3 và Đặng Văn T5 có hành vi đánh bạc với số tiền 476.000 đồng, Công an thành phố Đ đã ra Quyết định xử phạt hành chính.
Vật chứng của vụ án: đối với 03 (ba) bàn bida, 42 (bốn mươi hai) quả bida, 08 (tám) chiếc gậy gỗ để chơi bị da là do Trịnh Thị Bích N mượn của anh Lê Ngọc T6, anh T6 không biết N sử dụng vào việc tổ chức đánh bạc nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Lê Ngọc T6; 02 (hai) chiếc điện thoại di động tạm giữ của bị cáo H, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho H. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Lưu trong hồ sơ vụ án các đĩa DVD ghi âm, ghi hình các bị cáo trong quá trình điều tra.
[4] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Đối với 03 (ba) chiếc điện thoại di động tạm giữ của Trịnh Thị Bích N, Nguyễn Văn S, Trần Văn D liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước; các sim điện thoại kèm theo và 01 (một) bộ bài lá 52 (năm mươi hai) quân không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy; số tiền 7.591.000 đồng (bảy triệu năm trăm chín mươi mốt nghìn) là tiền các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[5] Về xử lý biện pháp ngăn chặn: do các bị cáo không bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn nên cần hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” đối với các bị cáo.
[6] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
- - Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 322; khoản 2, 3 Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Thị Bích N 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Tổ chức đánh bạc”, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14 tháng 11 năm 2024).
- Phạt tiền bị cáo Trịnh Thị Bích N 10.000.000đ (mười triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.
- Giao bị cáo Trịnh Thị Bích N cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D1 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn D 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.
2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo vỏ màu xanh của bị cáo Trịnh Thị Bích N; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng của bị cáo Nguyễn Văn S; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu trắng của bị cáo Trần Văn D;
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 52 quân; các sim điện thoại: 0388.588.xxx; 0382.435.619; 0969.205.990;
- (Tình trạng vật chứng, tài sản như biên bản giao nhận vật chứng số 15 ngày 18 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Triều).
- - Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 7.591.000đ (bảy triệu năm trăm chín mươi mốt nghìn đồng)
- (Số tiền trên được đựng trong các gói niêm phong số 389, 390, 391, 392, 393, 394 theo biên bản giao nhận tài sản số 34 ngày 08/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và Kho bạc Nhà nước thành phố Đ)
3. Về xử lý biện pháp ngăn chặn: căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” số 93, 94, 95, 96, 97, 98/HSST - LCĐKNCT ngày 24/10/2024 và “Tạm hoãn xuất cảnh” số 203, 204, 205, 206, 207, 208/2024/QĐ - THXC ngày 24/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều đối với các bị cáo Trịnh Thị Bích N, Trần Văn D, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn H và Nguyễn Tiến D1 kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
4. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Trịnh Thị Bích N, Trần Văn D, Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn H và Nguyễn Tiến D1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thị Như Quỳnh |
Bản án số 100/2024/HS - ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự: tổ chức đánh bạc và đánh bạc
- Số bản án: 100/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Thị Bích Ng
