Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÍ LINH

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/HS - ST

Ngày: 31-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Thu Hương

  • Các Hội thẩm nhân dân:

    • Ông Nguyễn Văn Thành

    • Bà Vũ Thị Linh

  • - Thư ký phiên toà: Bà Trần Mai Hương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở UBND phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 92/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2024/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Đoàn Hải Đ, sinh năm 1997 tại thành phố C, tỉnh Hải Dương; Nơi ĐKHKTT: Khu dân cư H, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Nơi ở hiện nay: Khu dân cư K, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Con ông Đoàn Hải B và bà Phạm Thị N; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 30/8/2024, hiện tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

* Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1996. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 18 giờ ngày 13/8/2024, Đoàn Hải Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 34C1-288.18 đi từ nhà đến khu vực huyện L, tỉnh Bắc Giang để mua ma tuý về sử dụng. Tại đây Đ gặp và mua 500.000đồng tiền ma túy của một người đàn ông không rõ nhân thân, lý lịch được 01 túi ni lông ma túy. Sau khi mua được ma túy, Đ đi về thì gặp Nguyễn Văn Q, sinh năm 1996, trú tại khu dân cư K, phường V, thành phố C đang đứng ở cổng nhà Q. Đ hỏi Q “ở đây được không” đồng thời giơ ra trước mặt Q gói ma túy để Q xem (ý Đ hỏi Q có sử dụng ma túy ở nhà Q được không). Đ bảo Q “hay ra bờ giếng nhà tao ngồi” (ý Đ rủ Q sang chỗ giếng làng đối diện cổng nhà Đ để sử dụng ma túy). Q đồng ý và đi về nhà Đ. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày Q đứng ở cổng đợi, Đ đi vào nhà lấy cóong thủy tinh, bật lửa ga, ống hút rồi cùng Q đi sang khu vực đất trống đối diện cổng nhà Đ để sử dụng ma túy (cách vị trí giếng làng khoảng 2mét). Đ đổ ma túy vào cóóng rồi dùng bật lửa ga đốt nóng ma túy để Đ sử dụng trước sau đó cho Q cùng sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng ma túy xong, Đ đã làm rơi vỡ cóong, các mảnh vỡ vứt ra rìa đường, bật lửa, ống hút, vỏ túi ni lông đựng ma túy Đ cầm về cất vào hộp thuốc lá “Thăng Long” để ở phòng ngủ.

Hồi 16 giờ 30 phút ngày 17/8/2024, Công an thành phố C phối hợp với Công an phường V tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Đoàn Hải Đ và Nguyễn Văn Q xác định Đ và Q đều dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine. Đ đã tự khai nhận về hành vi phạm tội như đã nêu trên và giao nộp: 01 hộp kim loại, bên ngoài có chữ “Thăng Long", kích thước (8x9x1,5)cm, bên trong chứa 01 vỏ túi ni lông màu trắng, kích thước (1,5x2)cm, bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu (T2); 01 ống hút màu trắng, chiều dài 17cm, 01 bật lửa ga màu đỏ không nhãn mác. Cơ quan Công an đã thu giữ tại vị trí rìa đường nơi Đ, Q sử dụng ma túy 01 bầu cóng thủy tinh bị vỡ, kích thước (3,2x1,9)cm, bên trong bán dính chất cặn màu đen được niêm phong trong phong bì ký hiệu (T1).

Bản kết luận giám định số: 372/KL-KTHS ngày 21 tháng 08 năm 2024 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận:

Quá trình giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong mẫu chất cặn màu đen bám dính bên trong bầu coóng thủy tinh bị vỡ, kích thước (3,2x1,9)cm được niêm phong gửi đến giám định. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng. H lại 01 bầu coóng thủy tinh bị vỡ, 01 vỏ phong bì ký hiệu (T1) được niêm phong trong phong bì ký hiệu H1.

Chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong túi ni lông màu trắng, kích thước (1,5x2)cm được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng; H lại 01 vỏ túi ni lông màu trắng, 01 vỏ phong bì ký hiệu (T2) được niêm phong trong phong bì ký hiệu H2.

2

Tại bản cáo trạng số số 99 ngày 01/10/2024 của Viện KSND thành phố C truy tố Đoàn Hải Đ về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Tòa án: Tuyên bố cáo Đoàn Hải Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 255, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Xử phạt bị cáo Đoàn Hải Đ từ 25 tháng đến 28 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị tạm giam 30/8/2024.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu H1 bên trong chứa 01 bầu cóóng thủy tinh bị vỡ, 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu T1 niêm phong mẫu vật gửi giám định, 01 phong bì niêm phong ký hiệu H2 của bên trong chứa 01 vỏ túi ni lông màu trắng và 01 vỏ phong bì ký hiệu T2 niêm phong mẫu vật gửi giám định của Phòng K Công an tỉnh H; 01 bật lửa gas màu đỏ, không nhãn mác, 01 ống hút nhựa màu trắng, chiều dài 17cm, 01 hộp kim loại, kích thước (8x9x1,5)cm, bên ngoài có chữ “Thăng Long”.

Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

3

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo Đoàn Hải Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, người chứng kiến kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 13/8/2024 tại khu vực rìa đường (phía đối diện chỗ ở của Đoàn Hải Đ), ở khu dân cư K, phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Đoàn Hải Đ có hành vi chuẩn bị công cụ và ma tuý loại Methamphetamine để Đ và Nguyễn Văn Q sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó đủ căn cứ xác định Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố bị cáo Đoàn Hải Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 BLHS đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý mua ma túy về sử dụng trái phép chất ma túy để thoả mãn cơn nghiện đồng thời chuẩn bị công cụ sử dụng ma túy, cung cấp ma túy và cho người khác sử dụng trái phép ma túy. Trong vụ án, bị cáo Đ là người mua ma túy, chuẩn bị công cụ để sử dụng trái phép ma túy, rủ rê Nguyễn Văn Q và cho Q sử dụng trái phép ma túy.

Khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cũng xem xét tới các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và tính chất hành vi bị cáo Đ như sau: Bị cáo Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo có nhân thân tốt nhưng bị cáo không có việc làm ổn định, nghiện ma túy, hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật nên cần áp dụng hình phạt tù thỏa đáng, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để rèn luyện bị cáo trở thành người có ích, đồng thời răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung

4

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập, không có tài sản riêng nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bầu coóng thủy tinh bị vỡ, 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu T1 niêm phong mẫu vật gửi giám định, 01 vỏ túi ni lông màu trắng, 01 vỏ phong bì ký hiệu T2 niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 bật lửa gas màu đỏ, không nhãn mác, không có bảo vệ phần phun ga, trong bật lửa không có ga, bật lửa đã qua sử dụng; 01 ống hút nhựa màu trắng, chiều dài 17cm đã qua sử dụng; 01 vỏ hộp thuốc là bằng kim loại,bên ngoài có chữ “Thăng Long”, kích thước (8x9x1,5)cm đã qua sử dụng là vật chứng Nhà nước cấm tàng trữ, vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được nên cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

[6] Trong vụ án, đối tượng bán ma túy cho Đ, không xác định được nhân thân, lý lịch nên không có căn cứ để xử lý. Bà Phạm Thị N cho Đ mượn nhà ở nhờ, bà N không biết việc Đ để ma túy tại nhà ở nên không có căn cứ xử lý.

Đối với hành vi sử dụng ma túy trái phép chất ma túy của Đoàn Hải Đ, Nguyễn Văn Q, Công an thành phố C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.

[7] Về án phí: Bị cáo Đ bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của BLTTHS; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Hải Đ phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".

    Xử phạt bị cáo Đoàn Hải Đ 25( hai mươi lăm) tháng tù, thời chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 30/8/2024.

    Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

  2. Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu tiêu huỷ 01 bầu cóong thủy tinh bị vỡ, 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu T1 niêm phong mẫu vật gửi giám định đựng trong 01 phong bì dán kín, mặt trước ghi: Công an tỉnh H số 372/KL-KTHS, cơ quan C, tang vật vụ án gửi giám định QĐTC số 790 ngày 19/8/2024, góc phải ký hiệu H1, mặt sau phong bì có 03 dấu đỏ giáp lai của phòng K Công an tỉnh H và 03 chữ ký niêm phong mẫu.

    Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ túi ni lông màu trắng, 01 vỏ phong bì ký hiệu T2 niêm phong mẫu vật gửi giám định đựng trong 01 phong bì dán kín, mặt trước ghi: Công an tỉnh H số 372/KL-KTHS, cơ quan C, tang vật vụ án gửi giám định QĐTC số 790 ngày 19/8/2024, góc phải ký hiệu H2, mặt sau phong bì có 03 dấu đỏ giáp lai của phòng K Công an tỉnh H và 03 chữ ký niêm phong mẫu.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 bật lửa gas màu đỏ, không nhãn mác, không có bảo vệ phần phun ga, trong bật lửa không có ga, bật lửa đã qua sử dụng; 01 ống hút nhựa màu trắng, chiều dài 17cm đã qua sử dụng; 01 vỏ hộp thuốc là bằng kim loại, bên ngoài có chữ “Thăng Long”, kích thước (8x9x1,5)cm đã qua sử dụng

    (Tình trạng cụ thể của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT- Công an thành phố C và Chi cục THADS thành phố C ngày 03/10/2024).

  3. Về án phí: Buộc bị cáo Đoàn Hải Đ phải chịu 200.000đồng(hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

6

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Chí Linh;

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;

  • - CQĐT Công an thành phố Chí Linh;

  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;

  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ- Công an tỉnh Hải Dương;

  • - Cơ quan THA hình sự - Công an thành phố Chí Linh;

  • - Chi cục THADS thành phố Chí Linh;

  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;

  • - Bị cáo;

  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/HS - ST ngày 31/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 100/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đoàn Hải Đ phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger