|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RG TỈNH KG ————— |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 100/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 21/10/2024
V/v tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RG
TỈNH KG
—————
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Đức Luân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Chung Kim Sang
2. Ông Mai Văn Bé Em
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Mai Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố RG, tỉnh KG.
Ngày 21 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố RG xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 299/2023/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03/10/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Danh Thúy D, sinh năm 1985 (có mặt).
Địa chỉ: 319/1, đường QT, phường VQ, thành phố RG tỉnh KG.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Bá T, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Địa chỉ: D5-83, đường NVT, khu phố 4, phường VT, thành phố RG, tỉnh KG.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/4/2023 và lời khai trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn – bà Danh Thúy D trình bày: Bà và ông Nguyễn Bá T tự quen biết, yêu thương nhau, tổ chức cưới hỏi vào tháng 8/2006, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường VQ, thành phố RG, tỉnh KG và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 16/11/2012.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng từ năm 2019 thì hai người thường xảy ra mâu thuẫn, chủ yếu là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cách sống, ông T chỉ lo ăn chơi, cờ bạc thâu đêm suốt sáng, bỏ bê vợ con. Bà đã nhiều lần cố gắng hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được mà mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Cảm thấy không thể sống chung với nhau được nữa nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T.
- Về con chung: Có 01 người con chung tên Nguyễn Hữu T, sinh ngày 27/01/2013. Bà yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến khi thành niên, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà D cam kết ly hôn không nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ về tài sản và nợ đối với người khác.
- Tại biên bản trình bày nguyện vọng lập ngày 29/8/2024, người con chung là Nguyễn Hữu T có ý kiến: Muốn được sống chung với mẹ là bà Danh Thúy Diễm.
- Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử hôm nay, bị đơn – ông Nguyễn Bá T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Nguyên đơn – bà Danh Thúy D yêu cầu ly hôn, nuôi con chung đối với bị đơn – ông Nguyễn Bá T nên quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Các đương sự tranh chấp về quan hệ hôn nhân, bị đơn có nơi cư trú tại thành phố RG, tỉnh KG. Do đó, căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố RG, tỉnh KG.
[3] Bị đơn – ông Nguyễn Bá T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn – bà Danh Thúy D yêu cầu xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quyết định xét xử vắng mặt bị đơn – ông Nguyễn Bá T.
Về nội dung vụ án:
2
[1] Xét yêu cầu ly hôn: Bà D và ông T tự quen nhau, sau đó quyết định tiến tới hôn nhân, hai người đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường VQ, thành phố RG, tỉnh KG và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 16/11/2012; như vậy, việc kết hôn của bà D và ông T đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nên quan hệ hôn nhân giữa hai người là hợp pháp. Qua lời khai trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bà D cho rằng trong quá trình chung sống, vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cách sống, ông T chỉ lo ăn chơi, cờ bạc thâu đêm suốt sáng, bỏ bê vợ con, bà đã nhiều lần cố gắng hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được mà mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng, vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Căn cứ theo quy định tại Điều 91, khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử nhận thấy rằng, nguyên đơn – bà D đã chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ, đúng quy định pháp luật, bị đơn – ông T không có mặt theo văn bản tố tụng, giấy triệu tập hợp lệ của Tòa án cũng như ý kiến bằng văn bản liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mặc dù đã được Tòa án thực hiện cấp tống đạt các thủ tục tố tụng hợp lệ. Xét thấy, mối quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D.
[2] Về con chung: Bà Diễm yêu cầu tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng người con chung tên Nguyễn Hữu T, sinh ngày 27/01/2013 đến khi thành niên, không yêu cầu ông Thọ cấp dưỡng nuôi con chung. Xét yêu cầu này là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng như ý chí nguyện vọng của con chung, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà D xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện ly hôn và nuôi con chung của nguyên đơn – bà Danh Thúy D.
[5] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn – bà Danh Thúy D phải chịu nghĩa vụ nộp số tiền án phí 300.000 đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 300.000 đồng mà bà D đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007535, ngày 17/5/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố RG nên bà D không phải nộp thêm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
3
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Danh Thúy D, cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Danh Thúy D được ly hôn với ông Nguyễn Bá T.
- Về con chung: Giao người con chung tên Nguyễn Hữu T, sinh ngày 27/01/2013 cho bà Danh Thúy D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi thành niên, do bà Danh Thúy D không yêu cầu ông Nguyễn Bá T cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.
Sau khi ly hôn, ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà D xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó không xem xét.
2. Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn – bà Danh Thúy D phải chịu nghĩa vụ nộp số tiền án phí 300.000 đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 300.000 đồng mà bà D đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007535, ngày 17/5/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố RG nên bà D không phải nộp thêm.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
4
- - Các đương sự;
- - UBND P. VQ, TP. RG, KG;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
Đào Đức Luân
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
|
Chung Kim Sang |
Mai Văn Bé Em |
Đào Đức Luân |
5
6
7
8
Bản án số 100/2024/HNGĐ-ST ngày 21/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RG, TỈNH KG về tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 100/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RG, TỈNH KG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Danh Thúy D được ly hôn với ông Nguyễn Bá T
