Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/HS – ST.

Ngày: 18/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đình Đậu

2. Ông Nguyễn Duy Tính

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 100/2024/TLST- HS ngày 22 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 02/01 /1986; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT: 31/160 đường P, phường P, thị xã S, TP Hà Nội; Chỗ ở hiện nay: 12/23 phố L, thị xã S, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết); con bà: Nguyễn Thị M, sinh năm 1964 mẹ bị cáo hiện ở phố L, thị xã S, TP Hà Nội; Vợ: Nguyễn Thị P, sinh năm 1988 (đã ly hôn); Con: có 01 con sinh năm 2011 hiện đang ở tại thị xã S, thành phố Hà Nội.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân:

  • + Ngày 29/9/2011 T bị Công an phường P, thị xã S xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau, gây rối trật tự công cộng, hình thức phạt tiền số tiền 750.000đ (bị cáo đã nộp phạt xong ngày 06/10/2012);
  • + Tại Quyết định V/v áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc số 144/QĐ – UBND ngày 11/4/2012 của UBND thị xã S, T bị đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm G Hà Nội, thời gian: 24 tháng. T đã chấp hành xong.
  • + Bản án số 82/2016/HSST ngày 15/8/2016 của Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xử phạt T: 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị can chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/11/2017 và đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm ngày 19/10/2016.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 19/5/2024. Ngày 24/5/2024, Cơ quan điều tra khởi tố, chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 10 phút ngày 19/5/2024 tại tổ B, khu M, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Tổ công tác Đội CSĐT tội phạm về ma tuý Công an thành phố V, phát hiện một nam giới có biểu hiện sử dụng ma tuý, đã yêu cầu kiểm tra nam giới tự khai tên là Nguyễn Văn T, sinh năm 1986. HKTT: phường P, thị xã S, thành phố Hà Nội. Tại chỗ T giao nộp cho tổ công chức 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 02 túi nilon màu trắng đều một đầu có khuy bấm trong đó 01 túi bên trong có chứa 01 viên dạng nén hình tròn màu hồng, một mặt có in chữ WY và 01 túi bên trong có chứa bột cục màu hồng cùng với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng trắng đã cũ số Imei (trong nguồn): 3593 0406 0216986 kèm sim trong máy số 0862 353 161. T tự nhận đây là ma túy đá và 02 túi ma tuý hồng phiến T mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và thu giữ các vật chứng trên theo quy định.

Ngày 19/5/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V ra Quyết định trưng cầu giám định đối với 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 02 túi nilon màu trắng đều một đầu có khuya bấm trong đó 01 túi bên trong có chứa 01 viên dạng nén hình tròn màu hồng, một mặt có in chữ WY và 01 túi bên trong có chứa bột cục màu hồng thu giữ của T. Tại Bản kết luận giám định số 710/KL-KTHS ngày 22/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P kết luận:

  • " - Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong gói nilon, gửi đến giám định là ma tuý; loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,220 gam;
  • - 01 viên nén hình tròn màu hồng chứa bên trong túi nilon, gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,130 gam;
  • - Chất bột cục, màu hồng chứa bên trong túi nilon, gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,062 gam.
  • * Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong Danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ”.

Hoàn trả lại đối tượng giám định 0,147 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 0,128 gam chất bột, cục màu hồng là mẫu vật còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.

Tại Cơ quan điều tra, T khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Do bản thân là người thường xuyên sử dụng chất ma tuý, khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 18/5/2024, T một mình bắt taxi ở ven đường (T không nhớ biển số xe và hãng nhà xe) xuống khu vực gần bến xe thị xã S, thành phố Hà Nội để tìm mua ma tuý đá và ma tuý hồng phiến để sử dụng. Tại đây, T gặp và mua của 01 người phụ nữ tên T2 có đặc điểm khoảng 50 tuổi, da ngăm đen, dáng người gầy cao khoảng 1m60 (T không biết tuổi, địa chỉ cụ thể) 300.000₫ ma tuý đá và 200.000₫ ma tuý hồng phiến. T cầm số ma tuý vừa mua được rồi đi về nhà. Khi về đến nhà, T mở gói ma tuý đá ra tách lấy một phần cho vào mảnh giấy bạc, rồi mở 01 túi ma tuý hồng phiến, nghiền nát viên ma tuý này ra rồi tách lấy 01 phần trộn cùng với số ma tuý đá để sử dụng, phần còn lại Thành gói lại như cũ. Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 19/5/2024, T đúc số ma tuý còn lại vào trong túi quần bên phải đang mặc đi sang thành phố V, tỉnh Phú Thọ chơi và tìm nơi sử dụng ma tuý. Khi đến khu vực quán C thuộc phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ thì bị Tổ công tác Đội CSĐT tội phạm về ma tuý của Công an thành phố V phát hiện, kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng nêu trên.

Tại biên bản kiểm tra kết quả xét nghiệm ma túy bằng que thử nước tiểu ngày 19/5/2024 của Công an thành phố V đối với T kết quả: T dương tính với chất ma túy.

Về vật chứng, đồ vật, tài sản thu giữ trong vụ án gồm: 0,147 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 0,128 gam chất bột, cục màu hồng còn lại sau giám định để trong 01 bì niêm phong số 710 của Phòng K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng trắng đã cũ số Imei (trong nguồn): 3593 0406 0216986 kèm sim trong máy số 0862.353.161 thu giữ của T (T dùng để liên lạc hàng ngày, không liên quan gì đến việc mua trái phép chất ma tuý), hiện đang tạm giữ tại kho vật chứng của Cơ quan thi hành án dân sự thành phố V.

Tại bản cáo trạng số 98/CT-VKS-VT ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự.

Tại phiên toà:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Văn T, Đại diện VKSND thành phố Việt Trì đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt từ: 30 (Ba mươi) tháng tù đến 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/5/2024.

- Về hình phạt bổ sung:

  • + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu màu vàng trắng đã cũ, số IMEI trong nguồn: 359304060216986.

- Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • + Tịch thu, tiêu hủy 0,147 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 0,128 gam chất cục bột màu hồng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định đựng trong 01 bì niêm phong có số: 710/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh P hoàn trả.
  • + Tịch thu tiêu huỷ 01 sim số 0862.353.161 của Nguyễn Văn T.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận, đối đáp gì với đại diện VKSND TP Việt Trì. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử tuyên bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra Cơ quan tiến hành tố tụng, nguời tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ 10 phút ngày 19/5/2024 tại tổ B, khu M, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép, khối lượng 0,412 gam chất ma tuý gồm: 0,220 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 0,130 gam viên nén hình tròn màu hồng và 0,062 gam chất bột cục, màu hồng, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng, bị Tổ công tác Đội CSĐT tội phạm về ma tuý Công an thành phố V kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Bị cáo Nguyễn Văn T là người có năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân bị cáo đã bất chấp pháp luật. Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy. Hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Hiện nay, tình hình nghiện ma túy đang diễn ra phức tạp, tệ nạn này là mối quan tâm của toàn xã hội, hành vi của bị cáo không chỉ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người mà còn là nguyên nhân dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu. Ngày 29/9/2011 bị cáo bị Công an phường P, thị xã S xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau, gây rối trật tự công cộng, hình thức phạt tiền số tiền 750.000đ; Ngày 11/4/2012 bị cáo bị đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm G Hà Nội, thời gian: 24 tháng; Tại Bản án số 82/2016/HSST ngày 15/8/2016 của Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xử phạt T: 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xét hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, cần có mức hình phạt nghiêm khắc là cách ly bị cáo khỏi cộng đồng một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Qua xác minh của Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Văn T không có tài sản nào khác ngoài 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu 01 (một) IPHONE màu màu vàng trắng đã cũ, số IMEI trong nguồn: 359304060216986 do cơ quan điều tra thu giữ, xét thấy đây là tài sản riêng của bị cáo nên cần áp dụng hình phạt bổ sung tịch thu xung vào ngân sách nhà nước.

[5] Về vật chứng của vụ án:

  • - Đối với 0,147 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 0,128 gam chất cục bột màu hồng còn lại sau giám định, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định là chất ma túy nhà nước cấm tàng trữ, mua bán và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối 01 sim số 0862.353.161 kèm trong máy của Nguyễn Văn T không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Các vấn đề khác:

Đối với người phụ nữ tên T2, ngoài lời khai của T không có căn cứ nào chứng minh về việc T2 bán ma tuý cho T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ căn cứ để xác minh, làm rõ, xử lý do đó HĐXX không xem xét.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 18/5/2024 của T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã chuyển Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo là đúng quy định.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/5/2024.

2. Hình phạt bổ sung:

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu đen đã cũ số IMEI trong nguồn: 357375096991828.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/8/2024 tại Chi cục thi hành án Dân sự TP Việt Trì).

3. Xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu, tiêu hủy 0,147 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 0,128 gam chất cục bột màu hồng cùng toàn bộ bao gói gởi đến giám định đựng trong 01 bì niêm phong có số: 710/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh P hoàn trả.
  • - Tịch thu tiêu huỷ 01 sim số 0862.353.161 của Nguyễn Văn T.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/8/2024 tại Chi cục thi hành án Dân sự TP Việt Trì).

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND Tp Việt Trì;
  • - Cơ quan CSĐT CA Tp Việt Trì;
  • - Phòng Hồ sơ NV CA TP Việt Trì;
  • - Chi cục THA DSTP Việt Trì;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Phú Thọ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/HS – ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự)

  • Số bản án: 100/2024/HS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger