|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 100/2024/HS-ST
Ngày 20 tháng 9 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lư Thị Châu Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Sơn và ông Huỳnh Mộc Khải.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Trí - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tham gia phiên toà: Ông Lý Chí Nam - Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 08 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 93/2024/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Đỗ Minh Đ (Đức Hai H), sinh năm 1981, tại C, An Giang; nơi ĐKTT: tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Thành H và bà Trần Thị T; vợ Lê Thị Thanh T1 sinh năm 1988; có 01 con sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- - Ngày 12/12/1998 Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Châu Đ1 xử phạt 01 năm tù về tội “Cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân” (Bản án số 125/HSST), đã chấp hành xong;
- - Ngày 24/9/2013 Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Châu Đ1 xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy” (Bản án số 83/HSST), đã chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/10/2023 đến nay (có mặt).
Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Trần Chí C, Văn phòng L – Đoàn Luật sư tỉnh A (có mặt).
Người làm chứng:
- - Phan Đăng K (Tuấn E), sinh năm 1990 (có mặt);
- - Nguyễn Bá B, sinh năm 1996 (có mặt);
- - Nguyễn Thị Ngọc T2, sinh năm 1991 (có mặt);
- - Đỗ Thị Ngọc H1, sinh năm 1992 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 03/12/2022, ngày 18/3/2023 và ngày 07/6/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố C lần lượt bắt quả tang Đỗ Thị Ngọc H1, Phan Đăng K, Nguyễn Bá B về hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy. Qua điều tra H1, K, B khai nhận số ma túy bị bắt giữ H1, K, B mua của Đỗ Minh Đ, sinh năm 1981, cư trú tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang về để bán lại kiếm lời. Căn cứ vào khai của H1, K, B, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố C khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đ, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đồng thời tiến hành khám xét chỗ ở của Đ, qua khám xét thu giữ được nhiều đồ vật liên quan đến việc sử dụng, mua bán ma túy.
Quá trình điều tra đã xác định Đỗ Minh Đ đã nhiều lần mua bán trái phép chất ma túy cho H1, K, B như sau:
- - Lần 1: Khoảng 23 giờ ngày 03/12/2022, lực lượng công an bắt quả tang Đỗ Thị Ngọc H1 điều khiển xe mô tô biển số 67C1-639.15, chở Đỗ Nguyên K1 (sinh ngày 23/4/2018, con ruột H1), thu giữ trong túi áo khoác màu vàng bên trái của K1 đang mặc 01 túi nhựa trong suốt, một đầu có rãnh khóa viền đỏ, chứa tinh thể trắng (giám định ma túy, loại Methamphetamine). H1 khai ma túy đá, mua của Đỗ Minh Đ (Đức Hai H), giá 2.800.000 đồng, cất giấu để bán cho Nguyễn Duy P, kiếm lời, lực lượng Công an tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ 8,0158 gam loại Methamphetamine.
- - Lần 2: Khoảng 12 giờ ngày 18/3/2023, lực lượng công an bắt quả tang Phan Đăng K (T) điều khiển xe mô tô biển số 67E1 – 506. 35, thu giữ bên trong túi quần bên phải của K đang mặc 01 túi nhựa trong suốt, một đầu có rãnh khóa viền đỏ, chứa tinh thể màu trắng. K khai ma túy đá, của Đỗ Minh Đ (Đức Hai H), giá 6.000.000 đồng, cất giấu để bán cho người thanh niên (không rõ lai lịch), kiếm lời, lực lượng Công an tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ loại Methamphetnie, khối lượng 16,6308 gam; loại Heroine, khối lượng 3,4266 gam.
- - Lần 3: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 07/6/2023, Nguyễn Bá B điều khiển xe mô tô biển số 66K5 – 6914, có biểu hiện nghi vấn nên công an yêu cầu dừng xe, kiểm tra, phát hiện trong túi quần phía trước bên phải B đang mặc, có 01 túi nhựa trong suốt, một đầu có rãnh khóa viền màu đỏ, bên trong chứa tinh thể màu trắng, bên ngoài quấn băng keo màu vàng (giám định là ma túy, loại Methamphetnie). Bút khai ma túy đá, mua của Đỗ Minh Đ (Đức Hai H), giá 1.500.000 đồng, cất giấu để sử dụng, lực lượng Công an thành phố C, khởi tố, tạm giam Nguyễn Bá B, để điều tra, xử lý, loại Methamphetnie, khối lượng 2,4405 gam.
Quá trình điều tra:
- - H1 khai nhận: Bản thân bắt đầu tham gia mua bán trái phép chất ma túy từ khoảng 11/2022 cho đến ngày bị bắt. Nguồn ma túy H1 mua của Đỗ Minh Đ 04 lần, mỗi lần mua một bọc ma túy đá, giá tiền từ 500.000 đồng đến 2.800.000 đồng. Ngày 03/12/2022, H1 đến nhà Đ mua 01 bọc ma túy đá (50 số), giá 2.800.000 đồng. Trên đường đến điểm hẹn để giao ma túy cho người khác thì bị bắt quả tang.
- - Khoa khai nhận: Bản thân bắt đầu tham gia mua bán chất ma túy từ ngày 10/3/2023 cho đến bị bắt. Ma túy đá K mua của Đỗ Minh Đ khoảng 10 lần, mỗi lần 01 bọc ma túy đá, giá tiền 6.000.000 đồng; loại Heroine Khoa mua của người thanh niên lạ (không biết rõ họ tên và địa chỉ) khoảng 02 lần, mỗi lần 01 chỉ, giá tiền 3.800.000 đồng. Ngày 17/3/2023, K đến nhà Đ mua 01 bọc ma túy đá, giá 6.000.000 đồng. Nhận ma túy xong, K mang về nhà phân lẻ bán cho nhiều người, số ma túy còn lại cất giấu thì bị bắt quả tang.
- - Bút khai nhận: Bản thân bắt đầu tham gia mua bán trái phép chất ma túy từ khoảng đầu tháng 02/2023 cho đến ngày bị bắt. Ma túy Bút mua của Đỗ Minh Đ nhiều lần, mỗi lần mua từ 01 bọc ma túy đá (06 số) đến (25 số), giá từ 500.000 đồng đến 1.500.000 đồng. Ngày 07/6/2023, B đến nhà Đ mua một bọc ma túy đá giá 1.500.000 đồng, trên đường về nhà thì bị bắt quả tang.
- - T2 khai: Bản thân bắt đầu tham gia mua bán ma túy từ khoảng tháng 8/2022 cho đến ngày bị bắt (05/12/2022). Nguồn ma túy có để bán lại cho những người nghiện là do T2 mua của một người lạ mặt (không biết rõ họ tên, địa chỉ). Khoảng tháng 9/2022 cho đến ngày bị bắt (05/12/2022), T2 mua ma túy của của Đỗ Minh Đ 06 lần, mỗi lần mua 01 bọc ma túy đá (25 số) với giá tiền 1.000.000 đồng, thành tiền 6.000.000 đồng. Ngày 04/12/2022, Đ điện thoại cho T2 (không nhớ rõ số điện thoại), hỏi T2 có mua ma túy không. Do ma túy mua của Đ trước đó đã bán hết nên T2 đồng ý và hỏi mua 100 số ma túy đá với giá 3.500.000 đồng. Đ đồng ý và cho biết sẽ cho người mang ma túy đến giao. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Đ điện thoại lại cho T2, kêu T2 đến khu vực chợ R (thuộc khóm C, phường V, thành phố C) gặp người thanh niên dáng người gầy, điều khiển xe Wave màu xanh để nhận ma túy. Sau đó, T2 đến điểm hẹn gặp người thanh niên trên nhận bọc ma túy đá, được đựng trong bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khóa viền màu đỏ, bên ngoài được quấn băng keo màu đen. T2 mang ma túy về nhà và phân lẻ ra được 12 bọc ma túy đá để bán cho người nghiện. T2 cất giấu trong tủ đựng quần áo để trong nhà. Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 05/12/2022, lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện thu giữ 13,9325 gam Methamphetamine.
Quá trình điều tra, Đỗ Minh Đ không thừa nhận hành vi nhiều lần mua bán trái phép chất ma túy cho Đỗ Thị Ngọc H1, Phan Đăng K, Nguyễn Bá B, Nguyễn Thị Ngọc T2.
Vật chứng thu giữ: 02 điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo; 01 bình thủy tinh có gắn ống hút nhựa màu trắng bẻ cong; 01 túi giấy màu vàng, có 70 bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khóa, viền màu đỏ; 01 hộp nhựa màu trắng chứa xà bông và tinh thể màu trắng; 03 hộp giấy, chứa (20 ống thủy tinh trong suốt; 200 bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khóa, viền màu xanh; 200 bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khóa, viền màu đỏ).
Tại Cáo trạng số 70/CT-VKSCĐ- HS ngày 05 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang đã truy tố Đỗ Minh Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
Bị cáo Đỗ Minh Đ không thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố;
Phan Đăng K, Nguyễn Bá B, Nguyễn Thị Ngọc T2 đều xác định mua ma túy của bị cáo Đỗ Minh Đ (bị cáo đứng trước bàn khai báo).
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Căn cứ vào lời khai của H1, K, B; vật chứng thu giữ; kết luận giám định; biên bản nhận dạng thì đủ căn cứ để xác định: Đỗ Minh Đ có hành vi nhiều lần mua bán trái phép chất ma túy, tổng khối lượng thu giữ khi bắt quả tang là 27,0871 gam Methamphetamine. Việc bị cáo Đ không thừa nhận, khai nại là nhằm trốn tránh trách nhiệm. Do vậy, Cáo trạng số 70/CT-VKSCĐ-HS ngày 05/8/2024 của VKSND thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo Đỗ Minh Đ theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự
- - Hình phạt chính, đề nghị HĐXX, áp dụng: Điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đỗ Minh Đ từ 10 năm đến 12 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/10/2023.
- - Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đỗ Minh Đ bằng hình thức phạt tiền, từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
- Biện pháp tư pháp: Áp dụng các Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tuyên:
- - Số ma túy còn lại sau giám định và các vật chứng thu giữ trong vụ án không còn giá trị và là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
- - 02 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo không liên quan vụ án nên trao trả lại cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức đầu khung hình phạt Viện kiểm sát đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
[1] Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người làm chứng Đỗ Thị Ngọc H1 vắng mặt, bị cáo không yêu cầu triệu tập người làm chứng. Xét thấy, sự vắng mặt của người làm chứng H1 không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về nội dung:
[3] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Minh Đ không thừa nhận hành vi nhiều lần mua bán trái phép chất ma túy cho Đỗ Thị Ngọc H1, Phan Đăng K, Nguyễn Bá B, Nguyễn Thị Ngọc T2.
Xét thấy, tại phiên tòa, các bị án (Khoa, B, T2) đều khẳng định chính bị cáo đứng trước bàn khai báo là người bán ma túy cho họ nhiều lần. Mặt khác, căn cứ vào lời khai của H1, K, B; vật chứng thu giữ; kết luận giám định; biên bản nhận dạng trong quá trình điều tra, có sự phù hợp về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án;
Như vậy, có đủ căn cứ để xác định: Đỗ Minh Đ có hành vi nhiều lần mua bán trái phép chất ma túy, tổng khối lượng thu giữ khi bắt quả tang là 27,0871 gam Methamphetamine. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước, nên đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy với tình tiết định khung phạm tội 02 lần trở lên, có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Mức hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự từ 07 năm đến 15 năm tù.
[4] Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi vì ma túy là chất gây nghiện cực kỳ nguy hiểm, độc hại, gây ảnh hưởng rất lớn đến trật tự an toàn xã hội và sức khoẻ của cộng đồng. Do đó, pháp luật xử lý nghiêm hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị kết án về hành vi cùng loại, nhưng tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo là người rất coi thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải để hoàn lương. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hậu quả do bị cáo gây ra, để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: xét bị cáo Đ không tiền án, tiền sự, thuộc thành phần nhân dân lao động, học lực thấp, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Buộc bị cáo nộp phạt 40.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Số ma túy còn lại sau giám định và các vật chứng thu giữ trong vụ án không còn giá trị và là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
- - 02 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo không liên quan vụ án nên trao trả lại cho bị cáo.
[8] Các vấn đề khác:
Đối với: Đỗ Thị Ngọc H1, Phan Đăng K, Nguyễn Bá B, Nguyễn Thị Ngọc T2 đã bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trong vụ án khác.
Nguyễn Thị Ngọc T2 khai mua ma túy của Đỗ Minh Đ với khối lượng khi bị bắt quả tang là 13,9325 gam Methamphetamine. Tuy nhiên, Đ không trực tiếp giao ma túy cho T2 và ngoài lời khai T2 thì không còn chứng cứ nào khác để chứng minh Đ bán ma túy cho T2 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không quy kết trách nhiệm hình sự đối với Đ về khối lượng ma túy của T2 là có căn cứ.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; khoản 2 Điều 51; khoản 5 Điều 251, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Xử phạt: Đỗ Minh Đ 11 (Mười một) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam ngày 27/10/2023 (ngày hai mươi bảy, tháng mười, năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).
- Buộc bị cáo Đỗ Minh Đ nộp phạt 40.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
Căn cứ Điều 46, 47 và 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 bình thủy tinh có gắn ống hút nhựa màu trắng bẻ cong; 01 túi giấy màu vàng, có 70 bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khóa, viền màu đỏ; 01 hộp giấy, chứa (20 ống thủy tinh trong suốt; 200 bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khóa, viền màu xanh; 200 bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khóa, viền màu đỏ); 01 phong bì ghi vụ số 204/KL-KTHS (MT-GT) ngày 26/11/2003 (từ mục số 3 đến số 6);
- - Trả lại cho bị cáo 02 điện thoại hiệu ViVo (mục 1, 2);
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
Căn cứ vào Điều 135, 136 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lư Thị Châu Ngọc |
Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 100/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 11 năm tù
