TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG Bản án số:100/2024/HS-ST Ngày 19/9/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tưởng và ông Trần Thế Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phàn Thị Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy P - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 93/2024/TLST-HS, ngày 19 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thùy D, sinh ngày 12/8/1993 tại tỉnh Hà Giang.
Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Tổ dân phố A, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang;
Dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam;tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1971; chồng: Phạm Mạnh H, sinh năm 1989; con: có 03, lớn sinh năm 2012 con nhỏ sinh năm 2021.
- Tiền án; tiền sự: Không
* Nhân thân: Tại Bản án sơ thẩm số 14/HSST ngày 13/3/2014 của TAND huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xử phạt tiền đối với Nguyễn Thùy D về tội Đánh bạc.
* Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh T. (có mặt tại điểm cầu T tạm giam Công an tỉnh T).
-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Mạnh H, sinh năm 1989.
Nơi đăng ký HKTT: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi ở hiện nay: Thôn M, xã Q, huyện B, tỉnh Hà Giang (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 04/5/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy tổng hợp "dạng đá" nên Nguyễn Thùy D trú tại tổ dân phố A, phường T, thành phố T sử dụng điện thoại di động truy cập ứng dụng mạng xã hội Zalo gọi điện cho một người sử dụng tài khoản Zalo tên “H1” (là người Dung quen qua mạng xã hội, không rõ tên, tuổi, địa chỉ) hỏi mua 200.000 đồng ma túy tổng hợp "dạng đá". Người này đồng ý và hẹn D đến khu vực bến phà cũ thuộc tổ dân phố B, phường N, thành phố T để giao dịch mua bán ma túy. Sau đó, D điều khiển xe mô tô, biển số 22B2-723.17 (xe của Phạm Mạnh H - chồng D) đến khu vực trên thì gặp người đàn ông sử dụng Zalo tên H1, D đưa cho người này số tiền 200.000 đồng thì người đàn ông đưa lại cho D 01 gói ma túy tổng hợp (Methamphetamine) được bọc ngoài là túi ni lông màu trắng, trên mép có đường viền màu xanh. Sau khi mua được ma túy, D cầm trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi D đi đến khu vực đầu ngõ rẽ vào nhà (cạnh khách sạn M) thuộc tổ dân phố A, phường T, thành phố T thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T phát hiện, yêu cầu kiểm tra, D đã tự giác giao nộp gói ma túy trên. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với D vào hồi 23 giờ 45 phút cùng ngày; thu giữ, niêm phong vật chứng.
Tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với D kết quả (-) âm tính, không có chất ma túy trong cơ thể.
Kết luận giám định số 637/KL-KTHS ngày 08/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: tang vật thu giữ của Nguyễn Thùy D là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,200g (không phẩy hai không không gam).
Vật chứng: Cơ quan điều tra đã tạm giữ của Nguyễn Thùy D: 01 gói được gói ngoài bằng ni lông màu trắng, dạng túi zip, trên mép có đường viền màu xanh, bên trong chứa 0,200g (Không phẩy hai không không gam) chất ma tuý, loại Methamphetamine, sau giám định còn loại 0,15g (Không phẩy mười lăm gam) được niêm phong trong 01 bì dán kín, mặt trước bì ghi “Tang vật vụ Nguyễn Thùy D, giám định ngày 05/5/2024”, mặt sau trên các mép dán có chữ ký của Nguyễn Thùy D, thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại máy Galaxy A51, bên trong khe sim điện thoại lắp 01 sim V, số thuê bao “0383.962.922"; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave RSX, màu sơn trắng đen, biển kiểm soát 22B2-723.17.
Từ nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 95/CT-VKSTP ngày 19 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thùy D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Thùy D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Thùy D từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 04/5/2024. Về xử lý vật chứng. Tịch thu, tiêu hủy số ma tuý loại Methamphetamine còn lại sau giám định. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại máy Galaxy A51, bên trong khe sim điện thoại lắp 01 sim V, số thuê bao “0383.962.922”. Trả lại cho anh Phạm Mạnh H 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave RSX, màu sơn trắng đen, biển kiểm soát 22B2-723.17. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có công việc ổn định, không có thu nhập.
Tuyên án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo và quyền kháng cáo cho bị cáo Nguyễn Thùy D và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Phạm Mạnh H theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thùy D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục nhận tội, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, không có tình tiết gì mới; bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng K - Công an tỉnh T. Bị cáo không nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang về mức án đề nghị đối với bị cáo là cao, kiểm sát viên đối đáp, căn cứ vào quy định tại điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo bị truy tố theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c, H2, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Do bị cáo tàng trữ 0,200g (Không phẩy hai không không gam) chất ma tuý, loại Methamphetamine nên đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm luận tội và đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Nguyễn Thùy D từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì thêm và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Anh Phạm Mạnh H không tham gia tranh luận, nhất trí luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang
Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thùy D thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 04/5/2024, tại tổ dân phố A, phường T, thành phố T, Nguyễn Thùy D sinh năm 1993, trú tại tổ dân phố A, phường T, thành phố T đã có hành vi Tàng trữ trái phép 01 gói ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,200g, mục đích để sử dụng.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, mục đích để sử dụng cho nhu cầu nghiện ma túy của bản thân. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thùy D không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4]. Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân thường gây ra các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Năm 2014 bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xử phạt tiền đối với bị cáo về tội Đánh bạc nhưng bị cáo vẫn không cố gắng, không lấy đó là bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân. Vì vậy cần phải có mức hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo tại cơ sở giam giữ một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, khối lượng chất ma tuý mà bị cáo tàng trữ, cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để áp dụng đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, có căn cứ.
[5]. Về vật chứng: Đối với khối lượng ma túy còn lại (sau khi giám định) đã thu giữ của bị cáo được niêm phong theo quy định đây là vật chứng của vụ án thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại máy Galaxy A51, bên trong khe sim điện thoại lắp 01 sim V, số thuê bao “0383.962.922” do bị cáo sử dụng cho hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Đối với 01 xe mô tô 22B2 - 723-17 do anh H không biết việc Nguyễn Thùy D sử dụng xe mô tô đi mua ma tuý nên cần trả lại cho anh Phạm Mạnh H 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave RSX, màu sơn trắng đen, biển kiểm soát 22B2-723.17.
[6]. Đối với người đàn ông bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Thùy D vào ngày 04/5/2024 tại khu vực bến phà cũ thuộc phường N, thành phố T, do không xác định được họ, tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với anh Phạm Mạnh H, chủ sở hữu xe mô tô 22B2-723.17, anh H không biết việc Nguyễn Thùy D sử dụng xe mô tô đi mua ma túy nên không xem xét, xử lý.
[7]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thùy D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy"
- - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thùy D 01 (một) năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 05/5/2024.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu huỷ 0,15g (Không phẩy một năm gam) chất tinh thể màu trắng, (số còn lại sau khi giám định) cùng bao gói được niêm phong trong một phong bì giấy còn nguyên vẹn, mặt trước ghi: “Tang vật vụ Nguyễn Thùy D giám định ngày 05/5/2024”, mặt sau trên các mép dán có chữ ký của Nguyễn Thùy D cùng thành phần tham gia và 05 (năm) hình dấu của Phòng K - Công an tỉnh T.
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, loại máy Galaxy A51, màu đen, số IMEI 1: 3545955383112977, số IMEI 2: 355078743112978, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Bên trong khe sim điện thoại có lắp 01 sim Viettel số thuê bao “0383.962.xxx”, trên sim có dẫy số 89840 48000 93194 5561 được niêm phong trong một bì giấy còn nguyên vẹn, mặt trước ghi “Điện thoại di động của Nguyễn Thùy D”.
- - Trả lại cho anh Phạm Mạnh H 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave RSX, màu sơn trắng - đen, biển kiểm soát 22B2 - 723.17, số khung: RLHJA3859MY135410, số máy JA52E0307576 xe cũ đã qua sử dụng (được niêm phong theo quy định)
- Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 29/8/2024).
- Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thùy D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thùy D, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Phạm Mạnh H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |
Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 100/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình sự
