|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 100/2024/HS-ST Ngày: 18-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN
***
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Hoàng
Bà Lê Thị Kim Thoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 99/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Phạm Văn Bảo N, tên gọi khác: Không, sinh ngày 28/7/2003, tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: Ấp D, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở: Khu phố H, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L (chết) và bà Nguyễn Thị T; bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án: 01
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2023/HSST ngày 07/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện B xử phạt Phạm Văn B Ngọc 01 năm 03 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, đến ngày 12/01/2024 chấp hành xong hình phạt tù, chưa xóa án tích.
Nhân thân:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 90/2021/HSST ngày 15/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện B xử phạt Phạm Văn B N 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” đến ngày 12/6/2022 chấp hành xong hình phạt tù, khi phạm tội N dưới 18 tuổi nên không xem là án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/5/2024 đến ngày 17/5/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B cho đến nay (có mặt).
2. Trần Nhựt K, tên gọi khác: Đỏ, sinh ngày 14/9/2003, tại Long An; Nơi cư trú: Ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B1 và bà Phùng Thị Mỹ H; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2022/HSST ngày 18/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện B xử phạt Trần Nhựt K 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2022/HSST ngày 22/02/2022 xử phạt Trần Nhựt K 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt 03 năm tù, đến ngày 26/01/2024 chấp hành xong hình phạt tù, khi K thực hiện hành vi phạm tội 02 bản án nêu trên dưới 18 tuổi, nên không xem là án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/5/2024 đến ngày 17/5/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B cho đến nay (có mặt).
- Bị hại:
- Võ Linh T1, sinh năm 1996 (vắng mặt);
Địa chỉ: Nhà T, ấp H, xã L, huyện B, tỉnh Long An. - Nguyễn Anh Tuấn V, sinh năm 2001 (có mặt);
Địa chỉ: Số B Ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Lê Minh P, sinh năm 1983 (vắng mặt);
Địa chỉ: Số B đường B, khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An. - Lê Minh H1, sinh ngày 03/10/2008 (vắng mặt);
Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
Người đại diện hợp pháp theo pháp luật của Lê Minh H1: Bà Hà Ngọc L1, sinh năm 1981 (vắng mặt);
Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn Bảo N, Trần Nhựt K, Nguyễn Tấn B2 và người tên Q (chưa rõ nhân thân, lai lịch) là bạn bè quen biết ngoài xã hội, do cần tiền tiêu xài từ ngày 25/4/2024 đến ngày 06/5/2024 K cùng N, B2 và Q thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện B và huyện T, với tổng số tiền chiếm đoạt 20.233.000đ, trong đó N tham gia 01 vụ trộm cùng K và B2 chiếm đoạt 7.500.000đ, cụ thể:
Vụ thứ 1: Khoảng 08 giờ ngày 25/4/2024, K và Q thuê xe ôm đi từ xã T, huyện B đến nhà của Lê Minh H1 ở khu phố C, thị trấn T, huyện T mượn xe môtô loại Dream, màu nâu, biển số 62G1-090.12 của H1 để đi công việc, H1 đồng ý. Sau đó, K điều khiển xe mô tô 62G1-090.12 chở Q đi tìm tài sản người dân để sơ hở trộm bán lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 11 giờ 30 phút, K phát hiện xe mô tô loại Wave Alpha, màu xanh – đen – bạc, biển số 62L1-728.13 của anh Nguyễn Anh T2 V đang đậu trong chòi ở Ấp E, xã N, huyện T, lúc này anh V đang điều khiển Kobe cuốc đất cách chòi khoảng 100m, K và Q quan sát không thấy người trông coi xe biển số 62L1-728.13 nên dừng xe cách căn chòi khoảng 30m, K và Q đi bộ lại xe mô tô biển số 62L1-728.13 thấy xe không có chìa khoá và đang khoá cổ xe nên K và Q dùng chân đạp phá khóa cổ, K bứt dây Max khởi động xe mô tô biển số 62L1-728.13 giao xe cho Q chạy trước, còn K điều khiển xe 62G1-090.12 theo sau tẩu thoát. Trên đường đi, K tháo 02 biển số xe Wave alpha gắn biển số 62G1-090.12, xe Dream gắn biển số 62L1-728.13 tráo đổi biển số của hai xe cho nhau, K điều khiển xe Wave vừa trộm được gắn biển số 62G1-090.12, Q điều khiển xe Dream gắn biển số 62L1-728.13 chạy đến tiệm cầm đồ (không nhớ rõ địa chỉ) khu vực đường N, Thành phố Hồ Chí Minh cầm được 2.000.000đ, chia mỗi người 1.000.000đ tiêu xài cá nhân hết. Đến khoảng 13 giờ 30 cùng ngày anh V làm xong việc quay lại chòi thì phát hiện mất xe nên ngày 02/5/2024 anh V đến Công an xã N, huyện T trình báo.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 598/KL-HĐĐG ngày 27/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện T, định giá và kết luận: xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave Alpha, màu xanh – đen – bạc, biển số: 62L1-728.13 trị giá 12.733.000đ.
Quá trình điều tra, K không nhớ địa chỉ cầm xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave Alpha, màu xanh – đen – bạc gắn biển số 62G1-090.12 nên cơ quan điều tra không thu hồi xe được.
Vụ thứ 2: Đến khoảng 13 giờ ngày 06/5/2024, K rủ N đi tìm tài sản để trộm cắp bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, thì N đồng ý. N điều khiển xe môtô biển số 51P4-3959 đến đón K ở khu vực chợ B3 sau đó chở K đến một tiệm game bắn cá không tên ở Khu phố D, thị trấn B thì gặp Nguyễn Tấn B2, B2 biết K và N đi trộm cắp tài sản nên B2 tham gia đi trộm. B2 điều khiển xe biển số 51P4-3959 chở N ngồi giữa, K ngồi phía sau lưu thông trên đường T hướng thị trấn B về huyện Đ. Khi đến Nhà trọ T5, địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện B, B2 phát hiện xe môtô hiệu Honda Wave biển số 94K1- 310.16 của anh Võ Linh T1 đang đậu trước phòng trọ số 6, lúc này anh T1 đang ngủ trong phòng trọ, Bửu quan sát không có người trông coi xe nên B2 dừng xe ở gần Nhà T, N đứng ngoài xe cảnh giới, B2 và K đi bộ lại xe mô tô biển số 94K1- 310.16 thấy xe không có chìa khóa nên B2 quay lại N lấy chìa khóa xe rồi quay lại dùng chìa khóa xe của N mở khóa xe 94K1- 310.16 dẫn ra ngoài. N điều khiển xe 94K1- 310.16 vừa trộm được chở K, còn B2 điều khiển xe 51P4-3959 cùng nhau tẩu thoát. Sau đó B2 gọi điện thoại cho Lê Văn P1 nói cầm xe, P1 đồng ý, N điều khiển xe 94K1- 310.16 vừa trộm được đến gặp P1 cầm được số tiền 2.700.000đ, chia nhau mỗi người 900.000đ tiêu xài cá nhân hết. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày anh T1 ngủ dậy thì phát hiện mất xe, ngày 08/5/2024 anh T1 đến Công an xã L trình báo.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐG ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, định giá và kết luận: xe mô tô biển số 94K1-310.16 nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave Alpha màu xanh dương trị giá là: 7.500.000đ.
Tại Bản Cáo trạng số 97/CT-VKSBL ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Phạm Văn Bảo N, Trần Nhựt K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Văn Bảo N, Trần Nhựt K hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định, đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn Bảo N, Trần Nhựt K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Phạm Văn B Ngọc mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Trần Nhựt K mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Phạm Văn Bảo N, Trần Nhựt K.
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Đối với 01 xe môtô hiệu Honda Wave biển số 94K1- 310.16 do Lê Văn P1 giao nộp, xe thuộc sở hữu của anh Võ Linh T1, hiện cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T1 xong nên không đề nghị xem xét.
- Đối với 01 xe mô tô loại xe Wave màu vàng biển số 51P4-3959 do anh Đỗ Thành T3 đứng tên giấy chứng nhận, năm 2002 đã bán xe trên cho người bạn ngoài xã hội không nhớ rõ lai lịch. Bị cáo Phạm Văn Bảo N khai xe biển số 51P4-3959 của Phạm Văn Bảo T4 (anh ruột của bị cáo N), nhưng hiện tại T4 đã bỏ địa phương, chưa làm rõ chủ sở hữu xe nên đề nghị giao CQĐT tiếp tục tạm giữ xe xác minh, làm rõ xử lý sau.
- 01 áo khoác màu đen, 01 nón kết lưỡi trai màu đen, 01 quần jean dài màu xanh, 01 đôi dép lào màu xanh của bị cáo Trần Nhựt K mặc khi thực hiện trộm cắp tài sản, tại phiên toà bị cáo không yêu cầu nhận lại và không còn giá trị nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động Redmi đã qua sử dụng của bị cáo Trần Nhựt K là công cụ dùng để phạm tội nên đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại anh Võ Linh T1 đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường thiệt hại; Lê Văn P1 không yêu cầu các bị cáo K, N trả lại tiền cầm xe; anh Nguyễn Anh T2 V yêu cầu bị cáo K bồi thường 12.733.000đ. Trước tòa bị cáo K đồng ý bồi thường cho anh V nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo biết hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung:
Lời khai nhận tội của các bị cáo Phạm Văn Bảo N, Trần Nhựt K tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trong quá trình điều tra, phù hợp với Bản ảnh hiện trường; phù hợp với bản kết luận về định giá tài sản số 598/KL.HĐĐG ngày 27/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T, tỉnh Long An, Bản kết luận về định giá tài sản số 25/KL.HĐĐG ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Long An và phù hợp với nội dung bản cáo trạng: Thấy rằng, các bị cáo Phạm Văn Bảo N, Trần Nhựt K là những người có tuổi đời còn rất trẻ, có đủ sức khỏe để học tập và lao động kiếm tiền nuôi sống bản thân, nhưng các bị cáo lại chây lười lao động, chỉ vì mục đích cá nhân muốn có tiền tiêu xài không phải bỏ sức lao động nên các bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của người khác đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cụ thể: Từ ngày 25/4/2024 đến ngày 06/5/2024, các bị cáo Trần Nhựt K, Phạm Văn Bảo N cùng Nguyễn Tấn B2 và Q (chưa rõ lai lịch) thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện B và huyện T, với tổng số tiền chiếm đoạt 20.233.000đ, trong đó bị cáo N tham gia 01 vụ trộm cùng bị cáo K và B2 chiếm đoạt 7.500.000đ, cụ thể: Vụ 1: khoảng 11 giờ 30 phút ngày 25/4/2024, bị cáo K và Q lén lút lấy trộm xe mô tô loại Wave Alpha, màu xanh – đen – bạc, biển số: 62L1-728.13 trị giá 12.733.000đ của anh Nguyễn Anh T2 V đang đậu trong căn chòi ở Ấp E, xã N, huyện T; Vụ thứ 2: Khoảng 13 giờ ngày 06/5/2024, các bị cáo K, N và B2 lén lút trộm xe môtô hiệu Honda Wave biển số 94K1- 310.16 của anh Võ Linh T1 trị giá 7.500.000đ đang đậu trước phòng trọ số 6 của Nhà T thuộc Ấp H, xã L, huyện B. Sau khi trộm xe các bị cáo K, N và B2, Q đem cầm lấy tiền tiêu xài cá nhân hết.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Phạm Văn Bảo N, Trần Nhựt K phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Phạm Văn Bảo N, Trần Nhựt K với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.
Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản mà các bị cáo Phạm Văn Bảo N, Trần Nhựt K gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, quyền này được pháp luật hình sự bảo vệ, nếu người nào cố tình xâm hại thì sẽ bị pháp luật trừng phạt. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm hại trực tiếp đến tài sản đang thuộc sở hữu của bị hại, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương.
Đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn không có phân công vai trò mà cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội cho đến khi bị bắt. Các bị cáo Phạm Văn Bảo N và Trần Nhựt K đã từng bị kết án về hành vi “Trộm cắp tài sản” nhưng không ăn năn hối cải, tu tâm làm lại cuộc đời mà lại tiếp tục phạm tội hành vi tương tự nên hành vi của các bị cáo N và K cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án phù hợp, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.
[5]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho các bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phạm Văn Bảo N có 01 tiền án chưa xoá án tích mà tiếp tục phạm tội đây là tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Nhựt K phạm tội 02 lần là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các Phạm Văn Bảo N, Trần Nhựt K thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo Trần Nhựt K có ông nội Trần Văn M được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Trước tòa, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6]. Xét quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị xử phạt tù và mức hình phạt đối với các bị cáo Phạm Văn Bảo N, Trần Nhựt K là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự và khoản 5 Điều 323 Bộ luật hình sự thì hành vi phạm tội của các bị cáo Phạm Văn Bảo N, Trần Nhựt K còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 50.000.000đồng. Tuy nhiên, xét thấy theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo có điều kiện kinh tế còn khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[8]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- 01 xe môtô hiệu Honda Wave biển số 94K1- 310.16 do Lê Văn P1 giao nộp, xe thuộc sở hữu của anh Võ Linh T1, hiện cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T1 xong nên không xem xét.
- 01 xe mô tô loại xe Wave màu vàng biển số 51P4-3959 do anh Đỗ Thành T3 đứng tên giấy chứng nhận, năm 2002 đã bán xe trên cho người bạn ngoài xã hội không nhớ rõ lai lịch. Bị cáo Phạm Văn Bảo N khai xe biển số 51P4-3959 của Phạm Văn Bảo T4 (anh ruột của bị cáo N), nhưng hiện tại T4 đã bỏ địa phương, chưa làm rõ chủ sở hữu xe nên giao CQĐT tiếp tục tạm giữ xe xác minh xử lý sau.
- 01 áo khoác màu đen, 01 nón kết lưỡi trai màu đen, 01 quần jean dài màu xanh, 01 đôi dép lào màu xanh của bị cáo Trần Nhựt K mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo không yêu cầu nhận lại và không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động Redmi đã qua sử dụng của bị cáo Trần Nhựt K không yêu cẩu nhận lại nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại anh Võ Linh T1 đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường thiệt hại; Lê Văn P1 không yêu cầu các bị cáo K, N trả lại tiền cầm xe; anh Nguyễn Anh T2 V yêu cầu bị cáo K bồi thường 12.733.000đ. Trước tòa bị cáo K đồng ý bồi thường nên ghi nhận buộc bị cáo K bồi thường cho anh Nguyễn Anh T2 V số tiền 12.733.000đ.
[10]. Đối với Nguyễn Tấn B2 cùng các bị cáo Trần Nhựt K và Phạm Văn Bảo N thực hiện trộm cắp tài sản đã được Cơ quan điều tra khởi tố bị cáo tuy nhiên trong quá trình điều tra B2 bỏ trốn, đối với tên Q cùng bị cáo K thực hiện trộm cắp tài sản chưa xác định được nhân thân nên Cơ quan điều tra ra Quyết định tách vụ án hình sự số 894/QĐ-ĐCSHS ngày 05/8/2024 để tiếp tục điều tra xử lý theo quy định.
[11]. Đối với Lê Văn P1 có hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội nhưng P1 khai không biết xe biển số 94K1- 310.16 do trộm cắp mà có, đồng thời chưa tìm được Nguyễn Tấn B2 là người trực tiếp liên lạc với P1 để cầm xe để làm rõ hành vi của P1, nên CQĐT tiếp tục làm rõ, xử lý sau là phù hợp.
[12]. Đối với Lê Minh H1 cho bị cáo Trần Nhựt K và Q mượn xe môtô loại Dream, màu nâu, biển số 62G1-090.12 nhưng H1 không biết bị cáo K và Q lấy xe làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên không xử lý là phù hợp.
[13]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Phạm Văn Bảo N, Trần Nhựt K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo Trần Nhựt K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn Bảo N, Trần Nhựt K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1.1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 50 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Phạm Văn Bảo N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 08/5/2024.
1.2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 50 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Nhựt K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 08/5/2024.
2. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tiếp tục tạm giam các bị cáo Phạm Văn Bảo N, Trần Nhựt K 45 ngày kể từ ngày tuyên án (18/9/2024) để đảm bảo thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Giao Cơ quan điều tra Công an huyện B tiếp tục làm rõ, xử lý 01 xe mô tô loại xe Wave màu vàng biển số 51P4-3959.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Redmi đã qua sử dụng.
- Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác màu đen, 01 nón kết lưỡi trai màu đen, 01 quần jean dài màu xanh, 01 đôi dép lào màu xanh.
(Tang vật trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện B đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06 tháng 9 năm 2024)
4. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự
Buộc bị cáo Trần Nhựt K bồi thường cho anh Nguyễn Anh T2 V số tiền 12.733.000₫.
Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
5. Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, 26 N ghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc các bị cáo Phạm Văn Bảo N, Trần Nhựt K mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Trần Nhựt K phải nộp 637.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
6. Án xử sơ thẩm công khai.
Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự các bị cáo Phạm Văn Bảo N, Trần Nhựt K, bị hại có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
“Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án."
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Kim Thảnh |
Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An về hình sự sơ thẩm về tội "trộm cắp tài sản"
- Số bản án: 100/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Trộm cắp tài sản"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Phạm Văn Bảo N, Trần Nhựt K phạm tội “Trộm cắp tài sản”
