|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 100/2024/DS-ST Ngày 17 - 9 - 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Diện
Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Thanh Trà và ông Phạm Xoa
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 17.9.2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 43/2024/TLST-DS ngày 29.01.2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58A/2024/QĐXXST-DS ngày 05.8.2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 62A/2024/QĐST-DS ngày 22.8.2024, giữa:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K. Trụ sở: 40 - 42 - 44 P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Văn T. Chức vụ: Chuyên viên Xử lý nợ T1 và Tài chính vi mô - Phòng xử lý nợ - Ngân hàng TMCP K. Địa chỉ: A - A N, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng. Quyết định ủy quyền số: 3368A/QĐ-NHKL ngày 21.08.2023 và Quyết định ủy quyền số: 3586/QĐ-NHKL ngày 11.9.2023 (có mặt).
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ni N - Sinh năm 1978. Địa chỉ: Tổ A, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 13.12.2023 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP K trình bày:
Ngày 04.10.2018, bà Nguyễn Thị Ni N có ký với Ngân hàng TMCP K (sau đây gọi là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế (Giấy đăng ký phát hành thẻ kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1). Căn cứ thu nhập của bà Nguyễn Thị Ni N, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng có hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng; lãi suất tại thời điểm phát hành thẻ là 22%/năm; lãi suất quá hạn bằng 100% lãi suất trong hạn; phí phạt chậm trả bằng 50% lãi suất quá hạn. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà Nguyễn Thị Ni N đã thực hiện 09 giao dịch với tổng số tiền 70.000.000 đồng; đã thanh toán được số tiền gốc là 45.637.648 đồng, tiền lãi là 8.957.404 đồng, tiền phí phạt chậm trả là 1.343.221 đồng và vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 07.7.2020.
Mặc dù, Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng bà Nguyễn Thị Ni N vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Nguyễn Thị Ni N vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 10.8.2020, Ngân hàng đã tạm ngừng quyền sử dụng thẻ đối với bà Nguyễn Thị Ni N.
Tính đến ngày 17.9.2024, bà Nguyễn Thị Ni N còn nợ Ngân hàng số tiền tổng cộng là 88.080.823 đồng (trong đó nợ gốc là 24.362.352 đồng, tiền lãi là 25.574.272 đồng; tiền phí phạt chậm trả là 27.549.567 đồng và tiền phí vượt hạn mức là 10.594.632 đồng). Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Ni N phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ như đã nêu trên và phải trả tiền lãi, phí phát sinh, kể từ ngày 18.9.2024 cho đến khi trả xong nợ theo thỏa thuận tại Hợp đồng.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Ni N đã được Tòa án thực hiện thủ tục thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định nhưng bà Nguyễn Thị Ni N không có ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K và cũng không đến Tòa án để giải quyết vụ việc.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP K giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc thanh toán tiền nợ gốc, tiền lãi chậm trả tổng cộng là 49.936.624 đồng. Ngân hàng TMCP K xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về thanh toán tiền phí tương ứng số tiền là 38.144.199 đồng.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Ni N đã được triệu tập để tham gia tố tụng nhưng vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Các đương sự đã được đảm bảo các quyền và thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K. Buộc bà Nguyễn Thị Ni N phải trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền gốc và tiền lãi tổng cộng là 49.936.624 đồng (trong đó nợ gốc 24.363.352 đồng, tiền lãi 25.574.272 đồng). Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K đối với yêu cầu thanh toán tiền phí tương ứng số tiền 38.144.199 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng TMCP K khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Ni N thanh toán nợ theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Bà Nguyễn Thị Ni N có nơi cư trú được xác định theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng tại tổ A, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng nhưng trong quá trình thực hiện hợp đồng bà Nguyễn Thị Ni N đã thay đổi nơi cư trú mà không thông báo cho bên Ngân hàng được biết. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Nguyễn Thị Ni N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ các Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về việc xác lập hợp đồng: Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số: 084/18/TC/0500-3793 ngày 04.10.2018 (bao gồm Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1) mà bà Nguyễn Thị Ni N ký với Ngân hàng TMCP K thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự theo quy định tại các Điều 117, 119 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và phù hợp với quy định của Luật các Tổ chức tín dụng tại thời điểm ký kết nên có hiệu lực pháp luật đối với các bên tham gia quan hệ hợp đồng.
[2.2] Xét yêu cầu thanh toán nợ của Ngân hàng TMCP K:
[2.2.1] Đối với tiền nợ gốc, tiền lãi chậm trả:
Mặc dù bà Nguyễn Thị Ni N vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K. Tuy nhiên căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng TMCP K2. Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế (loại thẻ Visa credit Classic) mà bà Nguyễn Thị Ni N ký với Ngân hàng có mục đích tiêu dùng với hạn mức 30.000.000 đồng; lãi suất 22%/năm; lãi suất quá hạn bằng 100% lãi suất trong hạn; phí phạt chậm trả bằng 50% lãi suất quá hạn (tương ứng 3,5% số tiền chậm trả, tối thiểu là 50.000 đồng và tối đa là 630.000 đồng); thời hạn thanh toán, số tiền thanh toán được thực hiện theo thông báo của Ngân hàng TMCP K. Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bà Nguyễn Thị Ni N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 70.000.000 đồng; đã thanh toán số tiền gốc là 45.637.648 đồng, tiền lãi là 8.957.404 đồng, tiền phí phạt chậm trả là 1.343.221 đồng.
Do bà Nguyễn Thị Ni N vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng TMCP K đã tạm ngừng quyền sử dụng thẻ và yêu cầu thanh toán nợ là đúng với quy định tại khoản 6.2 Điều 6; điểm i khoản 11.1 Điều 11 của Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1. Tính đến ngày 17.9.2024, bà Nguyễn Thị Ni N còn nợ Ngân hàng TMCP K số tiền là 49.936.624 đồng (nợ gốc 24.363.352 đồng, tiền lãi 25.574.272 đồng). Căn cứ vào thỏa thuận của các bên tại Điều 4 và khoản 6.2 Điều 6 của Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 thì bà Nguyễn Thị Ni N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Việc Ngân hàng TMCP K khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Ni N phải thanh toán nợ là phù hợp với quy định tại Điều 103 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024 và Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự 2015 cần được chấp nhận. Vì vậy, buộc bà Nguyễn Thị Ni N phải trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền tính đến ngày 17.9.2024 là 49.936.624 đồng và phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 18.9.2024 cho đến khi thanh toán xong nợ theo thỏa thuận tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ký kết ngày 04.10.2018.
[2.2.2] Đối với tiền phí:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ việc, Ngân hàng TMCP K yêu cầu bà Nguyễn Thị Ni N phải thanh toán tiền phí phạt chậm trả, phí phạt vượt hạn mức. Tuy nhiên tại phiên tòa ngày 17.9.2024, Ngân hàng TMCP K đã rút một phần yêu cầu khởi kiện về giải quyết các khoản tiền phí tương ứng số tiền là 38.144.199 đồng. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 và khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu thanh toán các khoản tiền phí của Ngân hàng TMCP K. Nếu sau này Ngân hàng TMCP K khởi kiện lại đối với phần yêu cầu đã rút thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do yêu cầu của Ngân hàng TMCP K được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị Ni N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tính trên số tiền phải thanh toán.
[4] Xét ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu về việc giải quyết vụ án phù hợp với quy định của pháp luật cũng như nhận định của Hội đồng xét xử cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm c khoản 1 Điều 217; các Điều 227, 228, 244, 266, 269 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Căn cứ Điều 100, 103 và 209 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024;
- - Căn cứ vào Điều 463 và 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
I. Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K đối với yêu cầu thanh toán các khoản tiền phí tương ứng số tiền là 38.144.199 đồng. Nếu sau này Ngân hàng TMCP K khởi kiện lại đối với phần yêu cầu đã rút thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
II. Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” của Ngân hàng TMCP K đối với bà Nguyễn Thị Ni N.
Buộc bà Nguyễn Thị Ni N phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP K số tiền tính đến ngày 17.9.2024 là 49.936.624 đồng. Trong đó: nợ gốc là 24.363.352 đồng và tiền lãi là 25.574.272 đồng.
Kể từ ngày 18.9.2024, bà Nguyễn Thị Ni N còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ký kết ngày 04.10.2018 cho đến khi trả xong nợ. Trường hợp trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thị Ni N phải chịu là 2.471.831 đồng. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP K số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 1.832.534 đồng theo Biên lai thu số: 00000195 ngày 23.01.2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
3. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP K có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Ni N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Văn Diện |
Bản án số 100/2024/DS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
- Số bản án: 100/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Buộc bà Nguyễn Thị Ni Na phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Kiên Long số tiền tính đến ngày 17.9.2024 là 49.936.624 đồng. Trong đó: nợ gốc là 24.363.352 đồng và tiền lãi là 25.574.272 đồng
