Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỎ CÀY BẮC

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 100/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16/9/2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Chí Hữu;
  2. Ông Huỳnh Hiếu Trung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Thịnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham gia phiên tòa: Bà Bùi Đinh Thị Huyền Đăng – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 206/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 210/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Võ Thị C, sinh năm: 1983;
  2. Địa chỉ: ấp V, xã K, huyện M, tỉnh Bến Tre.

  3. Bị đơn: anh Nguyễn Chí T, sinh năm: 1981;
  4. Địa chỉ: ấp V, xã K, huyện M, tỉnh Bến Tre.

(Chị C có yêu cầu giải quyết vắng mặt; anh T vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Võ Thị C trình bày:

Chị C và anh Nguyễn Chí T tự tìm hiểu và tự nguyện kết hôn. Anh chị đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K Tân. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng càng về sau những mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng ngày càng phát sinh. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng chị nhiều lần tìm cách tháo gỡ; cố gắng hàn gắn tình cảm để xây dựng gia đình hạnh phúc nhưng không có kết quả. Hiện nay, chị C, anh T đã ly thân. Trong thời gian ly thân, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người nấy sống không ai biết đến ai. Đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về nuôi con chung: chị C, anh T có 03 con chung là Nguyễn Thị Mỹ C1, sinh ngày 17/10/2001; Nguyễn Thị Mỹ L, sinh ngày 21/01/2006 và Nguyễn Chí K, sinh ngày 23/11/2015. Hiện nay, cháu C1 và L đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu K đang sống với chị C. Khi ly hôn, chị C yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu K; yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 3.000.000 đồng cho đến khi cháu K đến 18 tuổi.

Về chia tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị C không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.

Do bận công việc nên chị C yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt và không có khiếu nại về sau.

Anh T vắng mặt tại các phiên họp, phiên hòa giải và phiên tòa nên không có lời trình bày.

Tại bản tự khai ngày 08/8/2024 và ngày 20/8/2024, chị C trình bày: từ lúc chị nộp đơn khởi kiện đến nay, tình trạng hôn nhân giữa chị với anh T không có cải thiện. Chị C vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn với anh T. Trước đây, chị C yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 3.000.000 đồng đến khi cháu K đủ 18 tuổi nhưng nay chị không yêu cầu anh tâm cấp dưỡng nuôi con.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đề nghị:

Về thủ tục thụ lý cũng như quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định và tại phiên toà Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ Điều 21, 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị C với anh Nguyễn Chí T.

Về con chung: anh chị có 03 con chung là Nguyễn Thị Mỹ C1, sinh ngày 17/10/2001; Nguyễn Thị Mỹ L, sinh ngày 21/01/2006 và Nguyễn Chí K, sinh ngày 23/11/2015, hiện cháu K đang sống với chị C. Sau khi ly hôn chị C nuôi dưỡng cháu K; anh T chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu C1 và L đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: chị Võ Thị C khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Chí T. Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp về việc “Ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị C có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt; bị đơn anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Tòa án xét xử vắng mặt chị C, anh T là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Đối với yêu cầu ly hôn của chị C:

Chị C, anh T tự nguyện kết hôn vào năm 2001 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, anh chị được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 17/9/2001. Chứng cứ này là có cơ sở nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới, theo chị C, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng càng về sau những mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng ngày càng phát sinh. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng chị nhiều lần tìm cách tháo gỡ; cố gắng hàn gắn tình cảm để xây dựng gia đình hạnh phúc nhưng không có kết quả. Hiện nay, chị C, anh T đã ly thân. Trong thời gian ly thân, cả hai sống mỗi người một nơi, không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người nấy sống, tình hình sức khỏe, cuộc sống, sinh hoạt của nhau không ai biết đến ai. Chị C xác định không còn tình cảm với anh T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn. Đối với anh T, Tòa án đã triệu tập hợp lệ để tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do. Điều này có cơ sở khẳng định, anh T không còn tha thiết và không mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân với chị C. Tại bản tự khai ngày 08/8/2024 và ngày 20/8/2024, chị C trình bày: từ lúc chị nộp đơn khởi kiện đến nay, tình trạng hôn nhân giữa chị với anh T không có cải thiện; nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn không được tháo gỡ; vợ chồng chị vẫn còn ly thân. Đến nay, chị C vẫn còn giữ yêu cầu xin ly hôn với anh T. Từ các căn cứ nêu trên có cơ sở khẳng định, tình trạng của vợ chồng chị C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của chị C là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3] Về nuôi con chung: chị C, anh T có 03 con chung là Nguyễn Thị Mỹ C1, sinh ngày 17/10/2001; Nguyễn Thị Mỹ L, sinh ngày 21/01/2006 và Nguyễn Chí K, sinh ngày 23/11/2015. Hiện nay, cháu C1 và L đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu K đang sống với chị C. Khi ly hôn, chị C yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu K; không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh T vắng mặt không có lời trình bày nên Tòa án căn cứ vào các chứng cứ đã thu thập được để giải quyết. Xét thấy, theo lời trình bày của chị C xác định: từ trước đến nay cháu K sống với chị khỏe mạnh, chị C lo cho các cháu chu đáo và đảm bảo sự phát triển bình thường của các cháu. Ngoài ra, cháu K sống với chị C đã lâu, cuộc sống ổn định không nên thay đổi người nuôi con làm xáo trộn cuộc sống của các cháu. Vì vậy, cần giao cháu K cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Tuy nhiên, vì lợi ích của con chung sau này, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con.

[4] Về cấp dưỡng: chị C không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận. Tuy nhiên, vì lợi ích của con chung sau này, khi cần thiết chị C có quyền yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về chia tài sản chung và nợ chung: chị C xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Chị C không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc là có căn cứ nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: chị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị C xin ly hôn đối với anh Nguyễn Chí T;

* Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Võ Thị C với anh Nguyễn Chí T.

* Về nuôi con chung: giao con chung là Nguyễn Chí K, sinh ngày 23/11/2015 cho chị Võ Thị C trực tiếp nuôi dưỡng.

Hai con chung là Nguyễn Thị Mỹ C1, sinh ngày 17/10/2001 và Nguyễn Thị Mỹ L, sinh ngày 21/01/2006 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ghi nhận chị Võ Thị C không yêu cầu anh Nguyễn Chí T cấp dưỡng nuôi con.

Anh Nguyễn Chí T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền cản trở. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con; chị Võ Thị C có quyền yêu cầu anh Nguyễn Chí T cấp dưỡng nuôi con.

* Về chia tài sản chung và nợ chung: chị Võ Thị C xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Võ Thị C không yêu cầu anh Nguyễn Chí T cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.

2. Về án phí: chị Võ Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002853 ngày 01/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - UBND xã Khánh Thạnh Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

 

Lê Thị Minh Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 100/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 100/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Thị C ly hôn Nguyễn Chí T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger